Từ Huệ – 02 – chấp bút Bí Pháp Luyện Đạo

Hiền tài Nguyễn văn Mới, đạo hiệu Từ Huệ, tốc ký viên của Đức Hộ Pháp.

NHỮNG BÀI THUYẾT ĐẠO

Lúc còn trẻ, Từ Huệ đã muốn đem sức mình làm một điều gì đó giúp đạo. Khi đi tham dự những buổi lễ trong đạo, Từ Huệ nhận thấy những bài diễn văn của các chức sắc cao cấp, nhất là những bài ứng khẩu thì không được ghi lại. Đặc biệt những bài thuyết đạo của Đức Hộ  Pháp là vô cùng quí báu bởi vì, chúng ta cũng đã biết, theo Tân Luật Pháp Chánh Truyền trong Tam Kỳ Phổ Độ, các chức vụ bên Cửu Trùng Đài có thể được công cử lên. Nghĩa là các phẩm từ Lễ Sanh cho đến Giáo Tông có thể được thay thế. Trái lại, bên Hiệp Thiên Đài không có luật công cử, Hộ Pháp chỉ giáng linh một lần duy nhất, không có chuyện “bầu cử” Hộ Pháp khác. Do vậy lời thuyết đạo của Hộ Pháp dành cho chúng sanh trong suốt thất ức niên chỉ có lần này là lần duy nhất. Với ý nghĩ đó Từ Huệ lập chí lưu lời nói của Ngài. Từ Huệ rủ một số bạn cùng chí hướng đi học tốc ký. Cũng nên biết, lúc bấy giờ chưa có những loại máy ghi âm hiện đại, cho nên tốc ký là cách duy nhất có thể ghi lại một bài nói chuyện. Sau đó Từ Huệ lập ra một ban tốc ký chuyên ghi lại lời thuyết đạo của Hộ Pháp cũng như các chức sắc cao cấp khác.

Ghi tốc ký cũng có khuyết điểm nhất định. Nếu diễn giả nói nhanh quá, hoặc diễn đạt một ý tưởng quá phức tạp khó hiểu, thì tốc ký viên có thể ghi không đầy đủ. Để khắc phục yếu điểm này, Từ Huệ cặm cụi nghiên cứu và sáng tạo một phương pháp ghi tốc ký nhanh hơn. Ngoài ra, mỗi khi ghi tốc ký đều phân công ít nhất là hai tốc ký viên để bổ sung cho nhau. Mỗi bài ghi xong đều được trình lên cho Đức Hộ Pháp xem lại trước khi đánh máy sao ra làm nhiều bản để lưu trữ. Từ Huệ và các bạn cùng nguyện lòng nếu sau này có cơ hội, sẽ cho in các bài thuyết đạo này ra cho các thế hệ đời sau học hỏi.

Bây giờ trở lại thánh địa Tây Ninh với quyền đời trong tay, Từ Huệ quyết tâm lập công với đạo. Việc đầu tiên là thực hiện ước mơ thời trẻ tuổi của mình: in các bài thuyết đạo của Đức Hộ Pháp. Trước hết, Từ Huệ tìm lại các bạn trong ban tốc ký ngày xưa. Dù có vài vị đã quá cố, nhưng những người còn lại vẫn nhiệt tình mong đóng góp sức mình để thực hiện nguyện ước ngày trước. Sau đó lập ra một tiểu ban tình nguyện để thực hiện kế hoạch bao gồm:

1. Vận động các nhà hảo tâm muốn lập công với đạo đóng góp vật chất. Cụ thể là giấy, mực và các loại văn phòng phẩm cần thiết.

2. Tập trung các bài tốc ký, sắp xếp theo thứ tự thời gian, biên tập nếu cần. Lúc ấy người chịu trách nhiệm biên tập là Hiền Tài Nghĩa – (vốn ngoài đời là một Cử Nhân Văn Chương). Tuy nhiên việc biên tập vẫn dựa trên nguyên tắc càng trung thực với văn nói của Đức Hộ Pháp càng tốt. Sau khi Hiền Tài Nghĩa biên tập xong, Từ Huệ xem lại lần cuối trước khi cho đánh máy.

3. Các công việc đánh máy, quay ronéo đều được thực hiện ngoài giờ hành chánh bằng máy móc của văn phòng quận. Bởi đa số các vị tình nguyện làm việc đều là viên chức trong chánh quyền, nên phải làm tròn nhiệm vụ của mình trước, và sử dụng máy móc của văn phòng quận sẽ giảm đi một phần chi phí đáng kể.

4. Những quyển sách sau khi đóng bìa, được trao tặng cho các nhà hảo tâm có đóng góp tài chánh hoặc vật chất. Phần còn lại, thay mặt ban tốc ký, Từ Huệ trao tặng toàn bộ cho Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Từ đó trở đi, Hội Thánh có toàn quyền đối với bản quyền của các quyển sách này.

LỘ BÁT QUÁI

Hoàn thành tâm nguyện của mình, Từ Huệ không dừng lại, mà tìm cách để giúp đạo thêm nữa. Từ Huệ liên hệ với Hội Thánh và được biết rằng hệ thống đường xá của chợ Long Hoa đã bị biến dạng không theo qui hoạch ban đầu. Chợ Long Hoa là tài sản của Hội Thánh, chợ rất có qui củ, cụ thể như những ngày thuộc thập trai đều không được bán đồ mặn … Theo bản vẽ nguyên thủy thì những con đường xung quanh khu vực chợ được qui hoạch theo Bát Quái Đồ. Chợ lúc đầu chưa phát triển thì không có vấn đề gì xảy ra, nhưng khi có thêm nhiều người đến sinh sống thì người ta tự do cất nhà, lấn chiếm dần dần để rồi sau cùng, các con lộ Bát Quái biến mất. Tương truyền lúc còn Đức Hộ Pháp, ban quản trị chợ có trình báo với Ngài về tình hình lấn chiếm trái phép. Đức Ngài bảo rằng: “Thôi con, để sau này con cái Đức Chí Tôn về mở đường lại.”

Muốn mở lại các lộ Bát Quái, Từ Huệ phải vượt qua hai khó khăn: Một là, dời tất cả những nhà lấn chiếm đi nơi khác. Hai là, phải có một lực lượng máy móc làm đường hùng hậu.

Để giải quyết điểm thứ nhất, Từ Huệ lập một ban công tác hỗn hợp giữa chính quyền và Hội Thánh. Về mặt chính quyền, Từ Huệ xin cấp trên mở chiến dịch lập lại trật tự khu vực chợ Long Hoa. Về mặt đạo, Từ Huệ dùng ban công tác hỗn hợp vận động những gia đình có nhà nằm trên đường Bát Quái tự nguyện dời đi. Ban công tác dùng các bản đồ cũ để truy ra những cột mốc lộ giới. Những cột mốc này có khi bị lấp sâu dưới đất cả mét. Nói chung, khi được nghe giải thích hợp tình hợp lý, phần lớn những gia đình có nhà vi phạm lộ giới đều vui vẻ dời đi. Cũng có một số ít gia đình gặp khó khăn. Đối với những gia đình này, Từ Huệ dùng hàng viện trợ của Mỹ, vốn rất thừa thãi vào thời đó, để hỗ trợ họ trong việc dời nhà.

Điểm thứ hai là một khó khăn thật sự. Cần phải  huy động một lực lượng công chánh lớn để làm cho xong các con đường. Nếu không, thì hiện tượng lấn chiếm lại từ từ tái diễn và mọi chuyện sẽ trở lại như cũ. Tuy nhiên, trong quyền hạn ở cấp quận của Từ Huệ không có một lực lượng công chánh lớn. Xin cấp trên thì được trả lời là không có kinh phí cho một kế hoạch nhỏ ở quận. Nói chung về mặt chính quyền, còn nhiều kế hoạch lớn lao hơn cần được ưu tiên. Nếu bây giờ vận động quyên góp thì số tiền thuê mướn cơ giới chuyên dụng lại quá lớn.

Tuy nhiên, nhờ thiêng liêng trợ giúp nên Từ Huệ có một cơ hội khác: Lúc ấy, có lực lượng quân đội Philippines sang Việt Nam làm công tác xây dựng. Đây là một lực lượng công binh nên có đầy đủ các máy móc cần thiết phục vụ công tác xây cầu làm đường. Họ đóng quân ở Tây Ninh và gần như không có việc gì làm, bởi vì trên nguyên tắc họ chỉ giúp về mặt kỹ thuật chứ không hỗ trợ tài chính. Ví dụ như chính phủ Việt Nam muốn làm một con đường, họ sẽ điều động xe cộ, lực lượng lao động, nhưng vật liệu xây dựng thì chính phủ Việt Nam phải bỏ tiền ra mua. Ngân sách chính phủ lúc ấy lại hạn hẹp nên không có nhiều kế hoạch củng cố hạ tầng cơ sở. Đó cũng là một trong những lý do những người lính công binh này tương đối rảnh rỗi. Nhờ bạn bè giới thiệu, Từ Huệ làm quen với viên chỉ huy là Thiếu Tướng Tobias. Sau khi nghe Từ Huệ trình bày kế hoạch mở các lộ Bát Quái, viên Tướng Philippines rất thích. Đây là dịp để ông ta vừa quảng bá được lực lượng của mình, vừa ghi điểm công tác với cấp trên. Về mặt vật liệu, Từ Huệ chỉ yêu cầu san ủi đường và trải đá đỏ vốn có rất nhiều ở Tây Ninh, vì thế kinh phí không tốn nhiều lắm.

Vậy là Từ Huệ tổ chức một buổi lễ ra quân rầm rộ có sự tham dự của các lực lượng quần chúng, có các phóng viên báo chí chụp ảnh, quay phim, đưa tin trên các hệ thống truyền thanh. Cuối cùng, các lộ Bát Quái đã được phục hồi nguyên trạng theo đúng bản đồ của Hội Thánh ngày xưa.

TRÍ HUỆ CUNG

Theo dòng lịch sử, ở Việt Nam cứ mỗi lần có một chính quyền thế tục mới, là mỗi lần tài sản của Hội Thánh bị chiếm dụng, rồi về sau người ta lại trả lại cho Hội Thánh. Điều này không có gì mới, ngày trước chính quyền Pháp cũng đã từng chiếm dụng Đền Thánh – lúc đó xây dựng mới được nửa chừng – và dùng Đền Thánh làm garage chứa xe quân đội. Trước khi Từ Huệ về nhậm chức ở Phú Khương,  chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã trưng dụng nhiều tài sản của Hội Thánh. Trong số đó có Trí Huệ Cung được dùng làm nơi đóng quân cho lực lượng Nghĩa Quân. Đồn Nghĩa Quân này vốn nằm trong quyền hạn của Từ Huệ, do đó Từ Huệ tìm cách trả Trí Huệ Cung lại cho Hội Thánh.

Đây là một điểm cực kỳ khó, bởi việc này dính dáng đến mặt chiến lược quân sự và chính trị. Nếu sau khi dời đi, có hậu quả gì xấu về mặt quân sự và chính trị trong vùng thì chắc chắn Từ Huệ sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm với cấp trên. Rõ ràng không thể nào đề nghị cấp trên dời đồn Nghĩa Quân đi với lý do là trả Trí Huệ Cung lại cho Hội Thánh. Lý do này không thể nào thuyết phục được cấp trên bởi lúc đó quân sự và chính trị được xem là quan trọng hơn bất cứ lý do nào khác. Nhưng cũng như những lần trước, thiêng liêng luôn hỗ trợ Từ Huệ trong việc giúp đạo.

Vào lúc đó, chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đang thực hiện một chiến dịch xây dựng các Ấp Đời Mới. Địa phương nào có kế hoạch lập các ấp đời mới theo qui hoạch của chính quyền sẽ được hỗ trợ về mọi mặt, nhất là mặt tài chính. Nhân dịp này, Từ Huệ lên kế hoạch lập Ấp Đời Mới Trường Lưu có vị trí cách xa Trí Huệ Cung khoảng vài cây số. Một Ấp Đời Mới theo đúng qui hoạch phải có đầy đủ chợ, trường học, cơ quan hành chính, do đó cần phải có lực lượng quân sự ở gần đó để bảo vệ. Theo kế hoạch này thì Từ Huệ đã có lý do để dời đồn Nghĩa Quân ra khỏi Trí Huệ Cung, đến gần chợ Trường Lưu để bảo vệ vị trí chiến lược mới này.

Không cần phải nói đến những nỗ lực vận động sâu rộng của Từ Huệ về mặt chính quyền để kế hoạch được trôi chảy, mà Từ Huệ còn phải đối mặt với sự chống đối của người dân tại chỗ, bởi vì họ phải từ bỏ những quyền lợi về đất đai tài sản. Cuối cùng Từ Huệ cũng thành công trong việc dời đồn Nghĩa Quân đi để giao quyền quản trị Trí Huệ Cung lại cho Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh.

ĐẠI LỘ CHÁNH MÔN

Từ Huệ còn ba ước muốn nữa: một là trả Quận Đường Phú Khương (Dinh quận) lại cho Hội Thánh – vì đây là nơi Hội Thánh qui hoạch làm Trường Đại Học Cao Đài – hai là làm Đại Lộ Chánh Môn, và ba là xây dựng Vạn Pháp Cung. Tuy nhiên chỉ có Đại Lộ Chánh Môn được thực hiện dang dở, dấu tích vẫn còn đó cho đến nay (2007).

Trước Chánh Môn Đền Thánh Tây Ninh, ngày xưa Đức Hộ Pháp đã qui hoạch một đại lộ rộng đến 80 mét, và cũng như trường hợp các con lộ Bát Quái ở chợ Long Hoa, người dân đã chiếm dụng làm nhà ở từ lâu. Từ Huệ cũng lập một ban công tác hỗn hợp giữa chính quyền và các chức sắc trong đạo làm lại con đường theo qui hoạch nguyên thủy của Hội Thánh. Nhưng việc còn đang dở chừng thì phải tạm ngưng vì nhiều lý do. Lý do cụ thể trước mắt là Đại Lộ vấp phải hai trở ngại quan trọng. Một là phải vượt qua một Nhà Thờ Tin Lành, hai là vượt qua một khu dân cư mà trong đó có nhà của Thầy học thuở nhỏ của  Đức Hộ Pháp. Khi Từ Huệ đến tham khảo ý kiến của Nhà Thờ Tin Lành, thì vị Mục Sư ở đó rất vui vẻ cho biết: anh vui lòng dời nhà thờ đi chỗ khác miễn là Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh cho anh một mảnh đất tương đương. Điều này thì Hội Thánh có thể thực hiện được dễ dàng. Nhưng khi đến nhà Thầy học cũ của Đức Hộ Pháp thì tình hình trái ngược hẳn! Thầy đã mất từ lâu, mộ phần ở ngay trước sân nhà, và con cháu của Thầy cương quyết không chịu dời đi đâu cả dưới bất cứ điều kiện nào. Đến đây thì kế hoạch đành phải đình lại vô thời hạn.

VÙI DẬP CUỘC ĐỜI

Trong lúc đang tiến hành mọi việc trôi chảy thì bỗng một hôm Bát Nương giáng cơ cho mấy câu thơ sau:

Danh lợi mà chi hỡi các con
Ba năm thì mất chớ đâu còn
Hãy về lập nghiệp trong lòng đạo
Danh thể ngàn năm tiếng vẫn còn

Đặc biệt, trong một lần giáng cơ, Bát Nương dạy rằng:

Hôm nay, được sự đồng ý của Hộ Pháp, Bát Nương truyền cho Từ Huệ cách thức chấp bút. Từ trước đến giờ Bát Nương và Hộ Pháp chưa từng truyền cho ai, nay truyền cho Từ Huệ để sau này muốn cầu Bát Nương thì không cần phải đủ ba người như hiện nay nữa.

(ba người đó là Từ Huệ và Diệu Minh phò cơ, Từ Chơn ghi chép)

Sau đó, Bát Nương chỉ dạy cho Từ Huệ cách chấp bút rất cặn kẽ, còn bảo Từ Huệ đem giấy bút ra thực hành cho quen. (Đến đây, tác giả không thể nói rõ cách thức chấp bút được, vì không có lệnh Bát Nương cho phổ biến. Thành thật xin lỗi đọc giả.)

Lần ngón tay tính lại, thấm thoát đã ba năm trôi qua từ khi Từ Huệ nhậm chức Quận Trưởng Phú Khương. Lại thêm được truyền dạy cách chấp bút nên Từ Huệ biết bài thơ vừa nêu trên là lời tiên tri của Bát Nương cho những điều bất hạnh sắp xảy ra cho gia đình, có điều vẫn chưa biết đó là điều gì.

Suy ngẫm lại kể từ khi về Tây Ninh với ý muốn giúp đạo, Từ Huệ chỉ biết vùi đầu vừa lo công tác vừa lo chuyện đạo. Những chuyện giúp đời xin miễn kể ra đây, bởi vì đối với Từ Huệ, đó chỉ là những yếu tố phụ. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu những điều Từ Huệ làm là vì đạo cho nên có người thương mà cũng có kẻ ghét. Cụ thể, xin kể ra một vài truyện nhỏ để cho câu chuyện thêm phần thú vị.

Khi làm lại các con lộ Bát Quái ở chợ Long Hoa, Từ Huệ phải cùng các chức sắc Hội Thánh đến vận động người dân dời nhà đi chỗ khác. Mặc dù những gia đình này chiếm dụng đất cất nhà, nhưng họ không khỏi cảm thấy đụng chạm quyền lợi. Thế nên tất yếu phải có một số người đem lòng oán giận. Về mặt lý, họ biết là họ đã làm sai, nhưng vì giận quá mất khôn, họ tạo ra những lý do rất buồn cười để chống đối. Một trong những người như vậy đã có hành động gây xôn xao dư luận Phú Khương một thời: ông ta vào Đền Thánh, leo lên cột phướn trước cửa đền, treo mình, nhịn ăn và dọa nhảy xuống đất tự tử để phản đối ông Quận Mới (Từ Huệ). Ông ta viết một tâm thư gửi cho Hội Thánh nói rằng: “Ngày xưa Đức Hộ Pháp có nói …để sau này con cái của Đức Chí Tôn về mở lại lộ Bát Quái… nay ông Quận Mới mở đường là không đúng. Yêu cầu Hội Thánh ngăn chận kịp thời.” Dĩ nhiên không có ai đồng tình với ông ta và đến cuối ngày, ông ta cũng phải leo xuống vì …mệt và đói.

Những chuyện linh tinh như thế cũng khá nhiều nhưng cũng chẳng hại Từ Huệ gì lắm. Cuối cùng chính “chốn quan trường hiểm ác” đã đánh gục Từ Huệ sau đúng ba năm cầm quyền. Lúc đó, dưới quyền Từ Huệ có một người tên là Nguyễn Đồng Di. Hắn ta mang cấp bậc Thượng Sĩ trong quân đội và là một tên cờ bạc bịp có hạng. Hắn chuyên sinh sống bằng cách mở sòng bạc tại nhà, rồi dụ dỗ những người lính có máu mê cờ bạc đến đánh bài. Dĩ nhiên những nạn nhân này cuối cùng đều thua sạch túi. Vì vợ những người lính này đến khóc lóc xin Từ Huệ  giúp đỡ, nên Từ Huệ cho mời tên Di đến, dùng lời lẽ êm dịu khuyên giải hắn ta bỏ nghề cờ bạc bịp. Hắn rất sốt sắng hứa sẽ bỏ và còn thề thốt đủ thứ, cụ thể là “Nếu Đại Úy còn bắt được tôi đánh bài, thì cứ nhốt tôi vào chuồng cọp”. – Chuồng cọp là một loại cũi rào bằng kẽm gai ở ngoài trời dùng để giam những quân nhân phạm luật. Sở dĩ đặt ở ngoài trời là để bêu xấu người phạm luật, làm cho họ cảm thấy xấu hổ mà chừa lỗi ra.

Nhưng chúng ta cũng biết, trong số những người cờ bạc, số người từ bỏ được đam mê này hầu như rất ít. Tên Di lại tiếp tục vi phạm. Đến khi bị bắt quả tang lần thứ hai, Từ Huệ cho nhốt hắn vào chuồng cọp. Hành động này một mặt cho khớp với lời thề của tên Di, một mặt là làm đúng theo quân luật thời bấy giờ. Kết quả là: hắn đem lòng thù hận và tìm cách trả thù.

Một thời gian sau, hắn thu thập chứng cứ, tài liệu và tiến hành thủ tục thưa Từ Huệ ra tòa về tội tham nhũng. Tòa Án Quân Sự lúc bấy giờ cho điều tra nội vụ, và sau ba tháng làm việc, Tòa đã cho xếp hồ sơ vì những chứng cớ của Nguyễn Đồng Di đều không có giá trị pháp lý.

Nhưng, chuyện đời nếu đơn giản như vậy thì cuộc đời này đẹp đẽ biết chừng nào! Cũng vào năm đó chính quyền miền Nam cho tổ chức bầu cử Tổng Thống. Đương kim Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là một trong số những ứng cử viên. Ở những nước kém phát triển như Việt Nam, thì Tổng Thống tái đắc cử là chuyện đương nhiên! Nhưng để cho chắc ăn, Tổng Thống Thiệu bí mật ra lệnh cho các Tỉnh Trưởng phải bảo đảm Tổng Thống Thiệu đạt số phiếu tối đa ở các đơn vị bầu cử. Những vị Tỉnh Trưởng này sau đó cứ lệnh miệng cho thuộc cấp tạo ra kết quả bầu cử sao cho có lợi cho Tổng Thống Thiệu.

Kết quả bầu cử năm đó trong toàn tỉnh Tây Ninh, Tổng Thống Thiệu đạt kết quả cao nhất. Riêng đơn vị bầu cử quận Phú Khương do Từ Huệ chịu trách nhiệm thì ứng cử viên đạt số phiếu bầu cao nhất lại là Luật Sư Trương Đình Dzu. Thực sự người dân cũng không biết ông luật sư Dzu này như thế nào, nhưng thấy ông ta lấy biểu tượng “Chim Bồ Câu Trắng” nên cứ ngây thơ dồn phiếu cho ông ta, hy vọng ông ta đem lại hòa bình cho đất nước! Khi nghe báo cáo sơ khởi như thế thì Tỉnh Trưởng Tây Ninh lúc bấy giờ có nhắc nhở Từ Huệ nên thay đổi kết quả bầu cử kẻo mích lòng “cấp trên”. Từ Huệ không đồng ý, vì cho rằng một Tổng Thống anh minh cũng nên biết sự thật về lòng dân để có những chính sách phù hợp hơn.

Dĩ nhiên, kết quả này làm Tổng Thống Thiệu để ý và sau đó ông ta ra lệnh tìm cách thay Từ Huệ càng sớm càng tốt. Cách hợp pháp nhất là tìm xem Từ Huệ có phạm một lỗi lầm gì đó không. Thế là những đơn thưa của Nguyễn Đồng Di được đem ra xét lại, và lần này người ta đã có một hướng cụ thể: đó là bới lông tìm vết để loại trừ Từ Huệ ra khỏi bộ máy chánh quyền. Và việc đầu tiên là người ta ngưng chức Quận Trưởng của Từ Huệ chờ điều tra. Tưởng cũng nên nói thêm, Tướng Lê Nguyên Khang, người đỡ đầu cho Từ Huệ ngày xưa, đã bị thuyên chuyển đi nơi khác. Ngoài ra trong lúc tại chức, Từ Huệ không chịu làm một điều quan trọng trong “đạo làm quan”. Đó là phải gia nhập băng nhóm, để lúc suy thời có người chạy chọt cho mình; không những thế mà còn phải tích góp một số tài sản phòng khi thất vận mà lo lót quan trên. Do không còn ai hậu thuẫn nên Từ Huệ chỉ còn biết cầu nguyện với ơn trên che chở mà thôi.

Đây là thời gian gia đình Từ Huệ rơi vào khủng hoảng. Khi không còn quyền lực trong tay, bạn bè, thậm chí những người thân đều rời xa. Gia đình bị thiếu hụt tài chính nghiêm trọng, lắm khi không có tiền đi chợ. May nhờ người anh thứ ba của Diệu Minh là Trương Trung Tín, một Chánh Trị Sự trong đạo, hết lòng giúp đỡ nên cũng thoát được cảnh khó khăn. Lúc này người con thứ bảy ra đời. Từ Huệ và Diệu Minh quyết định đặt tên là Nguyễn Thanh Liêm để kỷ niệm những năm tại chức ở Phú Khương, ngụ ý rằng trong thời gian tại chức, mình chỉ lo cho đạo chứ không biết thu quén gì cho bản thân. Bát Nương cũng ban cho đạo hiệu là Từ Liêm.

Bản thân Từ Huệ vô cùng nản chí vì tình đời đen bạc. Điều quan trọng là Từ Huệ không còn tin tưởng vào hệ thống chính quyền lúc đó nữa. Mọi lý tưởng mà người ta rao giảng trên các hệ thống truyền thanh giờ đâm ra là những lời nói dối trá. Rốt cuộc rồi thì người tốt cũng không được tưởng thưởng gì, chỉ có kẻ mưu mẹo gian trá hoặc có thế lực, tiền tài mới sống phây phây thoải mái. Có lúc quá chán nản với chế độ hiện hữu, Từ Huệ muốn trốn ra bưng, theo những người Cộng Sản. Dù ý nghĩ này chỉ mới chớm nở trong đầu Từ Huệ, nhưng Bát Nương đã giáng cơ dạy:

Không được đâu, con không thể sống chung với những người vô thần. Còn những quan chức hiện nay như người mê ngủ. Đời sắp tới một khúc quanh lớn mà họ đâu có biết. Con còn phải đi học một năm nữa, định trốn sao?

Sau này mới rõ, “đi học một năm” là tiên tri một năm Từ Huệ phải lâm vào vòng lao lý. Còn “khúc quanh” đó là tiên tri cho ngày 30-4-1975, xảy ra khoảng sáu bảy năm sau đó.

Đúng theo lời tiên tri, sau đó không lâu có lệnh tạm giam Từ Huệ tại Quân Lao Gò Vấp để tiếp tục điều tra. Sau một năm tạm giam, Từ Huệ được đưa ra Tòa Án Quân Sự xét xử và tòa tuyên án một năm tù treo. Nhưng trước đó Luật Sư bào chữa cho Từ Huệ đã cho biết trước kết quả này. Anh ta nói rằng mặc dù không tìm ra được Từ Huệ vi phạm điều gì nhưng vẫn phải tuyên án tù treo một năm. Nếu không, họ sợ Từ Huệ kiện ngược lại về vụ tạm giam một năm vô nguyên cớ.

Thế rồi sau một năm tạm giam, Từ Huệ được trả về cho Bộ Tổng Tham Mưu. Người ta lại phân công Từ Huệ ra Vùng II Chiến Thuật. Vào lúc đó cuộc chiến ở Việt Nam đã lên đến cao điểm, nặng nề nhất là ở Vùng I và II. Ra vùng II vừa gặp phải mức sinh hoạt đắt đỏ, vừa gặp nguy hiểm ở chiến trường.  Điều động ra vùng II cũng là một cách trừng phạt các sĩ quan bị thất sủng của chính quyền thời bấy giờ.

Điều này làm cho cả gia đình rất lo lắng. Từ Huệ có đến nhờ những người bạn cũ đang giữ những chức vụ cao trong quân đội; nhưng họ cho biết, đây là lệnh mật của Tổng Thống Thiệu nên không thể giúp gì được. Cuối cùng, không biết cậy nhờ ai, nên Từ Huệ và Diệu Minh đành cầu nguyện với Bát Nương xin giúp đỡ. Bát Nương giáng cơ dạy rằng:

Ở đâu cũng vậy, miễn mình có bạn tốt là được. Tuy nhiên thấy Diệu Minh lo lắng quá nên Bát Nương sẽ giúp các con lần này.

Lúc Bát Nương giáng cơ là ngày thứ bảy và Từ Huệ đã lãnh Sự Vụ Lệnh trước đó hai ngày rồi. Thanh thường theo quân luật thì phải thi hành; không gì có thể thay đổi được. Từ Huệ cũng đã chuẩn bị hành trang định sáng thứ hai là lên đường. Tuy nhiên đúng theo lời hứa của Bát Nương, ngay vào sáng thứ hai, Từ Huệ lại nhận một Sự Vụ Lệnh nữa, điều động về vùng IV. Đến đây thì gia đình tạm yên tâm, bởi vì vùng IV là các tỉnh miền Tây, giá cả sinh hoạt tương đối không cao, chiến trường lại ít sôi động hơn các nơi khác.

Thế là cả gia đình cùng chuyển đi theo Từ Huệ. Trong thời gian này người con út ra đời và được đặt tên là Nguyễn Thanh Bình bởi vì Từ Huệ đã quá chán ngán cuộc chiến, lòng chỉ muốn đất nước hòa bình và được sống yên thân. Cả nhà sống trôi nỗi hết nơi này đến nơi khác cho đến một hôm chuyển đến Trung Tâm Mễ Cốc Long Định. Sau những thăng trầm trong cuộc sống, Từ Huệ không còn thấy chức quyền là quan trọng nữa nên lúc nào cũng chỉ muốn tìm cách giải ngũ để về làm đạo. Và chính ở Trung Tâm Mễ Cốc Long Định này, Từ Huệ trả hết nợ nhân quần xã hội, kết thúc đời quân ngũ của mình.

MẶC ÁO THƯỜNG DÂN

Khi chuyển về Trung Tâm Long Định, Từ Huệ có nhiệm vụ giữ an ninh cho nơi này vốn là một cơ sở nghiên cứu khoa học để phục vụ nanh nghiệp. Lực lượng quân sự nơi đây chỉ là một số Địa Phương Quân. Đây là những người dân bị bắt buộc phải đi chiến đấu, hoặc tham gia để được sống ở gần gia đình, vì thế tinh thần của họ rất thấp. Chẳng hạn như, khi giao cho họ ra ngoài hàng rào để gài mìn, thì họ len lén gài qua loa phía trong hàng rào cho qua chuyện. Rồi chuyện phải đến cũng đến, trong một lần đi kiểm tra, Từ Huệ đã vướng phải một trong những trái mìn gài đặt cẩu thả này. Bị thương tích khá nặng, Từ Huệ phải nằm ở nhà thương khá lâu mới bình phục. Với thương tật này, Từ Huệ đã có đủ điều kiện theo luật định để giải ngũ, trở về với cuộc sống dân sự.

Bây giờ trở về với cuộc sống thường dân, với đồng lương hưu ít ỏi, lại không có nghề nghiệp gì chuyên môn, Từ Huệ phải chịu một áp lực rất cao trong việc nuôi sống một gia đình có đến bảy người con đều còn ở độ tuổi đi học. Diệu Minh thì yếu đuối, bệnh tật thường xuyên, hoàn tất được chuyện trong nhà là đã khá lắm rồi. Vì thế chuyện phế đời hành đạo mà Từ Huệ vẫn mơ tưởng bấy lâu vẫn còn là chuyện xa tầm tay. Nhưng Từ Huệ vẫn được Bát Nương giáng cơ dạy dỗ từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn. Hiểu đạo sâu sắc, Từ Huệ biết rằng đây là căn số của mình, nên không buồn phiền thất chí, chỉ cố hết sức mình lao động đủ thứ nghề để lo cho gia đình. Cũng may lúc này, người con lớn Từ Chơn là một Sinh Viên Sĩ Quan đang du học ở bên Mỹ, do đó toàn bộ số lương của mình ở Việt Nam giao lại cho Từ Huệ, phụ giúp phần nào các chi phí trong gia đình. Sau đó đến khi Từ Chơn về nước, thì toàn bộ số tiền tiết kiệm dành dụm được lúc học bên Mỹ cũng phụ giúp gia đình để nuôi các em.

BÍ PHÁP LUYỆN ĐẠO

Rồi một biến cố lớn cho đất nước Việt Nam đã xảy ra: ngày 30-4-1975. Lúc đó gia đình đang ở chợ Giồng Nhỏ, Mỹ Tho. Khi thấy tình hình đất nước rối loạn đến mức nguy hiểm, Diệu Minh quá lo lắng cho gia đình nên nói với Từ Huệ cầu xin Bát Nương dạy cho cách đối phó. Bát Nương giáng:

…Không sao đâu! Nếu gặp khó khăn, các con cứ về quê của Diệu Minh tạm nương nhờ một thời gian là xong.…

Theo lời dạy cả gia đình bồng chống, dắt díu nhau về làng Hòa Hảo, tỉnh An Giang. Ở ngôi làng hiền hòa nghèo nàn này, gia đình Từ Huệ nhờ vào sự đùm bọc của các anh chị mà sống. Từ Huệ và Diệu Minh làm đủ thứ nghề để nuôi sống gia đình. Cuộc sống rất chật vật, một phần vì gia đình lúc ấy gần như cạn kiệt về tài chính, một phần vì đất nước đang lâm vào cảnh khó khăn.

Đến lúc này, thành thật mà nói, ước ao được phế đời hành đạo của Từ Huệ lại càng xa vời thêm. Chỉ việc nuôi sống bản thân và gia đình thôi cũng đã không cho Từ Huệ phút giây nào ngơi nghỉ, nói chi đến chuyện khác. Có khi thất mùa rẫy bái, không kiếm được tiền, cả gia đình phải sống hẩm hiu. Nhưng ý chí sống còn vẫn nung nấu, rồi gia đình dưới sự dắt dìu của Từ Huệ vẫn chung sức vượt qua mọi khó khăn. Bên cạnh đó cũng không thể quên được sự giúp đỡ quí báu cả về tinh thần lẫn vật chất của thân tộc, từ cây tre, bó củi cho đến gạo lúa, tiền bạc.

Bát Nương dạy chỉ về ở tạm nơi quê vợ, nhưng dần dần không thấy con đường nào khác để thoát khỏi đói nghèo, nên cũng có khi Từ Huệ chán nản, rả rời, muốn buông xuôi mọi việc. Lúc đó Bát Nương giáng cơ an ủi, bảo Từ Huệ tìm đọc lại bài kinh thế đạo …

Đừng thối chí ngã lòng trở gót
Để cho đời chua xót tình thương
Trăm năm thọ khảo vĩnh trường
Thuận căn thuận mạng đôi đường siêu thăng

Cứ thế, thời gian trôi qua, cả gia đình rồi cũng quen với kiếp sống nghèo túng. Chỉ có một điều duy nhất tồn tại trong tâm trí của Từ Huệ và Diệu Minh không bao giờ xao lãng, đó là phải làm sao để lập công với Đức Chí Tôn để không phí một kiếp người.

Lúc này người con trai lớn là Từ Chơn đã có gia đình, và người con dâu đầu tiên của gia đình Từ Huệ cũng được Bát Nương ân điển ban cho đạo hiệu là Diệu Tâm. Diệu Tâm vốn có tâm đạo từ lâu, và đã từng ăn chay trường trước khi về với gia đình Từ Huệ. Một hôm Diệu Tâm có đem một quyển sách nhỏ về gia đình. Quyển sách này của một tu sĩ ở Long An xưng là Bần Sĩ Nguyễn văn Sự. Vị tu sĩ này có hướng dẫn luyện đạo theo một cách thức na ná như cách ngồi thiền, nhưng cách giảng giải rất mù mờ khó hiểu.

Cũng xin nói thêm, trong giai đoạn này chính quyền mới không mặn mà gì với việc phát triển tôn giáo, nên việc làm đạo như thực hiện các nghi lễ ở Thánh Thất rất hạn chế. Theo thói quen từ trước, Từ Huệ và Diệu Minh vẫn nghĩ rằng “làm đạo” nghĩa là phải đến Thánh Thất làm công quả để lập công với Đức Chí Tôn.  Do đó quyển sách của Bần Sĩ Nguyễn văn Sự  đã có ảnh hưởng rất lớn đối với Từ Huệ và Diệu Minh. Sách chỉ ra một hướng mới mà từ trước đến giờ Từ Huệ và Diệu Minh không nghĩ đến. Đó là người học đạo có thể tu tại gia hay theo thuật ngữ Cao Đài là tu chơn. Trong điều kiện lúc đó thì làm như thế là rất phù hợp cho gia đình Từ Huệ. Thế nhưng, để cho chắc ăn, Từ Huệ trình lên Bát Nương và được dạy như sau:

…Quyển sách đó cũng là một ý hay, nhưng không phải của đạo Cao Đài. Bát Nương sẽ ban cho các con Bí Pháp Luyện Đạo của Cao Đài. Kể từ nay, Từ Huệ phải ăn chay trường và mỗi đêm chấp bút để học Bí Pháp. Sau này, các con có nhiệm vụ đem tài liệu này về Vạn Pháp Cung và Trí Huệ Cung để cho con cái Đức Chí Tôn về tịnh luyện.

Quyển Bí Pháp Luyện Đạo của Bát Nương truyền dạy đã ra đời trong hoàn cảnh như thế. Lúc hoàn thành quyển sách này, Từ Huệ có trở về Tòa Thánh Tây Ninh với ý định giao lại cho Hội Thánh (lúc này có tên là Hội Đồng Chưởng Quản) gìn giữ cho đến khi nào có điều kiện mở Vạn Pháp Cung. Tuy nhiên, dù có sự ủng hộ của các chức sắc trong Hội Đồng Chưởng Quản như Cải Trạng Lê Minh Khuyên, Đầu Sư Thượng Tám Thanh hay Phối Sư Thái Thơ Thanh, nhưng việc phát hành tài liệu này hầu như không thể thực hiện được trong một đất nước còn đang phát triển, nơi mà mọi hoạt động tôn giáo đều bị giám sát chặt chẽ. Có lẽ thiên cơ đã định như thế, có nôn nóng mấy cũng không được!

TRÍ HUỆ CUỐI ĐỜI NGƯỜI

Sau những biến cố chấn động, cuộc đời lại êm ả trôi đi, những người con của Từ Huệ dần dần trưởng thành, lập gia đình và có nghề nghiệp ổn định. Nhờ đó, gia đình đã thoát khỏi cảnh nghèo túng. Các con của Từ Huệ hợp sức xây lại ngôi nhà cho đàng hoàng và Diệu Minh lại có cơ hội thực hiện một mong ước nhỏ nhoi của mình: đó là thượng tượng (là một nghi lễ nhỏ của đạo Cao Đài  đánh dấu lần đầu tiên trong gia đình có bàn thờ Đức Chí Tôn). Suốt cuộc đời, gia đình Từ Huệ di chuyển liên tục, nhà cửa toàn là tạm bợ, nên không dám thượng tượng thờ Thầy trong nhà. Đây là lần thượng tượng  đầu tiên trong một ngôi nhà do chính sức các con cái của Từ Huệ tạo dựng. Về mặt xã hội, đời sống của người dân Việt Nam cũng đã tương đối khá hơn trước. Những biện pháp kiểm soát các hoạt động tôn giáo của chính quyền cũng đã bớt phần khắt khe hơn trước. Giai đoạn tưởng chừng như chìm trong tăm tối đã qua.

Những năm cuối đời là những năm ngập tràn hạnh phúc trong gia đình. Từ Huệ và Diệu Minh được nghỉ ngơi. Mỗi ngày, tiếng kinh cúng tứ thời lại bắt đầu vang lên trong không gian yên ả của một miền quê hiền hòa. Ngày sóc vọng, Từ Huệ lại đèo Diệu Minh đi cúng ở thánh thất Chợ Mới bằng xe gắn máy. Đến rằm tháng tám âm lịch hàng năm và ngày Tết, Từ Huệ và Diệu Minh lại về Tây Ninh dự lễ Hội Yến Diêu Trì, cúng vía Đức Chí Tôn, thăm lại bạn bè ngày cũ. Bây giờ đã có thì giờ, Từ Huệ nghiên cứu lại kinh điển các tôn giáo và tiếp tục viết sách khuyến tu. Niềm an ủi lớn nhất của Từ Huệ và Diệu Minh lúc này là vào ngày Tết, các con cháu đều tập họp đầy đủ, mừng tuổi cha mẹ, ông bà. Đến cuối đời, gia đình Từ Huệ  lại được các đấng thiêng liêng ban cho niềm vui hạnh phúc mà mọi gia đình trên thế gian đều ao ước.

Đến cuối năm 2006, những dấu hiệu suy yếu về sức khỏe đã từ từ hiển lộ. Từ Huệ bảo với người con lớn là Từ Chơn hãy chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chia tay. Rồi những dấu hiệu suy yếu kia từ từ diễn biến và cuối cùng chuyển sang một cơn bịnh nặng. Toàn cả gia đình tập trung tinh thần và vật chất lo lắng. Cuối cùng vào 6 giờ chiều ngày 6/5/2007 Từ Huệ nhẹ nhàng bước chân lên con đường thiêng liêng hằng sống. Một điểm đặc biệt là từ lúc bị bệnh cho đến khi qua đời Từ Huệ vẫn có một tâm thái an lạc. Một tâm thái mà chỉ có người đạt được trí huệ, vượt lên trên mọi tầm thường nhân thế mới thể hiện được trong phút lâm chung.

TỪ CHƠN

(hết)

There is no unique category with the slug 'cao-dai'. Please insert a valid slug.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *