Dưỡng sinh phục hồi chức năng

Tôi không hề hình dung cái người đã sáng lập ra phương pháp Dưỡng sinh phục hồi chức năng đang gây “tò mò” trong dư luận này lại là một ông già gầy yếu, hom hem như sắp từ giã cõi đời.

Ông ngồi trên chiếc ghế cũ kỹ trong một ngôi nhà cũ kỹ và đạm bạc như cuộc sống đơn sơ ông đang sống. Một cuộc sống cũng kỳ lạ như chính bản thân ông, nghĩa là khái niệm vật chất dường như không tồn tại ở trong ngôi nhà này, trong chính đời sống này. Nếu ai từng biết cách đây 3 năm ông phát căn bệnh ung thư bàng quang, và suốt trong 3 năm không hề dùng bất cứ một viên thuốc nào, ông đã chiến đấu với bệnh tật theo cách của mình rồi đến ngày gần đây nhất, trong một cơn đột quỵ do chảy máu, bệnh viện đã lắc đầu bó tay trả ông về mà ông vẫn hồi sinh trở lại.

Ông đã dành cho tôi hẳn 3 giờ để trò chuyện và giải đáp về phương pháp dưỡng sinh đem lại những khả năng kỳ diệu cho con người.

Việc người mù đã bỏ hai mắt vẫn có thể nhìn lại được nếu xét dưới góc độ khoa học quả là chuyện hoang đường. Thế nhưng, điều hoang đường ấy đã biến thành sự thật với một số người mù theo học phương pháp Dưỡng sinh phục hồi chức năng. Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin được giới thiệu cuộc trò chuyện với nhà văn Nguyên Bình giúp bạn đọc tham khảo:

– Thưa ông, ông chính là người sáng lập ra phương pháp Dưỡng sinh phục hồi chức năng?

Nhà văn Nguyên Bình (NB): Phương pháp này khởi nguồn từ Trung Quốc. Đầu năm 1995, tôi theo học phương pháp Tĩnh công ý thức của ông Hoàng Vũ Thăng. Tôi rất mê bởi phần thực pháp của nó rất hiệu quả, mang lại sức khỏe thật sự. Ví như các bệnh nan y mãn tính huyết áp, tiểu đường, rối loạn tuần hoàn não, suy thận… đều được đẩy lui. Khi tiếp cận với phương pháp, tôi bất ngờ có được kết quả nhìn không cần mắt. Tôi đã nghĩ ngay đến người mù và tìm đến Hội Người mù Việt Nam.

Chính ông Nhuận lúc đó là Chủ tịch Hội Người mù Việt Nam đã giúp tôi thành lập nhóm người mù tình nguyện theo tập phương pháp này. Chúng tôi đã khai mạc lớp vào ngày 28/10/1995 ở Côn Sơn trong đó có cô Nguyễn Thanh Tú. Nhưng sau 2 năm, tôi nhận thấy đây không phải là phương pháp đúng, nên tôi đã nghiên cứu và sáng lập ra phương pháp Dưỡng sinh phục hồi chức năng.

– Và ông đã giúp cho họ khai mở được Nhãn thần hay còn gọi là Huệ nhãn – con mắt thứ ba của nhà Phật?

NB: Cần phải nói lại cho rõ là khi theo tập thực pháp của Tĩnh công ý thức, bản thân tôi nhìn mà không cần mắt, và những người mù đa phần ít nhiều đều thấy lại được ánh sáng. Tất nhiên, tùy theo từng cá nhân có các mức độ nhìn khác nhau. Có người tập vài tháng đã nhìn thấy ngay, có người 5-6 tháng, thậm chí có người kẽo kẹt đến 2-3 năm vẫn chưa nhìn thấy. Riêng cô Tú không phải là trường hợp người mù nhìn thấy sớm nhất mà phải kể đến cô Trang, ông Bạo. Tú 4 tháng mới nhìn thấy. Tú không nhìn thấy thường xuyên, không nhìn rõ như Trang hay một số người khác nhưng cô ấy có những khả năng đặc biệt hơn người. Vấn đề đặt ra ở đây là vì sao người mù đã bỏ hẳn cả hai mắt vẫn có thể nhìn thấy được ánh sáng.
Thực tế các Lạt Ma ở Tây Tạng, hay các trường phái Yoga, luyện công ở Ấn Độ, con người có thể nhìn được một lúc ở cả 3 thì: Hiện tại – Quá khứ – Tương lai. Thế nhưng, hiện tượng nhìn bằng Huệ nhãn với hiện tượng người mù trong chương trình của thầy trò tôi nhìn thấy ánh sáng là hoàn toàn khác nhau. Khả năng tự nhiên dự trữ trong mỗi con người là vô cùng vô tận. Khi người mù đến với phương pháp, tập đúng phương pháp thì họ sẽ có chiếc chìa khóa mở cánh cửa khả năng đặc biệt của con người.

Tuy nhiên, hiện tượng người mù nhìn thấy ánh sáng không thể nói chính xác 100% được. Chúng ta bị ngôn ngữ trói buộc, các khái niệm trói buộc, việc người mù nhìn thấy ánh sáng vượt qua sự trói buộc của ngôn ngữ và các khái niệm, tiêu chí. Mà những gì vượt qua các khái niệm, tiêu chí thì chúng ta không thể giải thích được.

– Tại sao ông không theo phương pháp Tĩnh công ý thức nữa mà tách ra nghiên cứu và tìm tòi sáng lập phương pháp Dưỡng sinh phục hồi chức năng?

NB: Tôi đã say mê và dẫn tập người mù trong vòng 2 năm và kết quả rất khả quan. Khi theo học các bước cao hơn là linh pháp và hư pháp thì phát hiện ra phương pháp này gây cho người mù và người bệnh rơi vào ảo giác kinh khủng. Càng đi, tôi càng cảm thấy lạc lối. Bản thân tôi cũng đã dùng đến hư pháp và linh pháp để chữa bệnh. Hiệu quả thì rõ rệt ngay nhưng không bền, bệnh lui được một thời gian, khi trở lại bệnh càng nặng. Vấn đề đặt ra đối với tôi, người chịu trách nhiệm dẫn đầu về phương pháp, là phải xem lại phương pháp đó có đúng hay không. Bản thân người mù đã chịu đựng quá nhiều bi kịch, nếu vô tình dẫn họ vào thế giới hỗn mang, thần kinh hỗn loạn thì đó là một tội ác. Tôi làm chậm lại quá trình, vừa làm vừa gỡ cho mọi người thoát khỏi ảo giác và tìm tòi phương pháp tập mới.

– Ông có thể cho độc giả biết nội dung của phương pháp Dưỡng sinh này?

NB: Phương pháp có 3 bước. Bước thứ nhất là thở cơ thể. Bước thứ hai điều chỉnh cơ thể tự thở. Bước thứ 3 điều chỉnh cho các tế bào tự thở. Đây chính là nhịp sinh hóa của mỗi cá thể, và nó hòa đồng với vạn vật. Đây là chiếc chìa khóa để mở ra cánh cửa tự nhiên dự trữ trong cơ thể con người. Thức dậy nhịp sinh học trong cơ thể. Đưa con người trở về với khởi nguyên ban đầu. Tất cả những dự trữ mà tự nhiên ban cho con người đều có thể lấy lại được. Trong đó có các khả năng như tự chữa bệnh, và việc người mù nhìn lại được mà không cần mắt là một trong rất nhiều những khả năng đó.

Sau khi cùng các học trò theo chương trình được 11 năm, tôi rút ra kết luận: Không có một trường hợp nào con người gặp tai ương hoặc bệnh hoạn mà rơi vào tuyệt vọng. Đây là một phương pháp hoàn toàn mới, mỗi người mù, hay người bệnh đều có thể tự lo cho mình. Không có chuyện dựa vào một lực lượng siêu nhiên gì cả, không có bóng dáng của thần Phật, thần linh ở đây.

– Ông đã dẫn các học trò của mình theo đuổi phương pháp này 11 năm mà cho đến giờ các nhà khoa học vẫn “bó tay” trước phương pháp của ông. Ông nghĩ sao về điều này?

NB: Những người phản bác mạnh nhất rơi vào tầng lớp trí thức. Điều này tất yếu thôi vì tư duy của con người lặp đi lặp lại, trải qua hàng ngàn vạn năm đã trở nên khô cứng, người ta không thể tư duy theo một cách khác. Theo tôi được biết thì hiện nay không có một nhóm người thứ 2 nào làm phương pháp dưỡng sinh dành cho người mù. Ngay cả những Lạt Ma ở Tây Tạng, các trường phái Yoga ở Ấn Độ, việc nhìn không cần mắt, cũng chỉ cá thể họ có được mà không truyền lại cho một ai khác, không mang tính chất lợi ích cộng đồng.

Phương pháp của chúng tôi bất kỳ người mù nào, dân tộc nào, trình độ, lứa tuổi nào cũng học được. Phương pháp này có điểm đặc biệt là không phụ thuộc vào tri thức hiện nay nhân loại có, kể cả y học. Bởi vì khi đã bỏ 2 con mắt rồi, các nhà y học, hay nhãn khoa cũng bó tay. Có rất nhiều người, trong đó các nhà khoa học đã tìm đến thầy trò tôi. Ví như Giáo sư y khoa Vi Huyền Trác, nhà nghiên cứu tiềm năng con người Nguyễn Phúc Giác Hải, họ đã kiểm chứng và khẳng định việc nhìn không bằng mắt và người mù nhìn thấy ánh sáng là chuyện có thực nhưng chưa ai lý giải được vì sao.

– Tóm lại, phương pháp Dưỡng sinh phục hồi chức năng nghe có vẻ quá đơn giản, chỉ là 3 bước thở. Nó chẳng có gì ghê gớm, cao siêu cả, nhưng khả năng mang lại nghe ra vô tận thật đấy nhưng cái đích cuối cùng vẫn chưa thấy đâu, ngay cả với người sáng lập ra nó?

NB: Có nhiều người không tin vì thấy phương pháp này quá đơn giản. Họ nghĩ cứ phải thật rối rắm, phức tạp mới được. Chân lý thực ra vô cùng đơn giản, con người mãi vẫn không ngộ ra điều đó. Phương pháp này rất rõ ràng không có rút kinh nghiệm mà càng tập người ta càng nhận biết mình, thấu hiểu mình, thấu hiểu xung quanh. Tuy nhiên, thầy trò tôi vẫn chưa đi tới kết quả cuối cùng. Kết quả chúng tôi muốn nói tới, sẽ đạt tới đấy là việc đưa người mù nhìn lại được ánh sáng thực vật và giúp họ sinh hoạt được bình thường như một người sáng mắt. Đây không phải là khoa học viễn tưởng mà là của tương lai. Bởi kết quả đã xảy ra, đã có rồi, việc người mù nhìn thấy ánh sáng được lặp đi lặp lại nhiều lần trong nhiều năm nay, và ở rất nhiều người.

– Thế nhưng đến với một phương pháp mà chưa được khoa học kiểm chứng thì độc giả khó mà tin tưởng lắm.

NB: Không tin thì đừng tìm hiểu làm gì cả, tôi không bắt ai phải tin phương pháp của tôi. Nếu muốn kiểm chứng hãy lập một nhóm người mù tình nguyện, chúng tôi sẵn sàng hướng dẫn từ thiện trong 1 tháng, 2 tháng chắc chắn sẽ có kết quả cụ thể. Cuốn sách “Tôi mù?” của cô Thanh Tú đã ra mắt rồi, nếu ai muốn tìm hiểu kỹ hơn về phương pháp này có thể tìm mua sách đọc. Trong sách là những câu chuyện, trường hợp có thật. Và sách cũng hướng dẫn các bài tập để cho những ai không có điều kiện đến với chúng tôi có thể tự tập ở nhà. Chương trình mà chúng tôi theo đuổi là mang ánh sáng đến cho người mù, giúp người bệnh chữa bệnh nan y.

– Xin cảm ơn ông về buổi trò chuyện này!

Một thực tế hơn 10 năm nay, để theo đuổi phương pháp này, nhà văn Nguyên Bình đã bán gần hết đất đai nhà cửa, bỏ tiền tài trợ cho các lớp học của người mù ở Côn Sơn. Đến lúc này, nhà văn đã khánh kiệt, và không còn khả năng để mở các lớp học từ thiện như vậy. Số phận có lúc tưởng quá bi đát trong cuộc đời đầy những bất trắc và thiệt thòi của ông Nguyên Bình nếu có điều kiện chúng tôi sẽ đề cập đến ở một bài báo khác. Hy vọng hai bài báo này sẽ mang lại cho thầy trò ông một sự đồng cảm và chia sẻ của bạn đọc gần xa, để thầy trò ông có thể đi tiếp, và tìm đến cái đích cuối cùng con đường đã chọn.

Số điện thoại liên hệ Nguyễn Thanh Tú: 04.38311252

(Nguồn: cand.com.vn năm 2007)

Liên hệ

Nguyễn Văn San, 094 568 9573
ngvsan@gmail.com, facebook: ngvsan

Danh mục bài viết

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*