Từ Huệ – 01 – Đạo Cao Đài

Từ Huệ (Nguyễn văn Mới) lúc còn trẻ.

TUỔI THƠ TỪ HUỆ

Có lẽ nên bắt đầu từ một cột mốc rất quan trọng trong cuộc đời của Từ Huệ: ấy là khi Đức Chí Tôn Thượng Đế giáng trong một đàn cơ phổ độ vào khoảng năm 1926. Trong giai đoạn lập đạo, Đức Chí Tôn dạy các đệ tử lập ra các cặp phò loan, đi về các tỉnh để tiếp nhận thêm đệ tử mới. Lúc ấy ông Nguyễn văn Lai, một Hương Cả ở làng Hiệp Phước, Nhà Bè, Gia Định có đến dự một đàn cơ tại chùa Gò Kén vì tò mò là chính. Trong lúc mọi người đang quì hầu đàn thì cơ giáng gọi Nguyễn văn Lai vào dạy việc. Ông Lai rất ngạc nhiên vì cả những vị phò loan lẫn những người trong đàn đều không biết ông. Khi ông Lai vào hầu, thì cơ giáng cho bài thơ sau:

Lai châu tiếng hạc gáy reo vang
Sao chẳng tỉnh mê giấc ngỡ ngàng
Năm lụn ngày qua thêm chất tuổi
Những là lỡ lính với lừa quan

(Ngày 14-Bính Dần – chùa Gò Kén – Tây Ninh,
Trích Đạo Sử quyển I – trang 67)

Kể từ ấy con người của ông Lai đổi khác. Ông bắt đầu sắp xếp chuyện làm ăn để dành nhiều thì giờ hơn cho việc học đạo. Ông đọc các sách vở có sẵn về tôn giáo, lo làm phước, giúp người nghèo. Nói chung, ông làm tất cả những gì mà người đời gọi là “tu”. Cuối cùng ông làm một việc quan trọng nhất cuộc đời mình: quyết định từ bỏ nhà cửa ruộng đất đang có để dời về thánh địa Tây Ninh. Ông nghĩ rằng về thánh địa sẽ có nhiều cơ hội hơn để học đạo và hành đạo.

Lúc bấy giờ, ông nuôi dưỡng hai người cháu nội mồ côi là Nguyễn văn Thới và Nguyễn văn Mới. Hai anh em Thới và Mới ăn cơm chay trong đền thánh, đi học Đạo Đức Học Đường. Nói tóm lại, Thới và Mới là những con người hoàn toàn do đạo nuôi dưỡng và dạy dỗ trong khi ông Lai dành trọn cuộc đời mình cho đạo.

Trong số hai đứa cháu nội của ông, cháu Mới đặc biệt học hành có nhiều triển vọng. Nhưng rồi bỗng đâu đất bằng nổi sóng! Một hôm, đến trước cổng trường, Mới ngỡ ngàng khi thấy trường đã bị người Pháp chiếm đóng. Lúc đó, người Pháp đã bắt Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và một số chức sắc cao cấp đày sang đảo Réunion. Toàn bộ cơ sở của đạo, kể cả Đền Thánh – lúc này đang xây dựng dở dang – đều bị chiếm giữ. Người Pháp quyết tâm dẹp bỏ những lực lượng yêu nước lúc bấy giờ đang nổi lên khắp nơi trong nước. Và dưới con mắt của họ, Đạo Cao Đài chỉ là một lực lượng nổi loạn chống lại Chính Quyền Bảo Hộ Pháp. Thậm chí họ còn gán cho đạo là theo Đức Quốc Xã bởi vì trên nóc Đền Thánh có chữ Vạn giống huy hiệu của Phát Xít Đức!

THUỞ THIẾU THỜI TRÔI NỔI

Đến năm 17 tuổi, anh thanh niên Mới, cũng như những thanh niên Việt Nam khác lòng đầy nhiệt huyết, quyết chí tìm cách chống lại người Pháp. Lúc bấy giờ nghe nói phong trào Đông Du đang tuyển thanh niên đưa sang Nhật để học tập, nên Mới quyết định lên Sài Gòn để tìm cách gia nhập tổ chức này.

Trước khi ra đi, Mới xin phép ông nội và dĩ nhiên là không được ông cho phép. Đối với ông Lai, việc thế gian không còn quan trọng nữa, chỉ có hành đạo để trở về với Đức Chí Tôn là quan trọng mà thôi. Vì thế, Mới lén từ giả người anh của mình và trốn ông nội ra đi.

Trước khi ra đi, Mới đã lên núi Bà Đen xin xăm để đoán trước vận mệnh của mình. Mới xin được quẻ thượng như sau:

Đường ngang ngõ tắt tựa bàn cờ
Lạc lối cho nên đứng ngẩn ngơ
May gặp quới nhơn nhờ giúp đỡ
Thân này chắc sống tự bây giờ 

Quẻ xăm làm cho Mới nức lòng và thế là anh lên đường với vài bộ đồ nhà quê và mấy đồng bạc trong túi.

Đến thành phố Sài Gòn, “Hòn Ngọc Viễn Đông” lúc đó, Mới chọn bến xe đò làm chỗ ngủ hằng đêm, ban ngày anh đi khắp nơi để xin việc làm. Nhưng hỡi ơi! Bộ dạng thanh niên tỉnh lẻ của anh chỉ đem lại những cái lắc đầu khinh bỉ. Rồi mười ngày trôi qua. Số tiền ít oi đem theo đã cạn dần, thậm chí không còn đủ tiền đi xe đò trở về Tây Ninh nữa.

Buổi chiều hôm ấy, anh không biết làm gì hơn là ra ngồi trên băng đá bùng binh trước chợ Bến Thành, trong lòng vẫn chưa biết tính sao cho buổi sáng ngày hôm sau. Bỗng có một người đàn ông trung niên tiến đến gần anh và hỏi:

– Nè chú em. Tui thấy chú em hình như ở dưới tỉnh mới lên. Chú có bà con gì hông? Lên đây tính làm gì?

Mới liều mạng trả lời:

– Lên kiếm người rủ đi đánh Tây!
– Ý, chú nói nhỏ nhỏ chớ. Mã tà nó bắt bây giờ. Mà chú thiệt muốn đánh Tây hông?
– Thiệt!
– Vậy chú em theo tui về nhà rồi nói chuyện.

Tới đây thì rõ ràng quẻ xăm đã ứng nghiệm: quới nhơn đã xuất hiện để cứu người. Người đàn ông này thuộc tổ chức cách mạng của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, hiện đang tuyển mộ thanh niên đưa sang Nhật du học. Kể từ đó, Mới tạm thời làm bồi bàn trong nhà hàng của ông chờ ngày xuất dương. Trong thời gian chờ đợi, Mới học tiếng Nhật qua những quyển sách tự học vốn bán đầy dẫy trên đường phố Sài Gòn.

Nhưng khúc quanh định mệnh đã đến trước khi Mới kịp ra nước ngoài. Một hôm có hai viên sĩ quan Nhật vào nhà hàng ăn uống. Dĩ nhiên đây là cơ hội để tập nói tiếng Nhật. Mới tiến lại chào hỏi vài câu. Thình lình, viên sĩ quan hỏi Mới:

– Cậu muốn làm sĩ quan như tôi không?
– Muốn chứ. Mà sĩ quan gì?
– Phi công. Nếu muốn thì theo tụi tôi liền bây giờ.

Mới suy nghĩ, mục đích của mình là sang Nhật học để đánh Tây, bây giờ làm sĩ quan Nhật đánh Tây liền thì thỏa chí rồi. Thế là, không do dự, Mới đi theo hai sĩ quan Nhật, thậm chí không kịp chào ân nhân của mình. Sau này mới biết, hai sĩ quan này áp tải những thanh niên Việt Nam đầu quân cho Nhật từ Hà Nội vào Sài Gòn. Khi đến nơi, kiểm tra lại thì thiếu hai người nên họ đang tìm người lấp vào chỗ trống để tránh bị kỷ luật.

Mới bắt đầu cuộc sống trong hàng ngũ quân đội Nhật Bản với một cái tên Nhật (quân đội Nhật đặt cho). Đóng quân ở phi trường Tân Sơn Nhất, mỗi ngày Mới học tiếng Nhật và làm thợ máy học việc. Theo lời các sĩ quan Nhật thì muốn làm phi công quân đội Thiên Hoàng trước hết phải biết rõ mọi tính năng của chiếc máy bay. Thực tình mà nói thì Nhật lúc bấy giờ sắp thua Thế Chiến Thứ Hai và đang định tuyển nhiều phi công Thần Phong (Kamikaze) cho nhiệm vụ quyết tử “đâm đầu xuống tàu chiến Mỹ”. Nói cho rõ là họ đang tìm người hi sinh cho đất nước Phù Tang!

Sau một thời gian, họ chọn một số thanh niên, trong đó có Mới, chuẩn bị lên đường sang Nhật để học lái máy bay trong chiến dịch Thần Phong. Nhưng một khúc quanh nữa lại xuất hiện trong cuộc đời khúc khuỷu của Mới: người Nhật ký văn bản đầu hàng vô điều kiện sau hai quả bom nguyên tử của Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki.

Quân đội Nhật lục tục rút lui về Nhật Bản. Trước khi rút về, họ cho mời những thanh niên Việt Nam trong hàng ngũ Nhật đến và bảo rằng: Các bạn được chọn một trong hai điều. Một là theo chúng tôi về Nhật, chúng tôi sẽ xem các bạn như những công dân Nhật thực thụ. Chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng nước Nhật. Hai là các bạn ở lại Việt Nam để làm công dân Việt Nam.

Khúc quanh lần này, Mới chọn ở lại Việt Nam. Anh nghĩ rằng, mình đi theo Nhật là để đánh Tây, chứ đâu muốn làm người Nhật. Nay Nhật thua, Tây lại rục rịch trở lại Việt Nam, mình phải ở lại đây để tiếp tục đánh Tây chứ.

Trong thời gian Mới ở trong quân đội Nhật, người Nhật cũng giúp thành lập quân đội Cao Đài với mục đích lật đổ chính quyền thuộc địa Pháp. Nay người Nhật thua, quân đội Cao Đài đang có kế hoạch rút lui về Tây Ninh để lập chiến khu. Anh Mới trở lại gia nhập quân đội Cao Đài với cấp bậc Thiếu Úy.

Rồi người Pháp trở lại Việt Nam, quân đội Cao Đài phải chọn giải pháp hợp tác với Pháp để đổi lại hai việc: Thứ nhất, Pháp trả tự do cho Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Thứ hai, tín đồ Cao Đài  được tự do hành đạo. Tuy nhiên, cuộc hợp tác bất đắc dĩ này không tồn tại lâu dài, bởi người Pháp thua trận Điện Biên Phủ năm 1954 và phải ký hiệp định Geneve. Nước Việt Nam bị chia đôi tại vĩ tuyến 17.  Miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản dưới quyền lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh, miền Nam theo thể chế tự do do ông Ngô Đình Diệm cầm quyền.

THAM GIA QUÂN ĐỘI QUỐC GIA

Ở miền Nam Việt Nam, ông Ngô Đình Diệm lập tức bắt tay vào việc xây dựng lại chính quyền do người Pháp để lại bằng việc triệt phá các đảng phái chính trị hùng cứ khắp miền Nam bấy giờ như tướng Bảy Viễn, Ba Cụt vân vân. Riêng về phía đạo Cao Đài, đức Hộ Pháp là Chưởng Quản cả Hiệp Thiên Đài lẫn Cửu Trùng Đài chủ trương chuyển giao quân đội Cao Đài sang quân đội quốc gia để Cao Đài trở lại là một tôn giáo thuần túy.

Lúc đó, Mới phân vân đứng trước ngã ba đường: theo quân đội quốc gia tiếp tục cuộc đời người lính hoặc trở về dân sự. Suy nghĩ không ra, Mới xin vào diện kiến Đức Hộ Pháp để nghe chỉ dạy. Sau khi nghe trình bày xong Đức Hộ Pháp không nói lời nào mà dùng tay chỉ về hướng Sài Gòn. Thế là Mới quyết định phải nhập thế để trả cho xong cái nợ nhân quần xã hội. Anh làm đơn xin chuyển qua quân đội quốc gia và được chấp thuận.

Lúc bấy giờ chính quyền miền Nam rất cần một lực lượng quân đội để bảo vệ thể chế còn non trẻ của mình. Tuy nhiên, ông Ngô Đình Diệm luôn nghi ngờ những người từng tham gia quân đội các đảng phái như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo. Thế nên, dù sử dụng lại nhưng ông áp dụng hai biện pháp sau: Thứ nhất, buộc những người lính Cao Đài phải tham gia một khóa học quân sự và văn hóa. Ai vượt qua được sẽ giữ nguyên cấp bậc, những người còn lại phải chịu giáng cấp tùy theo số điểm cuối khóa. Thứ hai, bổ nhiệm những người này đến những nơi xa xôi hiểm trở nhằm phân tán không cho liên hệ với nhau.

Về thử thách thứ nhất, Mới đã vượt qua một cách dễ dàng nhờ ý chí phấn đấu và trí thông minh. Vì thế trong khi rất nhiều người bị giáng cấp xuống Hạ Sĩ Quan, thậm chí đến hàng binh sĩ, thì Mới vẫn giữ được cấp bậc Thiếu Úy. Về thử thách thứ hai, Mới phải chịu thuyên chuyển đến nhiều nơi khỉ ho cò gáy và sau cùng thì ổn định lại tại tỉnh lỵ Pleiku thuộc miền Trung Việt Nam.

Kể từ đây, cuộc đời đã tạm lắng sóng gió, anh sống yên lành cùng vợ và người con trai đầu lòng. Nhưng rồi sau sáu năm sống hạnh phúc ở Pleiku, cuộc đời của Mới lại đến một khúc quanh nữa.

TIẾNG GỌI THIÊNG LIÊNG

Vào khoảng năm 1965, người ta tổ chức tuyển những người có năng khiếu ngoại ngữ trong quân đội về học tiếng Anh ở Sài Gòn. Anh Mới trúng tuyển nên được về Sài Gòn học. Anh đem vợ và hai con lúc bấy giờ là Nguyễn văn Dũng và Nguyễn thị Thu Nguyệt cùng đi. Gia đình thuê một ngôi nhà ở Cổng xe lửa số 7, Phú Nhuận cho gần trường Sinh Ngữ nơi anh theo học. Vào những năm này, đời sống kinh tế của đất nước rất thoải mái. Đồng lương viên chức nhà nước khá cao, nên hầu như gia đình không phải lo lắng gì về vấn đề cơm áo. Anh Mới đi học ngày hai buổi, đến cuối tháng lãnh lương. Ngày ngày lần lượt trôi qua trong hạnh phúc. Và cũng chính trong khoảng thời gian này một sự kiện trọng đại đã xảy ra với gia đình anh.

Phía sau nhà anh thuê là một nghĩa trang đã lâu đời. Nghĩa trang hiu quạnh không ai thăm viếng, xung quanh là xóm nhà lao động nghèo. Trẻ em chơi đùa trong các con hẻm rồng rắn, và lúc nào cũng có một nhóm các em chơi ở sân cement nhỏ trước cửa nhà anh bởi vì chị vợ và hai con ở nhà rất ít giao tiếp với lối xóm, thường cửa đóng then cài suốt ngày.

Một hôm, ở nghĩa trang có bốc mộ, và các em nhỏ đã tìm cách lấy được mấy miếng ván hòm. Ngày trước người ta tin rằng nếu dùng ván hòm đã chôn từ lâu làm cơ, thì có thể cầu cơ liên lạc với người đã khuất. Cách làm theo dân gian như sau: người ta đẽo gọt miếng ván hòm thành hình quả tim. Sau đó lấy một tờ giấy cứng khổ to, viết lên 24 chữ cái, các dấu thanh tiếng Việt, và các số đếm từ 0 đến 9. Khi cầu cơ, hai người ngồi trước tờ giấy cứng, cơ được đặt nằm giữa tờ giấy, mỗi người chạm một ngón trỏ vào cơ. Sau đó người ta cùng đọc to lên một chịi thơ lục bát “cầu hồn” có nội dung là xin được giao tiếp với thế giới bên kia. (Không biết tác giả bài thơ cầu hồn này là ai và đến nay lâu quá người viết truyện cũng không nhớ nỗi bài thơ này). Đọc xong bài thơ là cơ chạy, thường là theo vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ. Những người khác ngồi xung quanh và nêu những câu hỏi, cơ sẽ lần lượt chỉ vào các mẫu tự để ghép lại thành từ ngữ và câu để trả lời. Khi nào cơ chỉ vào chữ “Thăng” là hết một phiên.

Rồi phong trào cầu cơ rộ lên trong xóm. Trẻ em, người lớn tụm năm tụm ba cầu cơ. Người ta cầu lúc nửa đêm, rồi đến ban ngày. Thậm chí không đủ ván hòm làm cơ, người ta dùng cả nắp chai nước ngọt lật ngửa lên thay cho cơ. Các chơn hồn giáng cơ thường xưng là ma, quỉ, hoặc thần, và trả lời tất cả những câu hỏi nêu ra. Thường người ta hỏi về chuyện nhà cửa, tình duyên, công danh. Chị vợ anh Mới, cũng giống như phần đông các phụ nữ, rất dễ cảm đối với các hiện tượng tâm linh, và cũng một phần do tò mò, đã tham gia vào việc này mà không hề có ý thức. Chúng ta cũng biết, đạo Cao Đài vốn mở ra do các đấng thiêng liêng giáng cơ thông qua các đồng tử. Nhưng trong đạo Cao Đài, chỉ có chức sắc cao cấp do thiêng liêng chỉ định mới được cầu cơ mà thôi. Những tín đồ thông thường như vợ chồng anh Mới không được phép cầu cơ. Và nếu có ai thử cầu cơ thì cũng sẽ thấy rằng không phải ai cũng cầu cơ giao tiếp với thế giới bên kia được. Tuy thế, có một điều lạ là, lúc bấy giờ, trong xóm nhà của anh hầu như ai cầu cơ cũng được. Các em nhỏ thường khi chơi đùa trước sân nhà cũng tổ chức cầu cơ vào ban ngày và vẫn tiếp xúc được với thế giới bên kia. Vì thế, chị vợ của anh lén đợi lúc anh đi học, lập một nhóm gồm có mấy người hàng xóm và cầu cơ trong nhà mình.

Một điểm đặc biệt lôi cuốn chị là: nếu có chị chạm tay vào thì cơ chạy nhanh hơn và những câu trả lời cũng có phần thú vị hơn. Thường khi những người khác cầm cơ, chỉ có các chơn hồn xưng là ma hay quỉ nhập vào và cơ chạy rất chậm; nhưng nếu có chị cầm cơ thì thường là thần hoặc thánh, nhất là Địa Tiên (Ông Địa) giáng cơ.

Một thời gian sau, anh Mới cũng biết được chuyện này. Là một người con của đạo, lại từng làm tốc ký viên cho Đức Hộ Pháp nên anh cương quyết giữ những nguyên tắc của đạo, mà một trong số đó là tín đồ không được phép cầu cơ. Nhưng anh cũng biết không thể dùng lời thuyết phục một người say mê các vấn đề về tâm linh được. Anh chủ tâm dùng một cách khác: anh cũng sẽ tham gia với chị, nhưng anh sẽ dùng sức đẩy cơ nhằm tạo ra những câu trả lời kỳ quặc. Anh nghĩ như thế sẽ làm cho chị chán nản bỏ cuộc.

Nữ chánh trị sự Trương Hoa Đê, đạo hiệu Diệu Minh, bạn đời của Từ Huệ.

Một bữa nọ, anh được nghỉ học về sớm. Khi về đến nhà anh rủ chị cùng cầu cơ. Lúc này trong nhà chỉ còn có gia đình của anh chị. Anh và chị ngồi vào bàn cơ, người con lớn – lúc đó đang học lớp đệ Thất – cũng theo ngồi cạnh. Nhưng khi đọc xong bài thơ “gọi hồn” thì ý định dùng sức đẩy cơ của anh tan biến bởi anh cảm nhận được một luồng điện phi thường chạy vào đầu ngón tay của mình, đẩy cơ chạy với một tốc độ nhanh chưa từng có. Cơ giáng:

Ta là Địa Tiên.
Mời ông bà chỉnh trang y phục để tiếp đón một vị Tiên Nương.
Thăng.

Đọc xong mấy câu này cả gia đình kinh hoảng, bởi cách nói nghiêm nghị khác thường. Mặc dù Địa Tiên và các vị thần thánh thường giáng, nhưng chưa bao giờ cách nói lại đầy uy lực như vậy.

Thế là cả gia đình vội vàng thay đồ cho tươm tất. Vì đã lâu theo đời kiếm sống, nên trong gia đình cũng không có đạo phục (áo dài trắng) và mọi người đành chọn bộ đồ thích hợp nhất. Sau đó cả gia đình lên gác và cầu lại. Lần này cơ giáng:

Bát Nương Diêu Trì Cung mừng các con.
Các con là người có căn duyên, sao không lo chuyện tu tâm mà cứ chạy theo giàu sang quyền tước? Kể từ đây các con phải ăn chay mỗi tháng mười ngày và mỗi ngày rằm và ba mươi phải cầu Bát Nương về học đạo.
Thăng.

Kể từ đó trở đi, cả gia đình làm đúng theo lời Bát Nương dạy. Bát Nương đã dạy từ những khái niệm đơn giản nhất về đạo đức cho đến những ý nghĩa phức tạp trong tôn giáo bằng những bài giảng hết sức dễ hiểu và dễ nhớ. Sau gần một năm, Bát Nương lần đầu tiên ban đại ân cho gia đình anh Mới.

Bát Nương giáng:

…Từ nay, Bát Nương cho các con một đạo hiệu để sau này theo đó mà tu chơn. Con Mới là Từ Huệ, con Đê là Diệu Minh, cháu Dũng là Từ Chơn, cháu Thu Nguyệt là Diệu Lý.…

(Từ đoạn này trở đi, xin được dùng đạo hiệu thay cho tên riêng để phù hợp với tựa đề của truyện. TG)

Trong khoảng thời gian này tâm đạo của Từ Huệ và Diệu Minh phát triển đến nỗi, theo đề nghị của Diệu Minh, cả nhà quyết định ăn chay trường. Thế nhưng, ngay sau đó Bát Nương giáng cơ dạy:

Các con muốn ăn chay trường là điều rất tốt. Nhưng trong cửa đạo Cao Đài, ăn chay trường thì phải phế đời hành đạo. Sau đó là đi vào con đường thứ ba của Đại Đạo- tức là luyện đạo. Các con chưa thể phế đời hành đạo, lại càng không thể luyện đạo, vậy nên chỉ cần thập trai là đủ. Hơn nữa tu hành không thể dục tốc. Bát Nương cho các con biết một điều: ăn chay trường mà không luyện đạo cũng như nấu cơm mà không đổ nước!

Riêng về phần Từ Huệ, đi tu là ước mơ từ thuở bé của anh, chỉ vì thời cuộc biến đổi mà anh phải đi làm  việc kiếm tiền, nay được học đạo nơi Bát Nương anh càng thấy nung nấu ý muốn phế đời hành đạo. Một hôm, anh thưa với Bát Nương, xin người giúp cho được giải ngũ để trở về làm đạo. Bát Nương dạy rằng:

Từ Huệ còn phải trả nợ nhân quần xã hội, nên chưa thể phế đời hành đạo được. Nhưng con đừng lo, cứ an tâm học đạo, rồi đây Bát Nương sẽ cho con một cơ hội lớn để giúp đạo.

Lời dạy này cũng là lời tiên tri cho những năm tiếp theo sau trong cuộc đời của Từ Huệ.

TRỞ LẠI TÂY NINH

Sau khi học tiếng Anh xong, gia đình Từ Huệ trở về Pleiku, tức là đơn vị gốc của anh. Trong lúc này người con thứ tư của anh cũng ra đời. Đó là Nguyễn văn Quang, được Bát Nương ban cho đạo hiệu là Từ Tâm.

Nhưng rồi một biến cố bất hạnh đã xảy ra cho gia đình, người con thứ ba, Diệu Lý mắc phải bệnh sốt tê liệt. Vào thời bấy giờ, dịch vụ y tế ở Việt Nam chưa phát triển lắm, nhất là ở các tỉnh thành xa xôi như Pleiku. Để điều trị cho Diệu Lý, cả gia đình phải vào Sài Gòn tìm bác sĩ chuyên khoa. Chứng bệnh không giết chết Diệu Lý, nhưng làm cho em liệt toàn bộ cơ thể, cần điều trị bằng vật lý liệu pháp lâu dài. Trước tình cảnh khó khăn ấy, cấp trên của Từ Huệ đồng ý cho anh được chuyển công tác vào Sài Gòn để trị bệnh cho con. Căn bệnh của Diệu Lý đã vắt kiệt sức lực và tài lực của gia đình. Tuy nhiên nhờ bạn bè, họ hàng ra sức an ủi, giúp đỡ cả vật chất lẫn tinh thần nên rồi những đau khổ cũng nguôi ngoai dần. Riêng về phần Diệu Lý, Bát Nương cho biết em có một trí óc minh mẫn trong một thân thể tàn tật. Và đúng như thế, dưới sự dạy dỗ của Diệu Minh, em có thể học đọc, học viết không thua gì một em bé bình thường cùng độ tuổi. Rồi người con thứ năm ra đời, được đặt tên là Nguyễn thị Thu Hồng. Bát Nương cũng ban cho đạo hiệu là Diệu Hương.

Thời gian trôi đi, tuy không dám hỏi nhưng Từ Huệ vẫn công cánh bên lòng câu tiên tri của Bát Nương là mình sẽ có một cơ hội lớn để giúp đạo. Gia đình Từ Huệ vẫn tiếp tục học đạo với Bát Nương. Trong thời gian này, Từ Huệ làm công quả bằng cách giúp đỡ về tài chính hoặc tặng vật liệu xây dựng cho các Thánh Thất còn nghèo ở Sài Gòn, nhiều nhất là Thánh Thất Sài Gòn ở đường Trần Hưng Đạo.

Một hôm, do quá nóng lòng không thể chờ đợi cơ hội giúp đạo mà Bát Nương hứa, cũng không dám hỏi Bát Nương, nên Từ Huệ nghĩ ra một cách để giúp đạo. Đó là vận động các chi phái Cao Đài qui về một mối (theo đạo sử thì có khoảng 12 chi phái Cao Đài trên đất nước Việt Nam, tập trung nhiều nhất ở các tỉnh miền Tây). Trong một lần cầu cơ, Từ Huệ trình Bát Nương ý kiến này và được Bát Nương chấp thuận. Kể từ đó, có được giờ rảnh là Từ Huệ đến các Thánh Thất của các chi phái ở Sài Gòn để trò chuyện, nhằm tìm ra tâm tư nguyện vọng của những vị chức sắc ở các chi phái. Thường thường, khi bàn đến việc thống nhất, các vị này đều tỏ ra nhiệt tình, có ý ủng hộ rất cao. Tuy nhiên, khi bàn đến cách làm cụ thể, lại có rất nhiều trở ngại. Trở ngại lớn lao nhất vẫn là: khi thống nhất rồi, ai sẽ là người nắm giữ chức vụ cao nhất để điều hành toàn đạo? Các vị thuộc các chi phái Cao Đài hiện đang giữ những chức vụ cao trong chi phái của họ. Thậm chí họ đang là Giáo Tông, Hộ Pháp vân vân …  Có người đề nghị tất cả mọi chức vụ đều hủy bỏ, sau đó cầu cơ để các đấng thiêng liêng phong lại các chức vụ. Ý kiến này thoạt đầu nghe rất hay, nhưng đến chỗ ai là đồng tử thì lại rối loạn, vì không ai chịu để đồng tử của các phe phái khác hầu cơ.  Đến lúc đó, Bát Nương mới giáng cơ bảo với Từ Huệ:

Bát Nương khiến Từ Huệ gặp gỡ tất cả những người đó để cho con hiểu rõ “lòng người”; ai thật lòng vì đạo vì Thầy; ai chỉ vì áo mão chức vụ. Thôi, đó thật sự không phải sứ mạng của con đâu. Bát Nương đã hứa cho con một cơ hội lớn để giúp đạo. Cơ hội sắp đến rồi đó.

Và cơ hội ấy đến như một phép màu. Một hôm có lệnh Từ Huệ phải đến trình diện Trung Tướng Lê Nguyên Khang – Tư Lệnh Quân Đoàn 3 ở Biên Hòa. Từ Huệ vô cùng ngạc nhiên. Trong hệ thống quân giai lúc bấy giờ, có một khoảng cách rất xa giữa một sĩ quan cấp thấp như Từ Huệ với một tướng lãnh quân đội. Có thể nói, chuyện một sĩ quan cấp thấp muốn gặp một tướng lãnh là không tưởng. Theo quân luật thời đó, nếu Từ Huệ có làm điều gì đáng khen thưởng hoặc trái điều lệnh quân đội, thì cấp chỉ huy trực tiếp của Từ Huệ đã có đủ quyền hạn khen thưởng hoặc trừng phạt rồi.

Khi đến trình diện Tướng Khang, ông ta hỏi Từ Huệ:

– Anh theo đạo Cao Đài?
– Đúng, thưa Trung Tướng.
– Đạo Cao Đài thờ Con Mắt thấy ghê!

Nghe đến đây, lòng tự ái của một tín đồ Cao Đài nổi lên khiến Từ Huệ quên mất sự cách biệt về cấp bậc. Anh không còn sợ hãi, say sưa trình bày những nét đại cương về một nền tân tôn giáo do chính Đức Cao Đài Thượng Đế mở tại Việt Nam. Cuối cùng Tướng Khang bảo Từ Huệ:

– Anh nói nghe rất thú vị. Có lẽ anh còn muốn nói nhiều hơn. Nhưng chúng ta không thể ngồi đây nói suốt buổi. Vậy anh hãy về viết thành một quyển sách. Vào giờ nghỉ, tôi sẽ đọc.
– Nhưng thưa Trung Tướng, tôi còn phải thi hành công vụ, sợ không hoàn thành cả hai nhiệm vụ cùng một lúc.
– Anh cần bao lâu?
– Khoảng một tháng.
– Được. Tôi sẽ ký giấy cho anh nghỉ phép một tháng để hoàn toàn lo việc viết sách cho tôi.

Thế là Từ Huệ bắt tay vào việc dù vẫn chưa hiểu được cái cơ hội lớn để giúp đạo sẽ như thế nào. Từ Huệ nghiên cứu lại các quyển sách đã có từ trước của các bậc tiền bối và nhận thấy rằng công việc tưởng đơn giản hóa ra lại vô cùng phức tạp! Triết lý đạo mênh mông không bờ bến, làm sao cô đọng trong một quyển sách mỏng để thuyết phục được một người ngoại đạo? Nếu viết quá chi tiết, sợ người đọc không đủ kiên nhẫn; trái lại, nếu viết quá đơn sơ, thì lập luận e có nhiều mâu thuẫn, khiến người đọc hiểu lầm! Nhưng đã trót phóng lao, Từ Huệ chỉ còn biết cầu nguyện các đấng thiêng liêng thêm sức để hoàn thành quyển sách theo yêu cầu.

Đúng một tháng sau, Từ Huệ đem trình quyển sách “Sơ Lược Về Đạo Cao Đài” cho Tướng Khang rồi trở về công việc cũ, hồi hộp chờ đợi. Khoảng một tuần sau, Tướng Khang lại cho mời Từ Huệ. Lần này thái độ của vị Tướng đã đổi khác. Với thái độ niềm nở và chân tình, ông nói:

– Lúc đầu tôi khích tướng anh để xem anh đối phó ra sao. Nhờ vậy, bây giờ tôi đã hiểu tương đối nhiều về đạo Cao Đài. Tôi sẽ cho anh biết tại sao tôi muốn tìm hiểu về đạo Cao Đài. Ngày xưa, lúc còn là một Sĩ Quan cấp thấp, tôi đã có duyên gặp Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc trong một lần Ngài thuyết giảng về đạo pháp. Lúc đó tôi đã có ấn tượng sâu sắc về lý thuyết mới mẽ của nền tôn giáo này. Khi Ngài thuyết giảng xong, tôi có vài câu hỏi đại khái là muốn tìm hiểu thêm về đạo Cao Đài. Lúc ấy, Ngài có trả lời: “Bần Đạo không có thì giờ nhiều để nói cho em nghe. Sau này có cơ hội về Đền Thánh Tây Ninh, nhìn Đền Thánh, em sẽ hiểu tất cả. Mọi bí mật về Cao Đài đều được tượng hình tại đó.” Thế rồi thời gian trôi qua, tôi cũng quên mất chuyện cũ. Nhưng cách đây vài tháng, tôi được lệnh về trấn nhậm ở đây và chợt nhớ ra chuyện này, bởi vì Đền Thánh Tây Ninh nằm trong khu vực trách nhiệm của tôi. Thú thật với anh, tôi đã về Đền Thánh và xem xét mọi nơi theo lời khuyên của Đức Hộ Pháp ngày xưa. (Lúc này, Đức Hộ Pháp đã qui thiên- TG) Nhưng tôi vẫn không hiểu thêm được chút gì. Cuối cùng tôi có yêu cầu thuộc cấp tìm cho tôi một sĩ quan theo đạo Cao Đài. Vì anh mới đổi về, nên bộ phận phụ trách quân số còn nhớ lý lịch của anh ghi là Cao Đài ở phần tôn giáo, và họ giới thiệu anh với tôi.

Trong lúc câu chuyện càng lúc càng cởi mở thì bỗng Tướng Khang trầm ngâm:

– Tôi tâm sự với anh một điều. Tự nhiên, tôi có cảm giác là tôi có duyên với đạo Cao Đài. Một ngày kia, khi về hưu có lẽ tôi sẽ xin làm tín đồ đại đạo. Hiện giờ, tôi muốn làm điều gì đó giúp đạo để gọi là “lập công” trước, nhưng tôi lại quá bận rộn. Thôi được rồi, tôi đề nghị thế này: tôi sẽ đưa anh về làm Quận Trưởng Quận Phú Khương (Đền Thánh Tây Ninh nằm trong khu vực này). Có mặt tại chỗ, anh sẽ biết rõ Đạo cần gì để giúp. Coi như anh thay tôi giúp Đạo. Được không?

Tưởng cũng nên nói thêm về tình hình chính trị lúc bấy giờ. Các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật như Tướng Khang sẽ bổ nhiệm các chức vụ Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng trong khu vực trách nhiệm của mình. Các chức vụ Phó Tỉnh Trưởng, Phó Quận Trưởng dân sự sẽ do Chính Phủ dân sự bổ nhiệm.

Khi nghe Tướng Khang nói như vậy, Từ Huệ vô cùng sửng sốt. Bởi vì thông thường các vị Tướng Lãnh bổ nhiệm người thân, bạn bè hoặc những người sẽ đem lại lợi ích gì đó cho họ. Tình hình như thế này quả thật là không thể có được. Tuy nhiên, Từ Huệ cũng hiểu rằng cơ hội giúp Đạo mà Bát Nương đã hứa chính là đây. Từ Huệ cẩn thận trả lời:

– Nếu được vinh hạnh này, thì bản thân tôi vô cùng biết ơn Trung Tướng. Tôi xin hứa sẽ cố hết sức để không phụ lòng tin của Trung Tướng.

Sau đó, Từ Huệ nhận lệnh về trấn nhậm ở quận Phú Khương, tỉnh Tây Ninh. Và như thế, sau mười mấy năm xa cách, Từ Huệ đã trở lại vùng đất Thánh, nơi vẫn còn đầy ắp những tình cảm của người thân, bạn bè và cả những kỷ niệm thời thơ ấu.

Trong thời gian ở Phú Khương, người con thứ sáu ra đời, được đặt tên là Nguyễn Thị Thu Cúc và cũng được Bát Nương ban cho đạo hiệu là Diệu Mỹ. Khoảng một tháng sau khi nhậm chức, Bát Nương giáng cơ dạy:

…Hôm nay, để đánh dấu ngày Từ Huệ về thánh địa giúp đạo, Bát Nương có mời Đức Hộ Pháp giáng để Từ Huệ ra mắt người…

Và sau đó, Đức Hộ Pháp giáng, dạy rằng:

Thật ra, ngày xưa Từ Huệ vốn đã là đệ tử của Bần Đạo, đi theo Bần Đạo ghi tốc ký những bài thuyết đạo. Bây giờ Bần Đạo mừng cho đệ tử có cơ hội để giúp đạo. Con cứ mạnh dạn thi hành, Bần Đạo hứa sẽ vùa giúp con làm tròn sứ mạng.

TỪ CHƠN

(còn nữa)

There is no unique category with the slug 'cao-dai'. Please insert a valid slug.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *