Ưng thuận sáng suốt trong y khoa

Nguyễn Văn Tuấn, ngày 16/4/2013

Thời gian gần đây, chúng ta đã nghe nhiều đến vấn đề y đức trong nghiên cứu khoa học. Vụ “nghiên cứu” ở Nghệ An hâm nóng vấn đề y đức. Một trong những đặc điểm của y đức trong nghiên cứu khoa học là bệnh nhân (hay đối tượng nghiên cứu) phải ưng thuận trước khi nhà khoa học đưa họ vào nghiên cứu. Không chỉ “ưng thuận” mà còn phải là ưng thuận sáng suốt.

Khái niệm ưng thuận sáng suốt có thể hiểu theo nghĩa ưng thuận trong lúc tĩnh táo, có đầy đủ thông tin. Nếu bệnh nhân đến khám bác sĩ, và bác sĩ thấy bệnh nhân là đối tượng lí tưởng cho công trình nghiên cứu của mình, bác sĩ có thể mời bệnh nhân tham gia. Trong tình huống đó, sự ưng thuận của bệnh nhân có thể xem là thiếu sáng suốt, vì bệnh nhân đang đặt ở tình thế bất lợi (là bệnh nhân của bác sĩ) và chưa được cung cấp thông tin đầy đủ. Ưng thuận thiếu sáng suốt còn áp dụng cho những trường hợp bệnh nhân quá đau nên kí bừa vào những văn bản mà họ không đủ tĩnh táo để xem và suy nghĩ.

Có người cho rằng bệnh nhân tín nhiệm bác sĩ và tin tưởng vào những phán quyết của bác sĩ mà không cần đặt câu hỏi là một điều đương nhiên. Dù vai trò của của người bác sĩ trong xã hội hiện đại ngày nay được bảo vệ bằng những quan điểm gọi là “truyền thống”, nhưng trong thực tế một mối quan hệ thụ động như thế không thể cho là đương nhiên được. Từ thế kỉ 17, quan hệ giữa bệnh nhân và bác sĩ được dựa vào mô hình trao đổi chiều ngang: bệnh nhân chỉ trả chi phí khi nào bác sĩ chữa bệnh thành công. Vào thời đó, mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân nằm trong một “hợp đồng chữa trị”, mà trong đó bác sĩ hứa sẽ chữa trị trong một thời gian bao lâu với một thù lao nào đó, và nếu bác sĩ vi phạm hợp đồng, bệnh nhân có quyền kiện họ ra tòa.

Đến thế kỉ 18, bác sĩ không chịu hợp đồng “chữa trị” mà chỉ nhận hợp đồng điều trị theo các phương pháp chính thống và “bảo vệ, phòng ngừa” cho bệnh nhân. Khi y khoa trở thành chuyên môn hóa trong nền y học hiện đại (như ngày nay), thì hợp đồng trả công theo kết quả điều trị không còn giá trị nữa. Địa vị của giới bác sĩ ngày nay trong các xã hội Tây phương, và đặc biệt là ở Mĩ, được xem là “allopath”, tức là thầy thuốc chữa bệnh theo phương pháp đối chứng, và là kết quả của một quá trình cạnh tranh, xung đột giữa các nhóm như y sĩ truyền thống, bà mụ, giải phẫu, v.v.

Ngay cả vào thế kỉ 19, bác sĩ ở Mĩ không được kính trọng bao nhiêu, và họ thường có lương thấp. Đến thế kỉ 20, y khoa trở thành một ngành nghề độc quyền và đi kèm theo một vài đặc lợi cũng như quyền thế. Bác sĩ Jay Katz cho rằng quá trình tranh dành để giành quyền thống trị của giới y khoa cũng giống như một quá trình tranh giành chính trị, mà trong đó bác sĩ dành quyền chi phối trong mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân.

Nhưng sự thống trị của giới bác sĩ và qui phục của bệnh nhân trong thế giới y khoa hiện đại bắt đầu thay đổi từ thập niên 50s. Ngày 22/10/1957, Chánh án Absalom F. Bray thuộc Tòa phúc thẩm California sáng tạo ra chữ “informed consent” mà tôi tạm dịch là “Ưng thuận sáng suốt”. Một người đàn ông bị tê liệt hai chân kiện bác sĩ của ông ra tòa vì vị bác sĩ này đã không báo trước cho ông biết nguy cơ bị tê liệt trong việc điều trị tật khập khiễng của ông. Trong lời kết luận cho phiên tòa, Chánh án Bray cho rằng bác sĩ có trách nhiệm phải thảo luận các yếu tố nguy hiểm liên quan đến các thuật chữa trị với bệnh nhân, và những thảo luận này nằm trong khuôn khổ mà ông gọi là ưng thuận sáng suốt. Ý kiến này khởi đầu cho một thời đại “ưng thuận với am hiểu” mà không một bệnh viện nào không dùng đến ngày nay trong các xã hội Tây phương.

Một vài trường hợp sau đây sẽ minh họa cho vấn đề thỏa thuận minh định. Iphigenia (không phải tên thật, mà chỉ mượn tên của một thần nữ người Hi Lạp) là một phụ nữ độc thân, 21 tuổi, phát hiện một bướu ở vú, và kết quả sinh thiết (tức biopsy) cho thấy đó là một bướu ác tính. Với lời khuyên của bác sĩ giải phẫu, cô đồng ý giải phẫu cắt bỏ vú (masterectomy). Tuy nhiên, vị bác sĩ đó không giải thích những hậu quả lợi và hại của cuộc giải phẫu, vì ông tin rằng tất cả các biện pháp chữa trị khác không có hiệu quả bằng giải phẫu. Nhưng khi ngày hẹn giải phẫu cận kề, vị bác sĩ bắt đầu nghi ngờ về lời khuyên của ông. Buổi chiều trước ngày giải phẫu, ông quyết định ngồi xuống cùng bệnh nhân và giải thích cặn kẽ lợi và hại, cùng các biện pháp chữa trị khác (như quang tuyến trị liệu) cho Iphigenia biết. Sau khi được giải thích Iphigenia quyết định hoãn lại cuộc giải phẫu, và thay vào đó cô đồng ý cắt bỏ cục bướu (thay vì cắt bỏ cả vú) và tiến hành trị liệu bằng quang tuyến. Cô ta hồi phục, và sau này có gia đình, sống một cuộc sống bình thường như bao phụ nữ khác.

Khi trường hợp của Iphigenia được đưa ra thảo luận giữa các bác sĩ, một cuộc tranh cãi gay gắt diễn ra. Tất cả đồng nghiệp của vị bác sĩ đó đều không đồng ý với cách xử lí của ông, vì họ cho rằng việc ông nói cho Iphigenia biếy lợi hại là phi lí. Tuy nhiên, khi bàn về phương án chữa trị, các bác sĩ này cũng bất đồng ý kiến với nhau một cách trầm trọng. Ai cũng bảo vệ phương án của mình và không đồng ý với phương án của các bác sĩ khác. Nói tóm lại, họ cho rằng phương án của cá nhân họ là tốt nhất, và các phương án khác thiếu hiệu quả.

Trường hợp thứ hai là bà Nancy Reagan, vợ của cựu Tổng thống Mĩ, Ronald Reagan. Khi phát hiện mình bị ung thư vú ở giai đoạn đầu, bà quyết định cắt bỏ vú. Bà lí giải như sau: “Lúc tôi quyết định chịu giải phẫu, có người – kể cả bác sĩ gia đình tôi – cho rằng tôi đã quyết định quá hấp tấp bằng cách chọn cắt cả vú thay vì chỉ cắt cái bướu và quang tuyến trị liệu. Tôi cực lực phản đối ý kiến đó, và nay tôi vẫn phản đối ý kiến đó. Đây là một quyết định mang tính rất cá nhân, một quyết định mà mọi phụ nữ phải lựa chọn, và người ta không nên phê bình quyết định của tôi. Đối với người khác, tôi đã quyết định sai; nhưng đối với tôi, quyết định của tôi là đúng. Có lẽ, nếu tôi còn ở độ tuổi 20 hay 30 và chưa có gia đình, tôi đã có một quyết định khác. Nhưng tôi đã có gia đình, có con, có cháu, và một ông chồng tuyệt vời.”

Qua hai câu chuyện này, ai cũng có thể thấy không những giá trị đạo đức khác nhau giữa cá nhân, mà nó còn có thể thay đổi theo thời gian. Một khi bác sĩ đồng ý chia sẻ thông tin và trách nhiệm cùng bệnh nhân, bệnh nhân có kiến thức phong phú hơn về những lựa chọn phương án trị liệu, và bác sĩ hiểu biết hơn về tiêu chuẩn đạo đức của bệnh nhân. Nói một cách ví von, khi xây một nhà máy năng lượng, các chi tiết kĩ thuật nên để cho các kĩ sư xử lí; nhưng quyết định có cần xây cái nhà máy đó hay không thì có một phần kĩ thuật, một phần xã hội và chính trị, và hai phần này không nên chỉ để cho kĩ sư quyết định.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *