Tôi mù – Tự truyện của Nguyễn Thanh Tú

Lời giới thiệu của thầy Nguyễn Bình

“Tôi mù?” là câu chuyện có thật. Tác giả không làm văn, chỉ đơn giản kể lại những việc đã trải qua cùng nhiều người mù khác. Các nhân vật đều có tên tuổi rõ ràng, hầu hết đang sinh sống ở Hà Nội, ta có thể tìm gặp, trò chuyện hay kết bạn với họ.

Những người, những việc kể trong “Tôi mù?” có thể xếp vào loại chuyện lạ có thật, thứ chuyện làm thoả mãn tính tò mò của số đông. Nhưng đọc kỹ và không định kiến, ta sẽ thấy đây là kết quả của một công việc rất nghiêm túc. Lạ, vì nó vượt qua những hiểu biết nhân loại đang có.

Tác giả bị bệnh glo-com bẩm sinh, bốn lăm ngày tuổi lên bàn mổ lần đầu, mười sáu tuổi phải bỏ cả hai mắt sau mười lần phẫu thuật. năm nay cô ba mươi tuổi.

Khi bỏ hai mắt, Nguyễn Thanh Tú cũng không rơi vào tuyệt vọng. Cô không tin mình sẽ bị mù vĩnh viễn, dù niềm tin không dựa trên cơ sở nào. Điều đáng nói là cô không chỉ hy vọng và ước mơ, mà tham gia hết mình vào việc tìm lại ánh sáng cho bản thân và những người mù khác. Dám mơ ước và dũng cảm biến ước mơ là hoang đường thành hiện thực, qua những trang viết chân thật, Nguyễn Thanh Tú gửi thông điệp cho mỗi chúng ta: đừng tuyệt vọng, dù trong đời gặp tai ương, bất hạnh đến đâu.

Trên con đường gian nan tìm lại ánh sáng, tuy chưa có kết quả hoàn toàn như mong muốn, Nguyễn Thanh Tú đã trở thành người có nhiều để cho. Phẩm chất làm người ở tầm mức ấy không phải ai cũng có được.

Tú có khả năng khám và chữa bệnh nan y, dù người bệnh ở xa. Cô nhìn rõ nội tạng người bệnh, có thể chỉ ra khuyết tật ở cấp phân tử (mã di truyền).

Thông điệp thứ hai của “Tôi mù?” là phương pháp dưỡng sinh phục hồi chức năng có thể ứng dụng cho tất cả những người khiếm thị, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn, địa vị xã hội, vùng địa lý.

Nguyễn Thanh Tú và những người mù đi tiên phong tìm lại ánh sáng rất cần có những tấm lòng biết chia sẻ, chung sức để đưa “Chương trình ánh sáng của người mù” đến với tất cả những người không may mắn.

Hà Nội, tháng 4-2006
Nguyễn Bình

Tôi mù?

1

Tôi thật lúng túng khi viết cuốn tự truyện này. Không phải vì tôi là người mù. Tôi cần kể trung thực về công việc thầy trò tôi đã làm nhiều năm qua.

Các bạn có tin được không?

Từ đêm 5 tháng 6 năm 1999, tôi không còn hoàn toàn là người mù, dù đã bỏ qua hai mắt.

Khoảng 22 giờ, tôi đi ngủ. Dù đèn đã tắt, nhưng căn phòng khách sạn mấy thầy trò tôi đang ở bỗng sáng dần. Tôi thấy khá rõ mọi đồ vật trong phòng, dù cả buồng tối om. Từ đó đến nay tôi sinh hoạt lúc như người kém mắt, lúc như người tinh mắt, nhiều lúc vẫn là người mù.

Thầy tôi bảo: nếu dám ước mơ và dũng cảm biến ước mơ thành sự thực, thì điều không thể cũng trở thành có thể.

Kết quả hơn mười năm làm việc của thầy trò chúng tôi trong chương trình ánh sáng của người mù đã chứng thực lời thầy tôi nói.

Khi bắt đầu chương trình, không một người mù nào trong chúng tôi tin là mình có thể nhìn lại được. Đến nay, ngoài tôi ra, còn có gần ba chục người mù nữa thấy lại không gian sinh hoạt ở nhiều mức độ khác nhau, trong tổng số năm mươi hai người theo học. Thầy bảo tôi: Chúng ta đi con đường chưa ai đi, làm công việc chưa ai làm. Người mù đã bỏ cả hai mắt có thể nhìn lại được như người bình thường là điều hoang tưởng. Chúng ta sẽ biến điều hoang tưởng đó thành hiện thực.

Cuốn sách này kể về thế giới riêng của thầy trò chúng tôi, một thế giới nhân loại chưa hề biết.

A, con kiến! – Tôi buột kêu lên – Thầy ơi, có phải kiến đang bò trên mặt đường không ạ?

Lúc đó thầy trò tôi đang ngồi nghỉ.

Thầy bảo tôi:

– Tú thử xem có thứ gì ở quanh không?

– Thầy ơi, em thấy ở đây có nhiều kiến lắm. – Tôi nói – chúng là kiến đen, nhỏ như đầu kim khâu và chạy rất nhanh.

Vừa nói, tôi vừa chăm chú theo dõi những chấm đen nhỏ xíu đang di chuyển quanh chân.

Thầy cười, bảo:

– Tú thử bắt cho thầy một con xem nào!

Tôi rình chụp, nhưng hụt. Nó chạy quá nhanh.

Chúng tôi đang ở Côn sơn.

Đi tập với thầy lần này có tôi, chú thương binh hỏng mắt Hoàng Văn Bạo, chú giáo sư mù Chu Xuân Anh, Thầy đặt những yêu cầu rất khắt khe.

Ba người phải sinh hoạt như người có mắt. Chúng tôi bỏ thói quen của người mù: không dùng gậy, không quờ quạng trong khi sinh hoạt, đi lại. Phải nhìn thấy trước những vật cần tìm và cầm đúng vật đó. Phải nhìn thấy đường mình đi, vật chướng ngại trên đường, nơi mình đến, đi ăn cơm, phải tự mình đến bàn ăn khách sạn dọn cho mình, đặt ở bất cứ chỗ nào trong nhà ăn. Khi ăn, không nói tên, vị trí các món, gắp đúng thứ mình cần, dù thầy luôn thay đổi chỗ để các đĩa, bát.

Lúc bắt kiến là lúc thầy trò tôi đang đi trên đường từ khách sạn đến Côn Sơn. Tôi đi một mình. Chú Bạo và chú Anh thấy chưa rõ lắm, đi cùng nhau. Thầy tôi lúc đi trước lúc đi sau, khi bên phải khi bên trái, tách khỏi nhóm. Thầy bước rất nhẹ. Chúng tôi không thể dựa vào tiếng động để định hướng.

Tới gần chùa, tôi đã thấy bức tường bao. Tường quét vôi sáng màu. Mưa gió để lại những vết rêu xanh loang lổ. Cổng chính của chùa có ba mái cong. Mái lớn ở giữa.

Thầy bảo chúng tôi đi vào lối cổng chính. Chú Bạo, chú Anh đi trước. Tôi theo sau. Thỉnh thoảng tôi nhắc đường cho các chú.

Chúng tôi vào sân chùa. Có rất nhiều người đi lại. Hầu hết những người bán quán biết thầy trò chúng tôi từ lâu. Họ ngạc nhiên thấy ba chú cháu đi lại khá tự nhiên, không có người dắt như mọi lần. Qua tam quan có nhiều bậc lên xuống, chúng tôi ra sân giữa ngồi nghỉ.

Thầy hỏi tôi:

– Tú xem có mấy người, đàn ông hay đàn bà, đang đi về phía chúng ta?

– Dạ, em thấy có bốn người, hai nam, hai nữ. Trong đó có một người khá béo.

Chú Bạo tiếp lời:

– Người béo là đàn ông. Bốn người đều còn trẻ.

Thầy cười:

– Cả hai chú cháu đều đúng!

Chúng tôi ra về, qua một cửa ngách nhỏ, tự tìm lối cũ, ra cổng chính, Thầy bảo ba chú cháu tìm đến quán ăn có tên Xuân Hồng.

Thấy khách quen, bà chủ quán tươi cười chạy ra đón. Bà định dắt chúng tôi. Thầy tôi ngăn lại, bảo: “Cô để mọi người tự vào”. Bà chủ ngơ ngác, càng kinh ngạc hơn khi thấy chúng tôi tự tin bước qua bậc thềm, đến thẳng chỗ ngồi. Khi bia được rót ra, thầy bảo chúng tôi cầm đúng cốc của mình, chỉ đúng ngấn bọt, ngấn bia rồi mới được uống…

Hồi mới gặp thầy, tôi chưa biết uống bia.

Tôi nhớ rất rõ buổi đầu thầy trò tôi gặp nhau ở Hội người mù Việt Nam. Hôm đó có thầy, mẹ con tôi, vợ chồng bác Nhuận, phó chủ tịch Hội, Hai mẹ con đều rất tò mò. Thầy cho biết: Có một phương pháp tập luyện giúp người mù có thể nhìn thấy lại được. Những người cớ mặt ở đây sẽ là nhóm tình nguyện đầu tiên làm công việc này.

Sau khi trao đổi với chúng tôi, Thầy hẹn sẽ sớm có buổi tập đầu tiên.

Về nhà, tôi nói với mẹ:

– Con không tin. Hay đây là chuyện lừa bịp?

Một tuần sau, ngày 28 tháng 10 năm 1994, bác Nhuận chắc tôi đến học ở nhà bác. Tôi sợ. Tôi nhờ mẹ đến xem họ làm gì, có máy móc, thuốc men không. Nếu cần mẹ sẽ cố gắng giúp hai bác, không để họ làm hại.

Ở nhà bác Nhuận về, mẹ tôi bảo:

– Con cứ yên tâm. Họ không có máy móc gì cả. Chỉ tập khí công thôi.

Từ đó, tôi tham gia chương trình.

Trong mười ngày ở Côn Sơn, chúng tôi vừa chơi vừa tập. Mấy chú cháu hay bày trò đố nhau. Đang ngồi uống nước tôi hỏi chú Anh:

– Đố chú cháu đang làm gì?

– Cậu đang dùng tay bóc kẹo, đưa lên miệng rất nhanh.

Chú Anh vừa cười vừa nói. Tôi cũng cười:

– Cháu có kẹo, muốn ăn vụng cũng không được!

Chú Anh là phó giáo sư, tiến sĩ khoa học. Chú bị mù từ năm 1985 nhưng vẫn tiếp tục giảng dạy ở Đại học Quốc gia Hà Nội.

– Còn bây giờ, đố chú cháu đang làm gì?

Vừa nói tôi vừa trợn mắt, nhe răng, giơ hai tay ra phía trước, làm điệu bộ của con ngáo ộp doạ nạt chú.

– Sao cậu lại trợn mắt lên doạ tôi thế?

Cả bốn thầy trò cùng cười vang.

Còn một người nữa tôi chắc đến chưa nhiều. Đó là chú Bạo. Kết quả tập luyện của chú khá tốt. Bị mù năm 1979, hiện nay gia đình chú đang sống ở khu điều dưỡng thương binh hỏng mắt. Chú tập sau tôi một năm, và cũng không còn hoàn toàn là người mù. Chú thấy không gian sinh hoạt thường xuyên, lúc đúng lúc sai. Tới bất kỳ đâu, chú cũng nhìn thấy được ít nhiều cảnh vật ở nơi đó. Mấy thầy trò đang đi dạo, Thầy hỏi:

– Bạo xem bụi hoa ở bên phải là hoa gi, màu gi?

– Em thấy đó là hoa leo, màu đỏ tím.

Tôi xem vào hỏi:

– Trên gương mặt thầy, chú thấy có gì đặc biệt?

– Có phải trên trán thầy có cái u nhỏ không?

– Vâng. Cháu cũng thấy như thế.

Những sự việc vừa kể xảy hàng ngày.

Con gái chú Bạo, bé Bảo Ngọc thích chơi đùa với bố. Từ khi chú nhìn được thấp thoáng, bé nhất định không cho bố nhắm mắt khi chơi trốn tìm. Vì bé thấy mỗi lần nhắm mắt tập, bố lại nhìn được thứ gì đó trong nhà…

Đã đến ngày thầy trò ra về.

Sáng hôm đó, vợ và bạn chú Bạo lên đón chúng tôi. Thầy chở tôi bằng xe máy. Tôi luôn thấy cảnh vật hai bên đường. chúng tôi ăn trưa ở thị trấn Sao Đỏ. Quán ăn có nhiều dãy bàn. Thầy hỏi tôi:

– Tú xem sau lưng ta có mấy người khách?

Tôi lắc đầu :

– Em không thấy ai cả.

Thầy thử:

– Tú xem lại đi!

Tôi khẳng định:

– Không có người nào cả, Thầy ạ.

– Thế còn các dãy bàn trước mặt?

Cả tôi và chú Bạo cùng trả lời:

– Có hai người, là đàn ông.

Tôi thêm:

– Họ đang quay mặt về phía ta.

– Tôi đưa tay chỉ người đứng gần hai vị khách:

– Ông đang nói đã đứng tuổi, có ria mép!

Nghe kể về mục đích tập luyện và kết quả của chú Bạo, bạn chú nửa ngờ. Sau khi chứng kiến sự việc ở quán ăn, chú tin là chúng tôi nhìn được thật.

2

Là con gái út, tôi được bố mẹ và hai chị rất chiều chuộng. Khi sinh tôi, mẹ tôi rất buồn. Tôi mắc bệnh thiên đầu thống bẩm sinh. Từ nhà hộ sinh, tôi phải vào thẳng bệnh viện để khám mắt. Một tháng rưỡi tuổi, tôi lên bàn mổ lần đầu. Cho đến năm lên mười, tôi còn nhìn được chút ít. mười bốn thì mù hẳn. Hai năm sau, đến đôi mắt chết của mình, tôi cũng không giữ được.

Cuộc sống của người mù chìm trong bóng tối vĩnh viễn. Nó làm cho con người mất hết tự chủ, cùng quẫn, mất phương hướng. tất cả đều u u, minh minh. Tôi trở thành người trì độn, ốm yếu.

Mẹ tôi thường nói:

– Nếu con nhìn lại được, mẹ là người mẹ hạnh phúc nhất trên đời.

Biết bao lần tôi tự hỏi: “Vì sao mình bị mù? Sao số phận lại bất công đến thế?”

Tôi không bao giờ tìm được câu trả lời, và bị mù mãi mãi, nếu tôi không gặp thầy.

Gia đình tôi ở làng Láng, vùng đất này nổi tiếng một thời về nghề trồng rau gia vị. Bố mẹ tôi cùng là kỹ sư vô tuyến điện. Cuối năm 1989, bố tôi mất trong một tai nạn giao thông. Mẹ tôi là người đàn bà tần tảo. Một mình bà chèo chống, nuôi chúng tôi khôn lớn.

Dù rất thương tôi, nhưng cả nhà đã mất hy vọng, không tin tôi có thể nhìn lại được. Nhưng thấy tôi ngày càng vui vẻ, khoẻ mạnh trưởng thành hơn, gia đình tạo mọi điều kiện để tôi tham gia Chương trình.

Lần đầu tiên tôi thấy hình ảnh là vào tháng 2 năm 1995. Tôi thấy cả khổ người thầy, khuôn mặt xương xương, nước da khá đen. Thầy mặc áo bludông màu ghi sáng, vải bóng.

Hồi đó, chúng tôi học khí công, môn tĩnh công ý thức và tin rằng phương pháp đó có thể mang lại ánh sáng cho người mù. Tôi và bác Nhuận đôi lúc thấy được hình ảnh có thực. Kết quả đó giúp thày trò chúng tôi quyết tâm đi tiếp. Nhưng càng đi chúng tôi càng thấy khí công không phải là phương pháp riêng của người mù, không bao giờ giúp được người mù sinh hoạt như người sáng mắt…

Nếu gặp, các bạn sẽ thấy Thầy tôi là người đàn ông cao gầy. Mẹ tôi nhận xét:

– Thầy con mà gầy chút nữa, giống hệt ông già tu luyện trên đỉnh Tuyết Sơn!

Thầy ăn ngày càng ít.

Thầy vừa là thầy, vừa là người bạn lớn tuổi của tôi.

Vợ Thầy, cô Tưởng bị bệnh huyết áp, thiểu năng tuần hoàn não, tiền đình rối loạn rất nặng. Cô đã chạy chữa tây y, đông y, song sức khoẻ ngày càng xấu. Thầy chuyển hướng, tìm một phương pháp dưỡng sinh khác để giúp vợ. Việc đó đã dẫn Thầy đến với người mù.

Có lần tôi đã hỏi thầy:

– Tại sao Thầy làm và làm được công việc khó khăn này ạ?

Thầy trả lời ngắn gọn:

– Vì Thầy cũng mù, Tú ạ. Thầy mù sự thật.

Thầy tôi luôn hài hước. Cả nhóm tập từ già đến trẻ đều theo Thầy gọi nhau bằng cụ. Cụ Hưởng, tám mươi bảy, cao tuổi nhất. Tôi, cụ Tú, hai mươi ba tuổi. Cụ Thầy năm mươi chín tuổi.

Nhóm tập đầu tiên của cả chương trình được gọi tắt là Nhóm Mắt. Ngoài số người mù hẳn, còn có ba người sắp loà và năm người tinh mắt (Thầy gọi là đội xe ôm) cũng là thành viên của nhóm.

Tôi út ít nên được Thầy và các cụ thương.

Thỉnh thoảng Thầy khen tôi trước lớp và tặng phiếu Bé ngoan khủng khiếp. Cụ Nhuận được Thày gọi là đức thánh Nhộng. Cụ Dương trưởng tràng, mỗi lần nghe Thày giảng lý thuyết, rên lên: Mênh mông lắm bằng giọng khàn đai ra bất thường. Thày gọi trưởng tràng là cụ Mênh-mông.

Cái tên đức thánh Nhộng bắt nguồn từ tư chất và tính cách quyết liệt của cụ Nhuận. Vì cụ họ Trần, vì sợ nhầm lẫn với đức thánh Trần, thầy gọi chệch là thánh Nhộng. Cụ bị thương bỏ hai mắt, hai bàn tay không còn nguyên vẹn từ năm 1953. Vượt qua tật nguyền, cụ học đại học với người sáng mắt, có bằng cử nhân Văn khoa.

Có thể nói, không có cụ thì không có hội người mù Việt Nam. Đây là tổ chức duy nhất có thể giúp đỡ chút ít cho những người khốn khổ.

Cụ Nhuận nhìn chưa ổn định, chưa thường xuyên. Cụ đã thấy nhiều người và tả gương mặt, trang phục, cử chỉ của họ khá chính xác. Trong một lần ngồi họp, cụ ngắm nghía người phụ nữ đang nói trên diễn đàn, thầm nghĩ: Sao người đâu mà xấu nhỉ! Cụ tả cho cô thư ký nghe diện mạo người đang nói:

– Bác nhìn thấy thật à?

Cô thư ký tròn xoe mắt hỏi.

Sau nhiều năm sống với nhau, đến năm 1996, cụ mới nhìn thấy gương mặt vợ.

Dù vậy, ở hội người mù ít ai tin cụ Nhuận đã nhìn lại được. Cụ tả mọi người lúc đúng lúc sai, thường sai nhiều hơn đúng.

Không giống cụ Nhuận, cụ Anh không ít lần nhìn thấy khá rõ, song bản thân cụ không chưa thật tin ở kết quả của mình. Là một nhà khoa học thực nghiệm, cụ Anh rất khó chấp nhận một phương pháp không có sự kế thừa, không sử dụng bất kỳ dạng tri thức nào nhân loại đã từng có và đang có.

Cụ nói:

– Vì tôi và cả nhóm ít nhiều đều có kết quả, nên tôi chấp nhận phương pháp và tiếp tục đi con đường đang đi.

Từ ngày nhìn thấy, tôi thường quan sát mọi người trong các buổi tập. Một lần tôi nói với thầy:

– Cụ Anh có cái trán hói cao.

Thầy gọi với:

– Cụ Anh nghe Tú tả đây – Thầy nhắc to nhận xét của tôi về cụ. Cả lớp cười vang, tôi tiếp tục:

– Sao cháu thấy nó bóng thế hả cụ? Da cụ trắng hồng, môi đỏ mận chín, trông cụ như cụ bà Xuân Anh! Cụ để một nhúm tóc vắt ngược che ngang trán, nhưng làm thế càng lộ cái hói ra.

Cụ An im lặng, vì những người sáng mắt ở lớp công nhận tôi tả rất đúng. Tôi phát hiện có vật gì đó ở trên cái trán hói. Cụ Anh lên tiếng:

– Đố cụ Tú tôi có gì thay đổi?

Tôi cười:

– Dù cụ làm cách nào, cũng không che được cái trán hói!

Sau tôi mới biết, cụ Anh dùng một cái khăn che lên đầu.

Dù rất buồn khổ, và phải sống chật vật trong bóng tối, thật lạ, tôi vẫn không tin là mình sẽ bị mù vĩnh viễn. Cả khi đã bỏ hai mắt. Niềm tin của tôi không dựa vào bất kỳ một cơ sở nào. Nó cứ tự nhiên như vậy. Hồi trước, tôi chỉ biết tự giải thích: Chắc do mình thèm khát ánh sáng quá đấy thôi.

Đến bây giờ ngồi viết những dòng này, tôi vẫn chưa hết ngỡ ngàng về điều kỳ diệu của công việc thầy trò tôi đang làm.

Thầy tôi bảo: Tự nhiên phong phú, hoàn hảo đến thế, hà cớ gì không dự trữ cho người mù cách nhìn không cần mắt.Trên thế giới từng có người mù lái ôtô với tốc độ lớn. Có người bịt mắt, đọc bằng tay; phân biệt màu sắc bằng bàn tay. Hiện tượng đó là gì? Đó chính là thông điệp của tự nhiên nhắc loài người: con người thật sự có khả năng đó. Ta đã đánh mất chúng, vì ta tự tách mình ra khỏi tự nhiên, quay lưng lại; thậm chí tìm đủ mọi cách chống lại tự nhiên.

Người mù luyện tập để lấy lại những khả năng không giới hạn mà Tự Nhiên dự trữ cho mỗi cá thể.

Thời gian đầu, tôi tập có kết quả sớm. Sau chững lại đến gần hai năm. Trong lúc đó, cụ Nhuận lại vượt lên. Tôi hoang mang, chán nản.

Mọi sự bực bõ, tôi đổ lên đầu thầy. Còn Thầy kiên nhẫn đến lạ lùng, nuốt các cơn giận vô lối của tôi. Thầy chấp nhận tôi như tôi vốn có.

Một hôm, Thầy bảo:

– Tú này, thầy thấy em cứ quanh quẩn ở nhà, ngày càng trì trệ. Sáng nào thầy cũng tập đi bộ. Em dậy sớm, thầy qua dắt đi cùng.

– Thầy mặc em. – Tôi gắt – Em chán lắm rồi. Em lúc nào chả đần độn. Thầy cho em nghỉ học.

Tôi bắt đầu nghỉ đến cái chết. Có lần tôi hỏi Thầy:

– Thầy có cách nào tự tử vừa nhẹ nhàng vừa dễ chết không?

Thầy vờ nghiêm túc:

– Nhảy xuống sông. Tú không biết bơi. Đảm bảo không chết, không lấy tiền!

– Em không biết bơi, nhưng xuống cũng chưa chết ngay. Sặc nước sợ lắm!

– Đã không dám chết thì chịu khó mà sống.

– Em không muốn học nữa. Em sẽ tìm cho mình một công việc khác.

– Tuỳ em. Thấy việc gì cần cho mình, cứ làm.

3

Trong những ngày tháng buồn tẻ, chán nản nhất, niềm tin tự nhiên vẫn tồn tại, nó yếu ớt mong manh song vẫn đủ cho tôi thấy được.

Không chỉ cáu giận, nhiều lúc tôi còn thấy ghét thầy nữa. Tại sao Thầy khơi dậy niềm hy vong đã chết ở tôi? Tâm trạng tôi hết sức rối ren. Tôi hoang mang, không định được hướng.

Gia đình tôi cũng góp một phần trong sự rối ren đó.

Bố tôi là con trưởng. Ông bà nội, các cô các chú không yêu quý bố mẹ tôi.

Sau khi bố tôi mất, mối quan hệ giữa các bên càng tồi tệ.

Cuối năm 1993, chú út đem gia đình và đồ đạc đến chiếm đoạt ngôi nhà mẹ con tôi đang ở. Xung đột lên tới đỉnh điểm.

Mẹ con tôi rất buồn khổ. Trong lòng chúng tôi tình cảm ruột thịt đã chết hẳn.

Hai bên không còn muốn nhìn mặt nhau trong nhiều năm. Cuối cùng mẹ tôi lại phải nhờ người ngoài can thiệp để lấy lại ngôi nhà.

Gia đinh lớn đã vậy, gia đình nhỏ của mẹ con tôi cũng có rất ít niềm vui. Người ngoài thấy chúng tôi sống rất hạnh phúc. Người ngoài bảo tôi là cô gái mù gặp may. Ít người mù nào dám ao ước có cuộc sống như tôi.

Nhưng mặc dù được mẹ và các chị chăm lo đầy đủ, tôi vẫn thấy cô đơn bên những người ruột thịt. Cuộc sống của tôi hoàn toàn lệ thuộc, trong cả những sinh hoạt nhỏ nhất. Tôi ngày càng dấn sâu vào thói quen của người mù. Tôi rất sợ bẩn. Làm việc gì cho cá nhân hoặc gia đình, tôi vụng về lẩn mẩn rất lâu, chỉ sợ làm không sạch. Dù rất cố gắng, tôi vẫn thường xuyên gây phiền toái và bực bõ cho mọi người. Ngay trong bữa ăn cũng vậy. Bát cơm của tôi chất ngất thức ăn. Tôi loay hoay vụng về. Mỗi lần để rơi thứ gì đó xuống quần áo hay xuống đất, lại có tiếng thở dài. Tôi không bị mắng. Nhưng tiếng thở dài làm tôi lúng túng.

Tình thương của mẹ và các chị làm tôi đau đớn. Biết thân phận, tôi không dám oán trách. Tôi hiểu mẹ và hai chị rất thương, muốn tôi ăn càng nhiều càng tốt. có điều, dường như mọi người quên tôi là đứa mù.

Mẹ chăm sóc tôi từng li từng tí. Miếng ăn ngon nào cũng dành phần con. Trước những lần phải đi xa hướng dẫn khách du lịch (mẹ tôi biết nhiều ngoại ngữ), mẹ để ra cả buổi đi chợ, chế biến các món ăn bỏ vào tủ lạnh. Bà bỏ tiền triệu làm lưới sắt kiên cố che chắn kẻ gian. Nhiều buổi tôi ở nhà một mình.

Vậy mà tôi vẫn hay gắt gỏng cãi mẹ. Tôi biết mình là đứa không ra gì mà không sao sửa được.

Những lần đi Côn Sơn, mãi tôi mới quen được cách chăm sóc miếng ăn cho người mù của Thầy. Tôi cứ thấy bát cơm của mình chống chếnh, vì nó không đầy. Ăn hết miếng thức ăn này, Thầy mới gắp miếng khác. Khi đã quen, tôi thấy mỗi bữa ăn của mình là một niềm vui. Lại thấy qua việc nhỏ này, Thầy nói đúng: Thầy rất gần với người mù. Thầy biết người mù nghĩ gì, cần gì.

Đi tập xa vài cây số, nhiều buổi phải leo núi, Thầy đi cùng mọi người. Bên thầy ai cũng thấy thoải mái, tự tin. Cụ Vũ Dương có hai câu thơ về việc này:

Chỗ bằng Thầy để trò đi,

Gập ghềnh Thầy bước quản gì gian nan.

Tôi sống cùng gia đình, song những việc tôi làm, điều tôi nghĩ không san sẻ được với ai. Dù không ít lần mẹ và các chị chứng kiến tôi nhìn thấy, nhưng họ vẫn không tin. Khoảng cách giữa tôi và người thân xa dần. Có cách nào thoát khỏi sự va chạm hàng ngày và xoá đi khoảng cách kia không?

Thầy tôi bảo:

– Em cần thay đổi cách ứng xử.

– Nhưng em không biết làm thế nào.

– Ta làm công việc không ai hiểu. Mẹ và các chị em chưa tin là đúng thôi. Chương trình ánh sáng của người mù không chỉ giúp người hỏng mắt nhìn lại, mà còn làm cho họ có được sự tự chủ, dần dần thấy sự thật như nó vốn có.

– Vâng, em hiểu. Nhưng những vướng mắt hàng ngày của em cứ như mối bòng bong, càng gỡ càng rối.

– Em đừng bao giờ bằng cứ vào tiêu chí của mình hay của người khác để đánh giá sự vật, sự việc. Không bao giờ sợ đúng hay sai. Phải luôn đối mặt với sự thật, chấp nhận như nó là thế. Đây là cuộc vật lộn từng giờ từng phút với mình, để thoát khỏi tăm tối.

Làm theo lời thầy, tôi thấy cuộc giằng co với mình còn khó khăn hơn nhiều lần việc tập luyện để nhìn lại. Nhưng nếu không làm được việc đó thì dù có nhìn được, vẫn cứ là người mù. Mà mù sự thật còn thảm hại hơn mù ánh sáng.

Sự va chạm trong gia đình nhiều hình nhiều vẻ. Làm chủ được tình thế này, sự việc kia, nó lại thay hình đổi dạng. Tưởng đã vứt bỏ được nếp nghĩ, cách ứng xử tăm tối với mình, với mọi người, nhưng rồi nó trở lại vào những lúc bất ngờ nhất. dù vậy, tôi vẫn nhích mỗi ngày một chút trong việc làm chủ mình.

Quan hệ giữa tôi và gia đình dễ chịu hơn.

Cùng với hạnh phúc nhìn lại được, tôi còn có thêm niềm vui hiểu thêm được mình và mọi người.

4

Giữa năm 1997, chúng tôi có hơn một tháng ở Côn Sơn.

Thày đưa ra một hệ thống bài tập đồ sộ. Khoảng 150 bài không trùng lặp. Sau này, chúng tôi mới hiểu, thày muốn tất cả đi đến tận cùng phương pháp ảo giác.

Thày giảng:

– Chỉ có con người mới có ảo giác. Con người bịa tạc ra thế giới tâm linh, bịa tạc ra các lực lượng siêu nhiên mang hình hài của các đấng thần phật, chúa trời với hằng hà các thần linh, ma quỷ ở các phe phái luôn kình chống nhau. Con người chế tạo ra thế giới ảo giác, vĩnh viễn làm nô lệ cho thế giới đó. Tất cả các phương pháp, môn phái gọi là huyền bí, cao siêu nhất đều dựa trên ảo giác. Nếu chúng ta không tìm được đường đi riêng, phương pháp riêng thì người mù không bao giờ hy vọng nhìn lại được…

Nửa tháng đầu, mỗi ngày chúng tôi tập ba buổi. Các cụ lắc đầu lè lưỡi:

– Thày mình ghê gớm thật!

Tình cờ nghe được, Thày cười:

– Tôi đang đánh lừa tôi và các cụ, dồn mọi người chui vào bụi rậm. Chúng ta chưa có đường ra, nhưng nhất định sẽ có.

Để mọi người khỏi nghĩ vẩn vơ, chú ý vào việc học, Thày bảo cả nhóm làm thơ. Đề Thày ra là Mưa Côn Sơn. Thày gương mẫu làm trước. Tôi nhớ được khổ đầu:

Trời mưa – Mưa ở Côn Sơn

Nghe như vọng lại tiếng buồn ngàn xưa

Mưa, hay nước mắt ông cha

Hứng vào tim muốn khóc oà cùng mưa.

Các cụ hăng hái hưởng ứng. Cụ Kiều còn xin thày ra thêm đề Nắng Côn Sơn. Thày làm trước bốn câu:

Nắng nào cũng nắng mặt trời

Riêng Côn Sơn nắng từ người nắng ra

Nhiều năm bóng tối quây ta

Giờ ta cho nắng chan hoà nhân gian.

Bấy giờ, trong nhóm đã có một số cụ thấy lại ánh sáng. Có những cụ nhìn thấy cơ thể mình sáng trong.

Ngày nào cũng có vài ba bài thơ được sản xuất. Người mù chúng tôi bơi lội trong thơ.

Giữa đợt, Thày đưa ra phương tiện giúp người mù từng bước cải thiện sinh hoạt. Đó là dạng thông tin không có cấu trúc, kết hợp với hiệu ứng vật lý. Tuỳ theo cách dùng của mỗi người, nó có thể là mũi tên ánh sáng, hành lang ánh sáng, bản đồ địa hình ánh sáng và hiệu ứng kéo. Khi người mù đi lại hoặc tìm bất cứ vật gì, tín hiệu sẽ chỉ dẫn. Đến một nơi hoàn toàn xa lạ, bản đồ địa hình ánh sáng thực giúp xác định chỗ đang có mặt và con đường cần tìm. Gặp vật cản, tính hiệu báo dừng lại và chỉ dẫn cách tránh.

Gần chỗ chúng tôi ở có mấy quán hàng. Sau mỗi buổi học, thầy trò thường ra uống bia hơi. Thày yêu cầu mọi người bỏ gậy, không người dắt, dùng tín hiệu dẫn đường tìm ra một quán chỉ định. Những người sáng mắt đi sau một quãng để canh chừng. Mọi người lần lượt tìm được quán. Còn lại cụ Dương đứng ngơ ngác ở ngã ba đường. Người đi sau cụ Dương là anh Tuấn. Anh nhắc:

– Cụ tìm ra quán nhà Chung. Tất cả đang đợi cụ ở đó.

Cụ Dương hướng mặt một lúc về phía này, lúc phía khác, hỏi vào chỗ trống không:

– Sao tôi thấy tín hiệu nó cứ mờ mờ, rối rối?

– Vì cụ vẫn chưa tự tin. Cụ cứ bình tĩnh theo dõi tín hiệu ánh sáng chỉ đường và chỗ cần tới. – Anh Tuấn nói.

Những người ngồi trong quán nghe kể về tình thế của cụ Dương, cười thích thú. Thày bảo:

– Tuấn ta đang thản nhiên ngồi hút thuốc lá bên đường. Ông già đã quay mặt về phía này. Các cụ hãy im lặng!

Khoảng mười phút sau, cụ Dương lò dò đi tới. Tìm được ghế ngồi, cụ thở phào:

– Thật là toát cả mồ hôi!…

Thày tôi bảo:

– Người mù muốn nhìn lại như người sáng mắt, không cần bất cứ một phương tiện nào. Chúng ta buộc phải dùng phương tiện ánh sáng để bước đầu cải thiện sinh hoạt. Mỗi người hãy biến nó thành của riêng mình, dùng nó theo cung cách hợp với mình.

Các thành viên của Nhóm Mắt phải mất thời gian khá dài mới dùng được phương tiện thầy chỉ dẫn.

Tháng 1 năm 1998, chúng tôi đi tập nhờ ở Trung tâm Phục hồi chức năng của người mù. Thầy tổ chức một cuộc thi, đông người sáng mắt chứng kiến, có lập biên bản và chấm điểm. Ba đề thi gồm có:

+ Đề 1: Lần lượt tìm bốn cây có đánh số thứ tự trồng ở bốn góc sân rât rộng. Người dự thi được dẫn tới nơi bất kỳ trong sân. Quay mấy vòng tại chỗ. Tìm được cả bốn cây, được điểm 10.

+ Đề 2: Trong gian phòng rộng không đồ đạc, các lon bia đặt trên ghế. Người dự thi không được định hướng trước, phải đến tận nơi, đặt tay vào lon bia. Nếu chệch, tuỳ cự ly sai, bị trừ điểm.

+ Đề 3: Có nhiều người đứng áp tường. Người dự thi không được định hướng trước, đến tận nơi tìm đúng người có tên được chỉ định.

Những người dự thi gồm có các cụ Vũ Dương, Chu Xuân Anh, Hoang Văn Bạo, Trần Công Nhuận, Hoàng Hồng Quảng, Đinh Văn Hạ và tôi. Có tám người giám sát và tám người chứng kiến. Trong cả ba đề thi, người đạt điểm cao nhất là cụ: Hoang Văn Bạo, Đinh Văn Hạ: 29 điểm. Đạt từ 25 đến 28 điểm, có cụ Dương, cụ Quảng. Cụ Nhuận được điểm mười, thấp nhất. Cụ Anh 18 điểm; còn tôi, 16.

Thời gian thi bắt đầu từ 15h, kết thúc vào 16h20. Đó là ngày 21/01/1998. Tất cả mọi người có mặt đều ký tên vào biên bản.

Tôi nhớ hôm đó còn có cụ Nguyễn Nam Thắng, dù mới học được nửa năm. Không dự thi chính thức, song cụ dùng tính hiệu tự tìm được người chỉ định, tìm được cây và lên gác hai, về đúng buồng của mình.

Kết quả của cuộc thi làm người mù tham dự và cả những người còn lại trong nhóm rất phấn chấn.

Chương trình ánh sáng của người mù đã bắt đầu tìm thấy được đường đi riêng của mình.

5

Từ tháng 1 năm 1999, Nhóm Mắt Nguyễn Thái Học chia cụm nhỏ tự tập. Thầy muốn mọi người tự chủ hơn. Nhóm tôi có vợ chồng cụ Nhuận, Cụ Nhung, tôi (ít lâu sau có thêm cụ Giang). Cứ đến sáng thứ 7, tôi phải tự tìm đường sang nhà cụ Nhuận. Cùng đi có Thày và cụ Nhung. Đường đi trong làng hẹp, ngoắt ngoéo, gần mười lối rẽ; có những chỗ rất bẩn. Tôi vừa đi vừa quan sát quang cảnh xung quanh và phải tránh được các vũng lầy, nước đọng. Trong khi đi tôi không chỉ thấy hình ảnh như người sáng mắt. Nhiều khi hình ảnh mất, tôi vẫn thấy được đường đi. Hiện tượng này lặp đi lặp lại nhiều lần. Thầy giải thích:

– Người mù không nhất thiết nhìn được như người còn mắt, mà còn nhìn được bằng nhiều cách khác.

Nếu không trải qua, không ai có thể hình dung được các cung cách nhìn như Thày bảo.

Từ nhà tôi sang nhà cụ Nhuận có hai cái chợ tạm (chợ cóc) họp ngay trên đường đi. Người mua kẻ bán tấp nập không cần biết đến ai. Thầy phải dắt tôi qua những đoạn đó.

Không phải lần nào tôi cũng tìm được ngay nhà cụ Nhuận.

Trong các buổi tập, Thầy thường đưa ra các bài tập bất kỳ, để ở vị trí không báo trước cho mọi người quan sát. Thói quen nhìn bằng mắt có ở mọi loài động vật. Tuỳ cấu trúc nhãn cầu, mỗi loài có thị lực và thị trường khác nhau, nhưng đều hướng về phía trước. tuy chỉ còn hai hốc mắt nhét bông, cụ Nhuận vẫn căng thẳng quan sát về phía vật cần thấy. Cụ cứ khăng khăng phải có hình ảnh mới là nhìn được. Vì thế cụ nhìn thường sai. Có lúc cụ nhìn thấy hai cụ Dung, mỗi cụ ngồi một nơi! Có lúc cụ nhìn một cái chén thành ba. Cụ là người duy ý chí, đã làm gì phải làm bằng được theo ý mình. Điều đó cản trở rất nhiều đến kết quả của cụ.

Thày yêu cầu mọi người bỏ dần thói quen của người mù, giảm bớt việc dùng gậy để đi lại, sinh hoạt. Cụ dứt khoát bỏ thẳng. Bao phen cụ bươu đầu sứt trán vì chưa nhìn rõ. Có lần cụ mất gần hai giờ đồng hồ chỉ để tìm cái cốc uống nước trên bàn làm việc. Cụ bần thần bứt rứt quan sát đi quan sát lại từng ô mặt bàn. Giá cụ chỉ cần dùng tay kiểm tra thì biết là không có cái cốc đó: nhân viên phục vụ đã đem đi từ sớm!

Nhìn không gian sinh hoạt bằng hình ảnh, tôi khá hơn cụ Nhuận. Có lần đi đường Thày hỏi:

– Tú xem phía trước có vật chướng ngại gì?

– Em thấy có chiếc xe đạp thồ. Sau xe có hai cái sọt. Người chủ xe là phụ nữ.

– Hoàn toàn đúng.

Lần khác Thầy lại hỏi:

– Từ rất xa, có cái gì đang đi chậm về phía ta?

Tôi trả lời ngay:

– Một chiếc xích lô, Thầy ạ!

– Đúng.

Những lần tôi nhìn thấy bằng hình ảnh như kể trên đúng rất nhiều. Nhưng sai cũng không ít.

Tôi và Thầy đi dạo trong ngõ nhỏ. Thầy hỏi:

– Tú xem ở bên phải phía trước có gì không?

– Có hai bà khoảng chừng 50 tuổi đang đứng nhìn thầy trò mình.

Thầy cười:

– Nếu hai cô bé đó sống thêm 40 năm nữa thì sẽ ở cái tuổi như em nói.

Hay ở Côn Sơn, có lúc tôi nhìn sai đến nực cười.

Trên đường từ quán ăn về, Thầy hỏi tôi và cụ Hạ.

– Các cậu. Ở phía xa bên trái đường, có những em gì?

Tôi nhanh nhảu:

– Có một thanh niên khoảng 18 tuổi đang đi xe đạp.

Một lúc lâu không thấy cụ Hạ nói gì, Thày bảo:

– Tú nói đúng. Em ấy cũng trạc tuổi thanh niên. Nhưng em không đi xe đạp, vì em là cậu gà trống choai!

Thầy kể chuyện đó với nhóm Mắt. Các cụ được bữa cười hả hê. Thầy bình luận thêm:

– Nói cho cùng, Tú không sai là bao. Về giới tính là đúng. Tầm tuổi cũng đúng, và em gà cũng đang… đạp.

Mấy thầy trò ngồi uống nước ở quán bên đường. Bỗng Thầy hỏi:

– Các cậu nhìn xem em gì sắp đi vào quán.

Một lần nữa tôi nhanh nhảu:

– Một con chó cái!

Thầy cười chảy cả nước mắt, không nói gì. Lâu sau, Thầy khẽ nói đủ mấy người nghe:

– Tú nhìn cực kỳ chính xác! Em vừa rồi là bà chủ quán đi chợ về!

Những người mù trong nhóm Mắt, cũng như tôi, nhìn bằng hình ảnh lúc đúng, lúc sai. Nhưng cụ Hạ không cần hình ảnh, không cần ánh sáng cũng có thể thấy không gian sinh hoạt. Cụ Hạ cũng đã bỏ cả hai mắt.

Tháng 11 năm 1999, Thầy đưa tôi, cụ Hạ, cụ Bạo lên Côn Sơn. Cụ Hạ là một trong những người chậm có kết quả nhất nhóm. Trước khi đi, cụ hầu như không hy vọng là mình có thể thấy được. Ba ngày đầu, cụ dùng hiệu ứng kéo và các tín hiệu thông tin khác để sinh hoạt. Đến ngày thứ tư, cụ bắt đầu thấy không gian sinh hoạt không cần hình ảnh. Tôi đã trải qua nhiều cung cách nhìn sớm hơn mọi người. Cách nhìn của cụ Hạ là thấy bằng thông tin không hình ảnh. Thầy đã từng giải thích nhiều về hiện tượng này.

Cứ đến buổi trưa, thầy trò tôi ra quán uống bia. Ông bà chủ biết chúng tôi đang tập để nhìn lại. Họ tò mò theo dõi thầy trò từ mấy năm nay. Họ nói:

– Nếu không tận mắt chứng kiến, không ai có thể tin người mù nhìn được.

Cụ Hạ là người rất kiên nhẫn. cụ luôn tự tin. Dù thấy đúng hay sai, cụ cũng nói theo ý cụ. Điều này đã giúp cụ xác định được cách nhìn độc đáo của mình.

Chúng tôi ngồi uống bia trong vườn vải sau quán. Thầy hỏi:

– Ba chú cháu xem sau lưng ta có gì?

Tôi chỉ tay ra phía sau, chếch bên phải:

– Em thấy nó ở đây, nhưng hình ảnh không rõ. Chưa biết là cái gì.

– Nó là đống gạch – Cụ Hạ khẳng định.

Vừa lúc đó ông chủ quán đi qua. Thầy nói với ông:

– Cụ Hạ bảo kia là đống gạch, ông xem có đúng không?

Đã quen với cách nói vui của mấy thầy trò, ông chủ cười, trêu:

– Không. Đấy là đống đất.

– Thế thì em sai rồi – Cụ Hạ cười theo.

Ông chủ tiếp:

– Đống đất đóng khuôn từng viên rồi nung.

Cụ Hạ phấn khởi:

– À, ra thế…

Kiểu nhìn của cụ Hạ, tôi cũng gặp nhiều lần. Ngồi xem ti vi, có lúc tôi không nhìn thấy hình ảnh như người có mắt. Nhưng khối hình, kiểu dạng, màu sắc và mọi diễn biến trên màn hình, tôi vẫn tháy rõ. Thậm chí nhiều buổi làm việc qua điện thoại, tôi còn xem được ti vi ở nhà Thầy. Thường thì hai thầy trò vừa xem một chương trình, tôi tắt âm thanh và tường thuật những diễn biến trên màn hình. Một số lần khác, tôi không mở máy, chỉ xem ti vi ở nhà Thầy. Những lần nhìn rõ, tôi thấy chi tiết gương mặt, dáng người, tuổi tác, trang phục của các nhân vật. Thậm chí cả sắc thái tình cảm đang diễn biến ở người này người khác.

Những đồ vật hoặc khung cảnh xa lạ tôi cũng nhìn thấy được bằng thông tin rõ ràng và chi tiết như vậy.

Cụ Bạo cũng là người kết hợp được cách nhìn bằng hình ảnh và thông tin không hình ảnh. Cụ Hạ chỉ thấy không gian sinh hoạt bằng thông tin không hình ảnh, nhưng đạt được độ chính xác cao.

Còn một số cách nhìn khác của người mù, tôi sẽ kể sau.

Tập ở lớp, cụ Nhung hỏi:

– Mời các cụ nhìn xem cháu Thu đứng ở đâu?

Thu là con gái cụ Bích, từ Hà Tĩnh ra học để chữa bệnh tâm thần.

Cụ Hạ trả lời:

– Thu đứng cạnh cửa sổ, quay mặt ra ngoài.

Cụ Nhung lại hỏi:

– Chú xem ở dưới cửa sổ áp tường có gì?

– Có hai cánh cửa chớp đặt nằm nghiêng. Bên trong sát tường là cái nạng của Thầy, cũng đặt nằm.

Cụ Nhung ngạc nhiên thừa nhận:

– Hoàn toàn đúng! – Song cụ lại nói, có lẽ để kiểm tra cụ Hạ:

– Cháu chỉ thấy có hai cánh cửa sổ.

Chính cụ cũng chỉ nhìn thấy như thế. Cụ đến tân nơi, lật hai cánh cửa: đúng là có hai nạng ở trong.

Trong lần đi Côn Sơn tháng 5 năm 1997, tôi và Thầy bị ngã xe. Thầy xây xát khắp người, cử động đi lại khó khăn. Thầy rất đau, nhưng không nói ra. Anh Thắng đi đặt làm cho Thầy cái nạng gỗ. Không muốn học trò nghỉ học, ngày ba buổi, Thầy nén đau, chống nạng khập khiễng đi dạy. Các cụ rất xót xa. Mỗi lần dùng nước rửa vết thương cho Thầy, cụ Dung (họa sĩ sáng mắt) vừa rón rén vừa xuýt xoa:

– Thầy đau một, em thấy đau mười.

Các vết thương của Thầy se miệng rất nhanh, dù không dùng thuốc. Vài ngày sau Thầy bỏ nạng đi lại bình thường. Hơn một tuần, Thầy lại dẫn các trò leo núi để tập. Mọi người ngạc nhiên, quyết định giữ lại cái nạng, để ở phòng tập Hà Nội.

Đầu tháng 7 năm 1999, anh Hội, Chủ tịch quận hội người mù Cầu Giấy đến đề nghị Thầy mở lớp. Học viên hầu hết là người cao tuổi, nhiều bệnh. Một số hỏng mắt, một số sắp loà. Lớp có 14 người, học trong bảy buổi. Thầy, tôi, cụ Dương, cụ Bạo đến hướng dẫn. Hết khoá học, mọi người chia nhóm tự tập.

Giữa tháng 10 năm 1999, quận Cầu Giấy mở thêm lớp nữa. Có 16 người theo học. Cuối năm, hai lớp chia thành ba nhóm tập thường xuyên. Thầy, tôi, cụ Nhung, cụ Tưởng thay nhau đến hướng dẫn.

Dù thời gian học rất ngắn, nhưng kết quả của các nhóm Cầu Giấy vượt trên nhóm cựu trào Nguyễn Thái Học.

Các cụ cao tuổi ở nhóm Cầu Giấy kém trí nhớ. Bài tập vô cùng đơn giản, song các cụ lúc nhớ lúc quên. Về đến nhà, nhiều cụ không biết cần tập cái gì. Nhưng sức khoẻ, bệnh tật của các cụ cải thiện trong thấy.

Điều đáng ngạc nhiên là cả ba nhóm đều lần lượt có người thấp thoáng nhìn lại được.

Trong số đó Trang có kết quả rất nhanh và ổn định. Trang bị mù bẩm sinh. trước tuổi đi học, Trang chỉ phân biệt được sáng, tối. Chỉ vài tháng sau, Trang đã đi lại, sinh hoạt rất tự tin.

Trang nhìn bằng thông tin. Có lần tôi bảo Trang:

– Chị nghe chị Nhung nói, em nhìn được khá nhiều lần chính xác. Em tả chị đi.

Trang nói ngay:

– Chị Tú mặc áo khoác màu tối, có đai bó. Quần cũng màu tối.

– Em nói hoàn toàn đúng.

Hôm đó trời rét. Tôi mặc áo khoác dày màu đen, quần màu tím than.

Sau đó Trang còn tả mái tóc, nước da của tôi khá chính xác.

Trang năm nay 21 tuổi, là thành viên trẻ nhất Chương trình cho đến bây giờ (tháng 3 năm 2000). Gần mười năm trước, tôi học cùng Trang ở trường dành cho học sinh mù Nguyễn Đình Chiểu. Trang là cô gái mạnh dạn, vui vẻ. Trang béo từ lúc còn bé. Càng lớn cô càng tròn như quả bóng.

Trang vào phương pháp rất thuận. Những kết quả của Trang có được cao hơn những thành viên đã học bốn, năm năm ở nhóm Nguyễn Thái Học.

Đầu tháng 2 năm 2000, Trang đã có thể tự mình nhắt xe đạp đi được năm sáu chục mét.

Ngày 26 tháng 3 năm 2000, lần đầu Trang đến nhà tôi chơi. Cụ Tưởng đèo Trang.

Ngay sau khi ngồi vào sa lông phòng khách, Trang chỉ tay về phía đầu bàn nước:

– Cháu thấy có vật gì đó cao cao, khá to.

Cụ Tưởng bảo:

– Đó là cái bình đựng nước.

Trang còn thấy cái tủ thấp, một khối to đặt cạnh tường (cái tủ ly và chiếc xe máy). Tôi đưa Trang ra sau nhà hỏi:

– Em xem phía trước có gì?

Trang trả lời ngay:

– Một bức tường cao.

– Phía dưới tường?

– Một cái vườn nhỏ.

– Có cây không?

– Nhiều cây nhỏ, trồng thưa.

Đúng là vạt vườn nhỏ mẹ tôi vừa trồng ớt.

Tôi lại đưa Trang đi, hỏi tiếp:

– Em có nhìn thấy gì không?

– Đó là cái nhà.

– Mấy tầng?

– Một.

– Cửa ra vào đâu?

Trang giơ tay chỉ. Chị gái tôi đang ở trong bếp (nhà Trang vừa nói là bếp nấu ăn) xác nhận là đúng. Trang còn bảo:

– Xế bên cửa có vật gì trăng trắng.

Chị tôi nói:

– Đó là ghế nhựa.

Lại đi.

– Trước mặt em có gì?

– Cái cây rất to. Cạnh có một bức tường thấp hơn tường vừa rồi.

Chị tôi và bà bác tôi thấy lạ, đi theo. Chị tôi bỗng hỏi:

– Chị hỏi thật em nhé. Mắt em còn nhìn thấy nữa không?

– Không. Em bị mù bẩm sinh, không nhìn thấy gì cả.

– Thế sao em nhìn đúng thế?

– Em cũng không biết nữa!

Vườn nhà tôi rộng. Sân trước nhà trồng một số cây ăn quả. Đi đến đâu, Trang cũng chỉ đúng, tả đúng kích thước, độ cao, chiều rộng của tán lá và phân biệt được các cây cùng giống hoặc khác giống. Trang còn nhìn thấy cả cái cầu thang xây ngoài trời, cái giếng đào, thấy đồ đạc ở một số buồng khác trong nhà.

Trong suốt thời gian đó, Trang nhìn rất ổn định. Tôi mừng. Trang đã vượt tôi.

6

Những người mù tôi quen, không biết ai khổ hơn ai.

Như vợ chồng cụ Nhuận.

Hai người lấy nhau trong thời chiến tranh. Sống được đã khó, họ còn sinh ba người con. Hồi ấy còn chế độ tem phiếu1. Mỗi lần đi mua hàng, cụ Nhuận quàng đằng trước cái túi to, sau lưng là chiếc ba lô bộ binh, chống gậy lần mò đến các cửa hàng. Không ít lần cụ phải về tay trắng: cửa hàng không có gì để bán. Mua được cũng khổ. Túi trước túi sau căng phồng các loại rau, củ, lại kèm mươi cân gạo. Cụ lần ra bến tàu điện. Tàu đông, không len vào trong được. cụ buộc phải đứng ở bậc lên xuống, hai tay nắm chặt vào hai thanh vịn. Có lần cụ phát hiện có kẻ lần tay vào người móc tiền. Nhanh trí,cụ ngồi sụp xuống, luồn rất mạnh qua chân những người đứng gần, lách vào trong. Lần khác bám hụt tàu, ngã bổ chững không dậy được. Trong những cuộc hành trình mò mẫm để lo cái ăn cho cả nhà, cụ bị xe bò cán gãy cả hai chân. Bác sĩ bảo cụ không thể đi lại được nữa. Nhưng ông già bất khuất không chịu thua. Cụ tự làm những dụng cụ đơn giản, kiên trì tập luyện. Cụ lại đi bằng đôi chân của mình, một mình một gậy gõ cửa các nhà chức trách, xin thành lập Hội người mù Việt Nam.

Hay như cụ Dương.

Vợ cụ mất sớm, để lại năm người con nhỏ. Nhà cụ trước kia ở huyện Đông Anh. Sau nhà có vườn mía. Trẻ con hàng xóm thường rình bẻ trộm từ khi cây còn non. Cụ quát đuổi chúng không sợ. Các con cụ đuổi, chúng cứ nhơn nhơn. Cụ phải vác gậy, bảo con dắt chạy vào vườn. Mía vẫn cứ mất. Cảnh này giống nỗi khổ của vợ chồng cụ Nhuận. Khi còn ở tập thể, cụ bà làm được món ăn nào, mấy đứa trẻ rủ nhau lẻn vào ăn sạch. Có bữa, hai cụ phải ăn cơm với muối trắng.

Năm 1980. Sau khi vợ mất được mười năm, cụ Dương đưa các con về ở trong khu điều dưỡng thương binh hỏng mắt. Lương tháng không đủ sống. Cụ đi buôn lậu. Cứ một ông mờ (sắp mù hẳn) dắt mấy ông mù, lên biên giới phía bắc, sang tận Căm-pu-chia buôn hoa hồi, đồng vụn, gỗ bè… Để trốn thuế, các cụ thường phải nhảy xuống khi xe lửa đang chạy chậm vào ga. Cụ mờ quan sát. Các cụ đứng sẵn ở cửa toa. Nghe tiếng hô “nhảy”, tất cả buông tay, lăn lốc trên mặt đất.

Trong các chuyến đi, khi hàng đã dể gọn ghẽ trên toa xe, các cụ chui vào nằm dưới gầm ghế dài, trên là khách ngồi. Có lần mua sẵn bánh đa nướng, các cụ bỏ ra ăn. Gầm ghế quá thấp, bánh thì to. Phải nằm ngửa, đặt bánh lên bụng, bẻ từng mấu nhỏ. Trước khi lên ngủ, các cụ rủ nhau đánh cờ tướng. Cũng ghểnh sĩ, đấu tốt, nhảy mã, bình xe. Cũng cay cú được thua. Buồn tiểu, không có chỗ len ra. Mà toa hàng cũng không có góc vệ sinh. Đành phải đi vào túi nhựa, nhổm dậy, quăng đại về phía đoán là cửa sổ. Hành khách la ó đành bấm bụng nghe chửi.

Lần đi buôn hồi ở Đông Hà, cụ Dương suýt bỏ mạng. Khi xe lửa lên dốc cầu, các cụ đeo hàng vào người, chuẩn bị nhảy. Ông mờ đi cùng nhìn không rõ. Xe đến giữa cầu, ông hô to: Nhảy! May sao lúc đó đám công nhân đang sửa cầu nhìn thấy. Họ hét lên: Không được Nhảy! Tàu đang ở giữa sông! Kể lại chuyện, cụ Dương xuýt xoa:

– Gớm, sao may thế! Hôm ấy mà nhảy thì như buộc đá vào người mà lao thẳng xuống nước!

Trong các nhóm buôn lậu, có một cụ chuyên mặt hàng rượu. Hàng này bị cấm rất ngặt. Đựng rượu vào bong bóng trâu, cho vào ba lô đeo sau lưng, cụ ngang nhiên khua gậy qua các trạm thuế. Trên ngực áo lấp lánh huy hiệu thương binh. Có hôm đã qua được một đoạn, chợt nghe có tiếng chân đuổi theo, cụ vẫn thản nhiên bước tiếp. Có ai đặt tay lên vai cụ, vừa cười vừa nói:

– Này bố! bố rải rượu thơm lừng cả đường. Túi thủng, chảy mẹ nó hết rượu rồi.

Té ra cái bong bóng trân trâu đã thủng từ bao giờ. Anh cán bộ vừa cười chảy cả nước mắt, vừa giúp cụ buộc chỗ thủng. Và nhận xét:

– Đi buôn lậu như cụ cả nước chỉ có một! Lần sau bố cẩn thận hơn nhé!

Những chuyện về người mù nhiều lắm.

Ngay như tôi. Thỉnh thoảng nhớ lại thời gian học ở trường Nguyễn Đình Chiểu, thấy thật khổ.

Khu ký túc xá nữ có gần bốn mươi học sinh, chia làm ba phòng. Khi tới trường, tôi là một cô bé chậm chạp. Bây giờ vẫn thế. điều kiện sinh hoạt ở trường rất kém. Nhất là các bữa ăn. Mỗi suất cơm được chia vào bát to tráng men. Trên cơm là rau, thường là rau muống, gọi là xào, dai như rơm. Loáng thoáng phủ hai miếng thịt thủ đầy lông. Hôm nào khá lắm, có món canh măng chua, từ ngoài cứa sổ đã thấy mùi. Nước chấm được pha bằng nước, muối trắng, chạy qua hàng mì chính.

Tôi nhớ mãi cảm giác được ăn bữa liên hoan duy nhất trong suốt thời gian ở trường. Hôm đó có một phái đoàn Nhật Bản đến thăm. Họ tặng trường một số gà làm giống. Nhưng có lẽ họ mua gà ở chợ nên hầu hết bị rù. Nhà trường quyết định bán một phần cho nhân viên, số còn lại thịt cho chúng tôi ăn cải thiện.

Nhà bếp làm món bún xào.

Tôi vừa ăn vừa xuýt xoa:

– Eo ôi, sao mà ngon, mà thơm thế!Nhưng chẳng thấy thịt bao nhiêu, toàn xương là xương.

Đúng thế, mỗi bát chỉ lèo tèo vài miếng thịt nhỏ. Mấy bạn ngồi cùng bàn thì thầm vào tay nhau:

– Ít – thịt – quá!

– Bún với canh còn nhiều. Đứa nào ăn nữa thì ăn! – Bà bếp trưởng đi qua các bàn nói to.

Chúng tôi hí hửng ăn thật nhanh.

– Cô cho cháu bát nữa. – Nhiều giọng nói nhao nhao.

– Ơ, hết thịt rồi hở cô? Còn mỗi canh với bún thôi ạ? – Một người ngồi cạnh tôi ngơ ngác hỏi.

– Hết rồi. Lấy đâu mà lắm thịt thế!

Chúng tôi tiu nghỉu.

Đúng bữa đó mẹ tôi đến thăm. Tôi khoe:

– Con được ăn thịt gà đấy, mẹ ạ!

– Mẹ biết rồi. Lúc mẹ ngồi chờ ở phòng thầy Thắng, thấy các cô nhà bếp gửi nửa nồi thịt gà to lắm. Chắc để dành cho các con ăn ngày mai.

Cái ngày mai mẹ tôi nói không bao giờ có.

Sau gần hai tháng ở trường, tôi bị ghẻ nước, khắp người ngứa ngáy rất khổ. Nước dùng ở trường khan hiếm. Tôi luôn ở trong tình trạng lo lắng, bận rộn. Cứ đến chiều, đám con gái đổ xô vào mấy cái nhà tắm chung. Tôi chậm chạp nên đến lượt thường chưa tắm xong đã hết nước.

Ăn đói, nhất là thiếu chất, chúng tôi nghĩ đến thứ gì cũng thèm. Vậy mà nhiều bạn học bảo tôi:

– Ở trường chúng em ăn sướng hơn ở nhà.

Những lần mẹ tôi mang quà tới, tôi đều chia cho các bạn. Hết lượt, đến phần mình thì chẳng còn bao nhiêu. Tôi bắt buộc phải tìm cách ăn vụng.

Chị gái tôi mang cho tôi bốn quả ổi găng chín thơm lừng. Tôi giấu ổi vào túi quần áo, chờ lúc vắng người mang ra ăn. Phòng tôi ở cuối hành lang. Buổi tối các bạn tản mát đi mọi nơi. Giấu một quả ổi trong lòng bàn tay, tôi ra hành lang ăn khe khẽ. Đang nhai, chợt cô bé cùng phòng bước đến:

– Chị Tú ăn ổi đấy à? – Cô bé hỏi, giọng đầy hy vọng.

– Không, không. Chị đang đứng chơi thôi.

Tôi ngượng lúng túng chối.

– Thế sao người chị mùi ổi thơm ơi là thơm?

– Chị không biết. – Tôi thực sự bối rối, giấu phắt quả ổi sau lưng, lảng vào phòng ăn thật nhanh…

Hay như cụ Chu Xuân Anh.

Trong chuyến đi làm đề tài ở Hà Lan năm 1985, hai mắt cụ mờ dần. Cụ phải dùng kính lúp để đọc tài liệu. Cuối cùng cụ đành bỏ dở công trình. Năm đó cụ mù hẳn. Con lớn của cụ mới lên tám. Ít lâu sau, Vợ cụ bỏ đi. Hai người ly hôn. Ngày ngày cụ phải tập chống gậy, lần mò đến trường dạy học. mang tiếng là phó giáo sư, tiến sĩ, lương tháng của cụ cũng chỉ có năm trăm nghìn đồng. Tất cả mọi khoản chi tiêu của mấy bố con trông vào số tiền đó.

Hay như cô L.

Có một cặp vợ chồng vô sinh. Lỗi do người vợ. Họ bàn nhau tìm một người mù sinh con hộ. Cô L. được chọn. Hai bên thoả thuận: Sau khi sinh con, cô L. được chăm sóc chu đáo. Lúc đứa trẻ thôi bú, cô được hưởng một khoản tiền và xa con vĩnh viễn.

Chính người vợ thuê xích lô, đưa cô L. đến với chồng. Hợp đồng được thực hiện đúng như thoả thuận. cô L. được đưa về nhà, nhiều năm thương đứa con rứt ruột không bao giờ được gặp mặt.

Còn cô H., cô B., ai khổ hơn ai?

Bố mẹ mất sớm, cô H. ở với anh. Cô khá xinh. Tên anh trai buộc cô phải ngủ với hắn. Sau nhiều lần chống cự, bị đánh quá đau, cô đành chấp nhận. Đã vậy, để khuất phục cô hoàn toàn, tên anh chỉ cho cô ăn mỗi bữa một lưng bát cơm. Cô còn buộc phải tiếp khách làng chơi để thằng đốn mạt ngồi xem và thu tiền. Rất nhiều người, kể cả chính quyền biết chuyện, song không ai can thiệp.

Cụ Nhuận nghe kể, tiện dịp về tận địa phương, làm ầm lên. Cô được đưa đi học chữ nổi. Ở tập thể, mỗi bữa cô cũng chỉ ăn lưng bát cơm. Hiện nay, cô H. sống ra sao, tôi cũng không biết. Tên anh mạt hạng không hề bị xử lý.

Cô B. ở ST. Thành hội người mù gợi ý về quyền làm mẹ của người mù không chồng. Cô B. có mang. Cả nhà mắng chửi, sỉ nhục. Cô nhất định giữ đứa con. Bị đuổi khỏi nhà, cô lang thang ăn xin. Thành hội đứng ra quyên góp, giúp đỡ cô, cũng chẳng được là bao. Hai mẹ con lấy quán chợ làm nhà…

7

Đối với tôi, điều khó khăn nhất khi viết cuốn sách này, là làm sao cho bạn đọc hiểu gần đúng công việc thầy trò tôi đang làm. Phương pháp của chúng tôi ngày càng đơn giản, ngày càng tách rời tri thức, kinh nghiệm, vốn liếng mấy nghìn năm của nhân loại. Nó đang dần dần đi theo con đường riêng của nó. Chúng tôi sống bình thường với gia đình, với cộng đồng. Phương pháp không đòi hỏi phải kiêng kỵ điều gì, không cần tập công phu trong những quy định khắt khe. Hàng ngày chúng tôi tập chút ít ở bất cứ tư thế nào, thời gian nào, ở đâu, tuỳ mỗi người.

Nhiều lần thầy trò chúng tôi đi Côn Sơn không phải để tìm đến một vùng địa linh nào đó. Chúng tôi muốn sống với nhau như một gia đình lớn ở vùng có núi đồi, có rừng cây và khí hậu trong lành, yên tĩnh. Những lần gần đây nhất (giữa năm 2000), chúng tôi bỏ các bài tập. Chỉ đi chơi, trò chuyện. Nếu gọi là tập, chúng tôi tập cho mọi sinh hoạt hang ngày, lúc ăn, lúc nghỉ, lúc đi dạo. Song kết quả cao hơn rất nhiều so với những năm ngày đêm luyện tập công phu.

Thày tôi bảo:

– Chúng ta đang trở về với tự nhiên, dần dần là tự nhiên, như ta vẫn thế. Vạn vật, trong đó có các loài sinh vật sinh ra từ tự nhiên. Một số loài sinh sống thoải mái mà không buộc phải nhìn bằng mắt như con người và các động vật có mắt khác. Chúng ta là thành viên của vạn vật, cũng có thể không cần đôi mắt.

Những người mù, kể cả những người bỏ mắt muốn nhìn lại, ban đầu cần tập hai bài cơ bản:

* Bài thứ nhất: làm quen và điều khiển các hiệu ứng vật lý của cơ thể. Có bốn hiệu ứng chính: Nóng, căng giãn, tê, chuyển động. Có thể ngồi, hoặc nằm thoải mái, thở nhẹ nhàng bình thường như bạn vẫn thở. Hình dung, theo dõi cả cơ thể nóng lên. Sau ba phút, bạn chuyển sang tập các hiệu ứng còn lại. Mỗi hiệu ứng cũng tập từ hai đến ba phút. Tuỳ mỗi người, có một trong bốn hiệu ứng là được.

* Bài thứ hai: Chia ra làm ba bước.

Bước 1: Làm cho cả cơ thể nương theo nhịp thở của phổi. Khi hít vào, bạn hình dung, theo dõi cả cơ thể nở ra. Khi thở ra, cả cơ thể co lại.

Bước 2: Làm cho cả cơ thể tự thở. Bạn hình dung, theo dõi cả cơ thể nở ra, co lại không phụ thuộc vào nhịp thở của phổi.

Bước 3: Làm cho toàn bộ tế bào cấu trúc nên cơ thể tự thở. Bạn hình dung, theo dõi toàn bộ tế bào của mình nở ra, co lại.

Tôi tin chắc khi cuốn sách này đến tay các bạn, có rất nhiều người mù được hướng dẫn chi tiết hơn trên các phương tiện truyền thông và các phương tiện khác nhìn đã nhìn lại được.

Chân lý vô cùng đơn giản. Điều đó rất nhiều người biết. Song thông thường, mọi người tìm hiểu chân lý theo những tiêu chí có trước của mình, của cộng đồng. Đó là cách tốt nhất để xa rời chân lý. Cũng như sự thật chỉ có một. Nhưng ai cũng nhìn sự vật, sự việc theo cách riêng của mình, nên chẳng bao giờ thấy được sự thật.

Thầy trò chúng tôi phải mất gần năm năm mới tìm được cách tập đơn giản nhất. Kết quả rất cao. Người mù không chỉ sớm nhìn lại, mà còn tự chữa được tất cả các dạng bệnh mãn tính, dù nhẹ hay nặng.

Phương pháp của chúng tôi quan niệm sự sống là thống nhất. Sự sống có mặt ở cả các vật thể hữu cơ và vô cơ, có mặt ở cả các tồn tại không có nguồn gốc lý – hoá. Vật chất cũng vậy. Không chỉ các hình thái tồn tại có thể đo kiểm được mà cả các hình thái không có cấu trúc đều là vật chất. Đây là chiếc chìa khoá mở nội dung các bài tập và là nguyên lý của phương pháp.

Tôi nhấn mạnh: Tất cả những điều nói trên đều chỉ mang chút ít dáng dấp của sự thật. Kết quả của thầy trò chúng tôi cho đến bây giờ không thể diễn đạt cho gần đúng bằng bất kỳ khái niệm nào.

Ta tạm chấp nhận với nhau quan niệm về sự sống và vật chất như tôi trình bày. Nếu thế, có thể rút ra hệ quả: Vạn vật dù ở quy mô, kích thước, khoảng cách nào cũng lưu trữ thông tin đầy đủ của nhau, giao lưu, chuyển đổi, cập nhật thông tin với nhau. Quá trình này diễn ra hoàn toàn tự động, không phụ thuộc vào bất cứ yếu tố, điều kiện, khoảng cách nào.

Các bài tập cơ bản của Phương pháp giúp người mù dần có được cơ chế giao lưu tự động với vạn vật. Trước hết là với các hình vật trong không gian mà người mù tham gia sinh hoạt.

Như ở chương 5 tôi đã nói về hai cách nhìn cơ bản của người mù. Đó là thấy hình vật bằng thông tin hình ảnh và thông tin không hình ảnh. Khi người mù và vạn vật giao lưu thông tin đầy đủ sẽ thấy các hình vật trong không gian sinh hoạt rất rõ, đủ để hoạt động như người sáng mắt. Tập luyện đến mức đó, người mù không nhất thiết chỉ nhìn bằng các dạng thông tin. Người mù thấy không gian đang tham gia sinh hoạt tự nhiên như nó vốn có, dù ở chỗ quen hay lạ.

8

Mấy năm gần đây, mẹ tôi làm hướng dẫn viên du lịch.

Một lần mẹ tôi đưa khách vào Huế. Trong đoàn có ông bà Bo–re, người Thuỵ Sĩ. Nghe mẹ tôi kể về công việc của thầy trò tôi, ông bà rất ngạc nhiên. Mẹ tôi còn nói thêm là thầy trò chúng tôi có khả năng khám bệnh từ xa. Chắc vì tò mò, ông bà cho mẹ tôi ghi đầy đủ họ, tên, ngày tháng, năm sinh, địa chỉ nơi sinh sống, đề nghị kiểm tra bệnh cho cả hai.

Thầy tôi và tôi mất hai tiếng khám bệnh cho ông bà Bo-re. Sau đó Thầy đưa hai ca bệnh đến lớp cho các cụ thực tập. Kết quả được fax sang Thuỵ Sĩ. Mấy tuần sau, chúng tôi nhận được thư trả lời. Ông bà Bo-re cho biết họ đã đi kiểm tra Tây y và khám ông lang người Trung Quốc. Kết quả đều trùng khớp với thông báo của thầy trò tôi. Sau đó, chúng tôi nhận được một khoản tiền tặng cho chương trình. Ông bà Bo-re còn nhờ chúng tôi khám bệnh cho hai người con. Kết quả cũng tốt.

Từ đầu năm 1997, thầy trò chúng tôi có được một số khả năng đặc biệt. Trong đó có khả năng khám, chữa bệnh, dù người bệnh ở gần hay xa. Chúng tôi không có bất kỳ phương tiện nào . Người bệnh chỉ cần cho biết họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ nơi ở. Nếu có thêm tên tuổi của một hoặc hai người thân (vợ, chồng hoặc con), độ chính xác càng cao.

Những người có khả năng khá trong nhóm có thể nhìn thấy hình ảnh với độ nét rất cao của nội tạng, các tổ chức thuộc các hệ giải phẫu của Tây y, trong quá trình sinh hoá. Thậm chí có thể nhìn thấy rất rõ các cấu trúc ở cấp phân tử, hoặc nhỏ hơn. Khả năng này giúp cho việc xác định các tổn thương, phân loại bệnh có độ chính xác cao. Các hình ảnh nhìn thấy là hình khối nổi, tất cả mọi phía đều hiện rõ đồng thời với cấu trúc bên trong. Thông tin về bệnh cùng lúc có cả quá khứ, diễn biến hiện tại và tương lai.

Mùa hè năm 1999, thầy trò chúng tôi có thêm khả năng khám đồng thời với chữa bệnh, dù người bệnh ở bất cú vùng địa lý nào. Tất nhiên không cần gặp mặt. Rải rác mấy năm qua, trong tất cả các ca bệnh ung thư hoặc nghi ung thư đã có kết luận của bệnh viện, qua khám ở Nhóm Mắt, chúng tôi chưa kiểm tra sai ca nào.

Như ca bệnh của bác Hội, ở khu điều dưỡng thương binh hỏng mắt. Bệnh viêm K trả bác về để chết ở nhà, theo nguyện vọng của gia đình. Bác trong tình trạng trụy tim, gần như không còn mạch đập và đau dữ dội sau ca mổ cắt khối ung thư cuối đại tràng. Cơ quan và gia đình đã bàn về việc chuẩn bị tang lễ. Ít ngày trước đó, cụ Bạo và tôi đã kiểm tra bệnh cho bác Hội. Chúng tôi kết luận bác không bị ung thư. Vì đau nhiều và chưa tin, bác vẫn vào bệnh viện để mổ.

Cụ Bạo gọi điện cho tôi, thông báo về tình trạng nguy kịch của bác Hội. Cụ đề nghị tôi cắt cơn đau cho bác, để bác ra đi nhẹ nhàng. Tôi dùng thủ thuật đã được học để làm. Cụ Bạo làm thủ tục trợ tim, tăng sức cho người bệnh. Tất cả đều làm từ xa.

Thật bất ngờ, bác Hội tỉnh lại và phục hồi khá nhanh. Cơ quan gọi điện đến viên K, yêu cầu xem xét lại. Bệnh viện cho xe đến đón, tiếp tục điều trị cho bác Hội. Ra viện, bác tham gia tập dưỡng sinh tự chữa bệnh với nhóm Mắt. Qua mấy tháng bác lên bàn mổ một lần nữa để nối lại đại tràng, bỏ ống xông. Đến nay (tháng 8 năm 2000), sau gần ba năm, bác Hội vẫn sống khoẻ mạnh.

Thông thường, những người bệnh nặng đã hết phương cứu chữa mới tìm đến thầy trò chúng tôi.

Từ khi có được khả năng khám chữa bệnh, Thầy tôi đã xác dịnh, nhắc nhở học trò: chỉ nhận những ca bệnh để nghiên cứu, phục vụ cho Chương trình ánh sáng của người mù. Chúng tôi khuyến khích mọi người bệnh học Phương pháp, tự chữa bệnh cho mình.

Có điều lạ, là những người bệnh rất nặng lại khỏi nhanh. Như trương hợp ông Nguyễn Đình Cán ở phố Đội Cấn. Ông bị bệnh to tim độ ba, xơ vữa động mạch vành. Ở tuổi ngoài bảy mười, hàng năm ông phải điều trị bệnh viện nhiều lần cộng khoảng trên dưới sáu tháng. Ông bị đau thường xuyên, ngồi dậy, đi lại phải có người đỡ.

Tình cờ Thày tôi gặp ông Cán ngồi đợi khám bệnh ở Trung tâm khí công. Trong khi chờ đến lượt, ông bị đau thắt tim, cơn đau lan toả lên vai và cánh tay. Thầy tôi đề nghị giúp đỡ ông. Chưa đến mười phút, cơn đau hết. Từ hôm đó, người nhà ông Cán xin thầy trò tôi chữa. Trong ba tháng, mấy thầy trò có đến nhà ông bốn năm lần. Bệnh ông được cải thiện nhanh. Ông bỏ dần thuốc, có thể tự ngồi dậy, đi lại, sinh hoạt độc lập. Sau đó ông đã có thể tự xách nước tưới vườn. Gần nửa năm tính từ ngày gặp Thầy, ông Cán đã đi xe đạp, đưa đón cháu đi học; tự đến bệnh viện cách nhà hơn năm cây số để kiểm tra định kỳ. Tháng 5 năm 1998, ông theo thầy trò chúng tôi lên Côn Sơn . Ông đã bỏ hẳn thuốc, không phải ăn kiêng, leo núi như một người khoẻ mạnh.

Bà Đặng Thị Nhơn ngoài 70 tuổi, cũng ở phố Đội Cấn. Bà bị còng gập lưng đã ba năm, rất sợ gió, sợ nước. Con dâu bà nhờ thầy trò tôi. Chúng tôi chữa từ xa, không gặp bệnh nhân. Một tuần sau, bà đứng thẳng, sau đó đi lại bình thường. Mấy thầy trò đến nhà bà, giải quyết nốt bệnh sợ gió, sợ nước. Kết quả rất tốt.

Ông Lan ở Cống Vị, hiệu trưởng trường đại học bưu điện. Ông bị viêm thanh quản, mất tiếng nói. Đôi khi nói được, tiếng không rõ, vùng họng rất đau. Chỉ sau hai buổi tập, ông nói rõ hơn. Một tuần sau trở lại bình thường.

Những trường hợp bệnh nặng như kể trên không ít. Hầu hết là bệnh mãn tính, kể cả những bệnh hiện vẫn còn nan y. các bệnh nhân bị tiểu đường, huyết áp cao hoặc thấp, thiểu năng tần hoàn não, rối loạn tiền đình, suy thận, viêm đa khớp,… nếu kiên trì tập đúng Phương pháp đều có thể khỏi bệnh, sức khoẻ ổn định lâu dài.

Không nói đâu xa, trường hợp cụ Vũ Thị Tưởng, vợ Thầy, là một minh chứng rõ ràng,về kết quả của Phương pháp. Cụ bị rối loạn tuần hoàn não dạng thiểu năng, tiền đình thiếu máu trầm trọng. cụ thương xuyên bị đau đầu, nằm ngồi ở tư thế nào nhà cửa cũng quay, đi lại bập bõm. Cụ còn bị gai đôi cột sống, huyết áp thường xuyên ở mức 80/50.

Đã gần sáu năm nay (năm 2000), cụ Tưởng bỏ hẳn các loại thuốc. Thỉnh thoảng bị bệnh thời khí hoặc bệnh cũ nhắc lại, cụ tập và tự xử lý được, Cụ đi xe máy bình thường; có lần đi về quê xa gần 200 cây số khứ hồi.

Tôi chỉ kể sơ lược về một số ca bệnh nặng. Có một số bệnh nhân, thầy trò tôi chưa giúp được gì nhiều. Thậm chí có những ca kiểm tra sai bệnh. Điển hình là ca bệnh ông Nguyễn Quang Hải, cựu chiến binh Quân nhạc. Giữa năm 1998, nhóm Mắt và những người học dưỡng sinh lên tập ở Côn Sơn. Đoàn có gần 50 người. Giữa đợt ông Hải bị đau vùng bụng giữa. Cơn đau ngày càng dày. Thầy trò chúng tôi kiểm tra đi kiểm tra lại, kết luận ông bị viêm màng bào màng bao ruột non và ruột già. Gần hai ngày sau phải thuê xe riêng, có bác sĩ di kèm, đưa ông về bệnh viện 108 Hà Nội. Chiếu chụp X quang cũng không phát hiện ông Hải bị bệnh ở đâu. Bệnh viện quyết định mổ phanh bụng để tìm bệnh, mới biết ông bị thủng thượng vị. Ông Hải được cứu sống. Ở Côn Sơn, biết tin về ca bệnh của ông Hải, Thầy tôi quyết định thông báo với cả đoàn và nhận phần dốt nát về mình.

Mà dốt thật. Trong những ca bệnh kiểm tra sai, thường rơi hầu hết vào những người thân của tôi. Hai chị tôi bị sốt xuất huyết, thầy trò tôi bảo là cảm cúm. Mẹ tôi ngã gãy xương đòn và ba xương sườn. Do bị bó bột sai kỹ thuật, các đầu xương gãy chồng lên nhau. Thầy trò tôi lại thấy các đầu xương chỉ chệnh chút ít. Cháu trai con chị lớn của tôi viêm V.A có mủ, chúng tôi bảo là sốt do vi rút. Dù vậy tôi thấy cần nói thêm về trường hợp của mẹ tôi. Bệnh viện kết luận là tay phải của bà sẽ thành tật, không mang nặng và cử động bình thường được. Nhưng chỉ sau nửa năm tập dưỡng sinh, bà đã có thể giơ tay lên qua đầu, tập thể dục và ít lâu sau, bà đã đánh được cầu lông.

Tôi rất ấm ức. Nếu tính tỷ lệ sai đúng dựa vào kết quả khám của tây y, các ca bệnh chúng tôi kiêm tra đúng khoảng 70%. Ngay cả ca ông Hanxơ, thầy giáo người Đức của mẹ tôi, thày trò tôi cũng chỉ nói đúng về bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Sự tiến triển của thời gian sống lại dự báo sai.

Mãi gần đây tôi mới hiểu ra: có một cơ chế bảo vệ tự động cho công việc của thầy trò. Nếu việc khám và chữa bệnh cho người thân của tôi cũng khả quan như các người bị bệnh khác, tôi sẽ bị vướng vô cùng. Sống phụ thuộc, chắc chắn tôi sẽ phải thoả mãn mọi yêu cầu về việc chữa trị không chỉ cho gia đình, mà còn rất nhiều người có quan hệ họ hàng, bạn bè.

Có lẽ đến đây bạn đọc sẽ co một câu hỏi: Không có máy móc thiết bị , không gặp người bệnh, làm thế nào có thể thấy đúng bệnh. Tôi xin trả lời: rất đơn giản, đó là cơ chế nhìn của người mù.

9

Con cò bay lả bay la

Bay ra Hà Nội có nhà Khâm Thiên

Quê cò Nam Định – Ý Yên

Mẹ cò đỏ mắt về duyên của cò

Cò Rằng mẹ chớ có lo

Nhóm Mắt nơi ấy – tổ cò mẹ ơi

Từ nay con có chân trời

Nhân duyên đã hoá tình đời của con

Cụ Dương làm bài thơ trên tặng cụ Nhung.

Cụ Nhung đến với nhóm Mắt vào giữa năm 1997 do người nhà có quen biết Thày giới thiệu. Cụ đã hỏng hẳn mắt trái. Mắt còn lại sắp loà. Gia đình cụ ra Hà Nội tập dưỡng sinh, hy vọng cải thiện được bên mắt còn lại, chí ít cũng còn tự sinh hoạt được. Cụ lên Hà Nội từng đợt mười ngày. Tình nhân của Nhóm Mắt, ý nghĩa của chương trình, kết quả của bản thân và những người trong nhóm đã gắn bó hoàn toàn cụ với người mù. Giữa năm 1998, cụ để bố mẹ già ở lại quê, bán đàn lợn, cho thuê ruộng, lên Hà Nội tham gia hẳn vào chương trình. Thời gian đầu, Nhóm cử người đưa đón cụ đi học. Khi mắt còn lại nhìn khá hơn cụ tự đi. Sau đó, cụ mua xe đạp, có thể di bất cứ đâu trên đường phố nườm nượp xe, kể cả ban đêm.

Từ tháng mười năm 1999, nhóm Nguyễn Thái Học chia làm ba tổ nhỏ. Ba nhóm Cầu Giấy cũng bắt đầu tập thường xuyên. Cụ Nhung đạp xe đến tất cả các nhóm, dù mùa hạ hay mùa đông, trời mưa hay nắng. Riêng ở Cầu Giấy, cụ Nhung và cụ Tưởng hướng dẫn tập là chính. Thầy thỉnh thoảng mới đến thăm. Cứ có thêm người mù nào nhìn được lại, dù mới thấp thoáng, cụ Nhung cũng mừng đến chảy nước mắt. Giúp người mù luyện tập để có sức khoẻ và nhìn lại trở thành lẽ sống, là nguồn hạnh phúc không vơi cạn của cụ.

Hiện nay trong chương trình, ngoài những người bệnh được tách ra tập riêng, có ba dạng về mắt: những người mù hoàn toàn; những người sắp loà; những người thị lực giảm sút nhanh và có nguy cơ mù. Tất cả người bệnh ở hai dạng sau đều đã qua điều trị hoặc Tây y, hoặc Đông y, châm cứu. Đến với chương trình càng muộn, họ càng được cải thiện nhanh. Đôi mắt những người sắp loà (phần lớn cao tuổi) giữ được ở mức không xấu đi. Những người mắt kém thị lực không sút tiếp; có trường hợp cải thiện nhanh đến bất ngờ. Đó là em Nguyễn Thị Thuỳ, 14 tuổi, ở nhóm dưỡng sinh cụ Nhung và cụ Tưởng hướng dẫn. Trước khi đến tập, ngồi học ở bàn đầu, em cũng không thấy chữ viết trên bảng. Chỉ sau hai tuần lễ, ngồi xuống bàn hang thứ tư, em đọc rõ.

Tôi biết ngoài những người mù hoàn toàn, Thầy có quan tâm đến những người sắp hỏng mắt. Đã có lần Thầy cho tôi cùng làm việc với bà Hoàng Mai, thạc sỹ, ở viên mắt Trung Ương. Bà Mai rất chú ý đến kết quả (lúc đó còn rất khiêm tốn) của chương trình. Bà cho biết những trường hợp mắt sắp hỏng mà Tây y chưa có cách nào can thiệp có hiệu quả là rất nhiều. Trên đường về bà nói với người bạn cùng đi:

– Tôi thấy thầy trò họ đặt vấn đề và làm việc rất nghiêm túc. Mong sao họ thành công.

Đó là nhà khoa học thứ hai, sau giáo sư y khoa Vi Huyền Trác, thấy công việc của chúng tôi không hoang tưởng, chưa kể phó giáo sư, tiến sỹ Chu Xuân Anh, người tham gia Chương trình bền bỉ đã năm năm. Thầy bảo tôi:

– Sau này, khi chương trình Mắt mở rộng, trong việc ứng dụng chữa bệnh, những người có nguy cơ hỏng mắt sẽ được ưu tiên hang đầu.

Điều tôi thấy lý thú là những người tham gia chương trình hoặc đi bên cạnh theo dõi, trình độ học vấn rất chênh lệch. Như tôi và cụ Nhung, bình thường làm sao có thể gặp và trò chuyện với các ông bà có học hàm, học vị cao. Song kết quả của công việc làm chúng tôi hoàn toàn tự tin.

Đến với chương trình, trở thành thành viên không thể thiếu được, có lẽ chỉ có cụ Nhung. Còn những người sáng mắt khác, đến theo cách riêng của mỗi người. Nhóm xe ôm như Thầy tôi gọi đùa; đến nay còn lại năm cụ. (Cụ Tưởng không được xếp vào nhóm này. Những cụ kia có xe máy, lúc cần đèo các cụ trong nhóm đi tập).

Người đầu tiên tôi muốn nói đến là cụ Trần Tường, tuy cụ đến nay so với các cụ khác. Cụ Tường bị viêm, rối loạn chức năng gan rất nặng. Cụ phải bán cả xe máy để lo chạy chữa Tây y, Đông y. Da cụ xạm mặt sần sùi, gan to. Cụ phải theo một chế độ ăn kiêng chặt chẽ.

Là bạn ít tuổi của thầy, gắn bó đã nhiều năm, cụ Tường xin sang nhà Thầy, cùng tập với nhóm dưỡng sinh. Thầy trực tiếp hướng dẫn. Chỉ vài tuần sau, bệnh cụ lui rất nhanh, sau đó khỏi hẳn. Từ đó cụ rất chăm chỉ đến tập cùng nhóm Mắt.

Cụ Tường làm nghề sửa chữa ti vi và nhiều loại thiết bị điện tử. Cụ chữa rất giỏi nên quanh năm vùi đầu vào công việc. Nhưng nhiều đợt đi Côn Sơn, cụ vẫn có mặt, tận tình giúp đỡ người mù. Nhi ều khi vì giỏi chuyên môn, cụ cũng khổ. Hết người này đến người khác trong Nhóm nhờ chữa máy. Đã không lấy tiền công, cụ còn gặp chuyện bực mình. Có lần cụ đến tận nhà chữa ti vi cho cụ T. trong Nhóm Mắt. Mải mê với công việc, lúc nghỉ tay cụ mới thấy là mình đang bị theo dõi. Bà vợ của cụ chủ sai ông em và đứa cháu ngồi ở hai góc nhà, xem ông thợ có làm việc gì khác không. Cụ Tường rất cáu. Mấy hôm sau , cụ T. mang tiền trả công. Cụ Tường kể lại sự việc trên, không nhận và nói:

– Cháu giúp cụ không phải vì tiền. Cụ có trả tiền triệu, cháu cũng vứt qua cửa sổ!

Có điều rất oái oăm, nhiệt tình của cụ Tường với mọi người thường đem đến kết quả không mấy hay ho. Cụ mua máy bơm nước cho nhà tôi, máy không chạy, phải đổi cái khác. Nhà Thầy có việc gì, cụ cũng xắn tay vào giúp. Thầy sửa nhà, làm thêm một bưồ ng ở tầng ba. Cụ Tường đưa một nhóm thợ quen đến làm. Trời chỉ mưa kéo dài vài tiếng, mấy bức tường ở buồng riêng của Thầy đã bị thấm ướt. Mưa qua ngày, buồng sũng sĩnh nước. Rồi đến cả trần cũng thấm; có góc nước nhỏ giọt tong tong, phải lấy xô, chậu hứng. Thầy bảo cụ Tường gọi ông bạn thợ đến. Ông ta giải thích rất hồn nhiên:

– Thì nhà em cũng thế! Em làm ở một ngôi nhà có sáu kỹ sư thay nhau giám sát thi công, thế mà mái vẫn thấm.

Thầy và cụ Tường không biết đằng nào mà nói. Đành mời ông thợ giỏi và có trách nhiệm kia ra quán uống bia!

Tháng 2 năm 1999, Thầy bị tai nan giao thông. Một chiếc xe ô tô con đâm thẳng vào xe máy của Thầy. Xe máy bị gãy nát càng, bánh trước yếm nhựa. Chỉ còn hai ngày là đến Tết Nguyên Đán. Cụ Tường nhờ một người gọi là bạn đem xe đi chữa gấp. Sau này mới biết, ông bạn vàng kia thay toàn đồ nội địa, tính giá cắt cổ như đồ Nhật…

Chương trình có vẻ rất có duyên với giới hội hoạ. Có tới bốn hoạ sĩ (chưa kể một người đang học đại học Mỹ thuật ở nư ớc ngoài) đến học và tham gia. Cụ Phan Cẩm Thượng, ngoài 40 tuổi, dạy ở trư ờng Đại h ọc Mỹ thu ật, một học giả uyên thâm về hội hoạ và kiến trúc cổ. Cụ giỏi tiếng Hán cổ, tiếng Nôm, sử dụng được tiếng Trung Quốc hiện đại, tiếng Anh. Cụ mắc một căn bệnh không tìm ra được tên gọi. Quanh năm uống thuốc bắc, song cơ thể hầu như lúc nào cũng mỏi mệt. Da rất xấu. Thầy hướng dẫn tôi kiểm tra bệnh cho cụ (từ xa), không chỉ một lần. Quả là bệnh của cụ Thượng rất hiếm gặp. Tạm thời gọi đó là thiểu năng hệ thống. Ở tất cả các tổ chức (cơ quan) của cơ thể, Các tế bào hết tuổi tồn tại được thải loại chậm; các tế bào mới sản sinh hầu như không trưởng thành đúng hạn (luôn là tế bào non). Cũng có một cách gọi khác: sự rối loạn hệ đồng hồ sinh học chức năng.

Như cụ Tường, các buổi cụ Thượng đến tập ở Nhóm Mắt, Thầy trực tiếp hướng dẫn. Sau đó, cụ được học chương trình chuyên cao, không đầy đủ. Bệnh cụ lui chậm, nhưng rất chắc. Khoảng trên dưới một năm, cụ đã có thể làm việc thoả sức, đá bóng tuần hai buổi. Và không cần dung thuốc.

Cụ Thượng không tham gia Chương trình, song rất quan tâm đến công việc Thầy làm. Sau này, khi đã tách ra tập ở nhóm Dưỡng sinh tự chữa bệnh, thỉnh thoảng biết Thầy đưa người mù lên Côn Sơn, cụ điện thoại:

– Thầy có cần nạp năng lương (tiền) không ạ?

Thường Thầy bảo không cần. Song cụ vẫn tìm cách đóng góp để nuôi chương trình. Lúc nửa triệu (vài lần), lúc cả một trăm đô –la. Cụ nói Thầy:

– Em trả quá ít để chữa khỏi bệnh.

Một lần, Thầy đến nhóm Dưỡng sinh. cụ Thượng khoe:

– Bây giờ, vì nguyên nhân nào đó bị mù, em cũng không sợ!

Cụ kể: đúng là dù nhắm mắt, cũng có thể nhìn cả phía sau. Hơn nữa, có thể kiểm tra từ xa hành vi c ủa cô con gái duy nhất. Làm gì, ở đâu vào đúng thời điểm đó!

Các cụ Vũ Kim Dung và Võ Quốc Thắng ngay từ những ngày đầu đã say mê chương trình. Hiếm có ai tận tuy, hết lòng với người mù của Nhóm Mắt như hai cụ.

Tốt nghiệp đại học Kinh tế, một số nơi gọi đi làm, cụ Thắng từ chối. (Ai cũng biết trong những năm này , sinh viên ra trường hiếm có người có được việc làm tốt, đúng ngành học). Cụ Thắng tạm nhận công việc tiếp thị, vừa tự nuôi mình, vừa có nhiều thời gian tự do để đến với Nhóm.

Hai cụ bòn mót từng vài trăm nghìn đồng; nhiều khi có cả tiền triệu, vài triệu góp vào Quỹ chung. Mở lớp học dưỡng sinh, học phí thu được, các cụ cũng đưa vào Quỹ.

Cụ Dung thường nói với Thầy:

– Công việc mấy thầy trò đang làm rất đẹp. Chúng em đi theo vì lẽ đó, không vì một ham muốn, vì lợi ích riêng. Chỉ khi nào Thầy không cho đi tiếp, em mới chịu thôi.

Lần khác cụ nói:

– Đi vào Chương trình, riêng em có được rất nhiều. Được cho nghề em say mê suốt đời. Em càng vẽ càng thấy tranh mình ngày càng khác trước.

Thực ra, mất đến gần hai năm, quan hệ giữa ba thầy trò không được mặn mà như mấy năm đầu. Lúc còn làm phương pháp cũ, Thầy yêu cầu mỗi người phải ngắm mình, sửa mình để ngày càng hoàn thiện tư chất, nhân cách. Qua ứng xử, giao tiếp, Thầy thấy cụ Dung, cụ Thắng vẫn tự thấy mình tốt quá, nhân ái quá. Sau một sự việc hai cụ vất vả, xả thân ra giúp một thành viên trong Nhóm, Thày không khen mà còn chê. Cụ Dung giận Thầy, đùng đùng bỏ đi, không chào hỏi. Hai cụ vẫn đến Nhóm đều, giữ thái độ im lặng, lánh xa.

Làm phương pháp riêng của người mù một thời gian, chính Thầy bỏ dần rồi gạt hẳn những tiêu chí loài người tự đặt ra để đánh giá mình, đánh giá người khác. Thầy giao những việc quan trọng trước mắt và lâu dài cho cụ Dung, cụ Thắng. Quan hệ lạnh nhạt lập tức được gỡ bỏ.

Tôi thắc mắc:

– Liệu hai cụ có đảm đương công việc được không?

Thầy bảo:

– Bây giờ đối với thầy, ai cũng như ai. Xấu- tốt, nhân ái – độc ác, cao thượng – hèn hạ… chỉ là những khái niệm sai lệnh, khái niệm chết. Không có ai chỉ là thế này hoặc thế khác trong suốt cuộc đời. Biết người đúng như họ là thế, đặt vào đúng việc, đúng lúc ai cũng làm được.

Thày còn bảo:

– Chúng ta đã có kết quả xác định: Người mù nhìn lại được. Vì thế ai giải thích thế nào về Phương pháp cũng được. Nói là chúng ta làm mò, gặp may; hoặc chúng ta đang làm khoa học tâm linh, thần bí cũng thế cả. Chúng ta trả lời mọi người bằng kết quả và sẵn sàng lặp lại kết quả cho bất cứ nhóm người mù nào. Thế là đủ…

Cụ Chu Hồng Quý là một học sĩ tự do. Cũng như cụ Nhung, cụ chưa bao giờ nghi ngờ kết quả cuối cùng của chương trình. Và cũng như cụ Nhung, cụ Quý hết long với công việc theo khả năng của mình, dầm dề yêu thương mọi người, mà không nghĩ là mình tốt. (Dầm dề là tiếng Thầy dùng để nói về tính cách của hai cụ).

Cụ Quý thiên về làm tranh sơn mài, ký gửi ở các gallery. Nhiều lúc tranh bán chậm, lại bị cắt xén tiền dã man, cụ khá lấn bấn. Lúc tranh bán chạy, cụ nghĩ ngay đến Nhóm Mắt. Ít thì một hai trăm nghìn đồng, nhiều thì năm trăm, cụ góp vào quỹ. Không ít lần bị từ chối, song cái tình của cụ hồn nhiên quá, Thầy đành bảo ghi vào sổ.

Tôi muốn nói thêm chút nữa về Nhóm xe ôm. Tất cả sau một thời gian học, đều có khả năng khám, chữa bệnh từ xa. Họ nhắm mắt, có thể nhìn rõ các tạng phủ theo giải phẫu cơ thể và bệnh học của Tây y. Chỉ có khác, họ thấy các tổ chức bị bệnh và các tổ chức khác trong quá trình sinh hoá.

10

Ngày 28.10.2000, thầy trò chúng tôi kỷ niệm sáu năm ngày bắt đầu Chương trình. Đến lúc này, ở hai nhóm Nguyễn Thái Học và Cầu Giấy, có 37 người mù theo học. Hai mươi tư trong tổng số đó đã có tín hiệu hoặc đã nhìn lại được từng phần.

Có thể tạm chia mức độ nhìn lại làm ba nhóm.

Một là những người thường xuyên nhìn thấy và ngày nào cũng thấy ít nhất mười lần trong ngày (có lúc còn tinh hơn mắt thường). Cũng trong nhóm này, một vài người có khi vài ngày mới nhìn thấy ít lần. Tất cả có 6 người. Ở nhóm thứ nhất, cụ Bích là người xem được ti vi hàng ngày. Tôi và cụ Bạo chỉ thỉnh thoảng mới thấy rõ một ít cảnh vật trên màn hình.

Hai là những người không nhìn thấy thường xuyên. Nhóm này có 12 người. Như nhóm một, thường vào lúc bất chợt, các cụ nhìn rất tinh. Song họ vẫn nửa tin nửa ngờ, không chắc là mình đã nhìn lại được.

Ba là những người chỉ thỉnh thoảng mói nhìn thấy, có khi cả tháng không thấy gì. Có 6 người. Đến nhóm tập, bảo họ quan sát người và vật lúc tĩnh lúc di động, họ khăng khăng:

– Mắt mũi chúng tôi thế này còn nhìn gì mà nhìn!

Nể tình lắm, các cụ thở dài:

– Thôi thì chúng tôi đoán mò vậy. Được thì được, không được thì thôi!

Mấy cụ đoán mò khá tài. Lúc rõ, họ thấy được cả dáng người đứng, (có thay đổi tư thế), kiểu dáng, màu sắc áo quần, tay nào cầm hoặc không cầm vật gì, để ở tư thế nào. Đồ vật cũng vậy. Thầy tôi gọi đùa các cụ là nhóm đoán mò.

Đó là thực tế phải chấp nhận khi làm việc với người mù. Những năm trước, tôi cũng vậy. Rất nhiều lần nhìn thấy, dộ chính xác khá cao, cũng không ít lần tôi tự hoi: “Liệu có đúng là mình nhìn lại được không?”. Bởi trong sinh hoạt hàng ngày, tôi còn va quệt nhiều. Có lúc chảy cả máu, tím bầm da thịt. Mới thấy, hơn sáu năm trời, Thầy tôi kiên nhẫn biết mấy.

Trong buổi họp mặt ngày 28 tháng 10, có mời giáo sư y học vi Huyền Trắc. Bác đánh giá cao chương trình và rất tin ở kết quả của công việc. Bác sẽ viết một số bài gửi các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Những buổi làm việc riêng với giáo sư, tôi nhận xét:

– Bác Trắc thật là nhà khoa học dũng cảm.

Đúng vậy. Cách đây ba năm, bác đã khẳng định thầy trò Nhóm Mắt đang đi đúng hướng, rất mong chúng tôi sớm có kết quả có thể xác định được. Hơn năm mươi năm là bác sĩ điều trị, làm giảng viên rồi trở thành giáo sư dạy các trường Đại học Y và nghiên cứu khoa học, bác Trắc là một trong những nhà khoa học đầu ngành về tế bào học. Điều đáng quý là dù có bề dày hoạt động khoa học như thế, bác Trắc không lấy các tiêu chí có sẵn để tìm hiểu, đánh giá về kết quả của Phương pháp phục hồi chức năng của người mù. Thái độ khách quan đã giúp bác hiểu được một phần công việc và kết quả của thầy trò tôi. Bác là nhà khoa học đầu tiên đưa ra kết luận: người mù (dù đã bỏ hai mắt) nhìn lại là việc có thật.

Không hiểu Thầy tôi nhận xét đùa hay thật về bác: giáo sư Vi Huyền Trắc sẽ đi vào lịch sử nhân loại như Crit-xtôp Cô-lông tìm ra Châu Mỹ.

Tôi không nghĩ như thế. Thầy tôi chưa bao giờ đánh giá cao công việc Thầy làm cho người mù. Thậm chí Thầy còn bảo: Giúp người mù nhìn lại, cũng đại loại như Thầy quét nhà, giặt giũ, cơm ngước cho vợ con lúc họ đau yếu, hay viết một cuốn sách!

Song với những người mù đã nhìn lại được, và những người sáng mắt được thường xuyên chứng kiến kết quả của Nhóm Mắt, lại khác. Họ thấy thầy tôi như một nhân vật thần bí, không làm cách nào hiểu được. Họ còn định đặt pháp danh (một kiểu phong thánh) cho Thày. Thầy tôi thương và luôn buồn cười vì sự ngây thơ của các học trò. Trong một buổi làm việc ở Côn Sơn với nhóm của giáo sư Vi Huyền Trắc và một số người mù, Thầy tôi tự giới thiệu:

– Tôi tên là…(tên thật), 60 tuổi, vị trí xã hội: quyền phó thường dân dự bị, là nhà văn quèn, loại hai hay loại ba gì đó…

Sau này bác Trắc có nhận xét rất hay cách đánh giá của số đông về Chương trình:

– Toa có cho người sang mắt chứng kiến những kết quả sờ sờ ra đấy, họ cũng không tin đâu. Họ còn mù hơn cả người mù!

Thầy tôi đang làm việc với cái phần thiệt thòi nhất và có lẽ đau khổ nhất của nhân loại. (Theo thong tin của Hội người mù Việt Nam, ở nước ta có hơn 60 vạn, cả thế giới có khoảng bốn triệu người mù). Dũng cảm đúng ra giới thiệu với người đời một công việc hoang đường của hoang đường, không thể ví Crit-xtôp Cô-lông ngang hàng với giáo sư vi Huyền Trắc được.

Châu Mỹ rồi trước sau gì cũng có người tìm ra, vì nó là vùng đất có thật. Còn người hỏng mắt, triệu năm trước đã mù, triệu năm sau vẫn vâỵ. Sao không ai tìm cách trả lại ánh sáng và sự bình đẳng cho họ. Các giải pháp theo hướng của y học hiện đại chỉ có thể trợ giúp người mù được chút ít. Bỏ các phương tiện hỗ trợ, người mù vẫn hoàn toàn là người mù. Dù có được cải thiện đôi chút trong sinh hoạt, người mù vĩnh viễn biến thành nô lệ của máy móc.

Tôi có nghe nói về công trình mới được công bố. Hơn 300 nhà khoa học đa ngành ở Mỹ cộng tác trên 30 năm, đã có kết quả ban đầu. Một người đàn ông ngoài 70 tuổi, bị mù hoàn toàn, đã nhận ra một chữ H cao 5cm bằng tính hiệu ánh sáng. Ông được chỉ định đi tới chỗ đặt cái mũ,. đội lên đầu con ma- nơ-ra, ở ngang hông có hơn 4kg máy.Tất cả đều được nối mạch với nhau. Ông già được huấn luyện cách sử dụng các thiết bị, cách nhận ra và đọc các ký hiệu ánh sáng trên màn hình. Chưa thấy nói kết quả đó được ứng dụng cho người nào khác.

Gần đây Chương trình lại có thêm những tín hiện về người mù có thể nhìn được dù không tập, hoặc tập mà không hiểu mình đang làm gì. Như nhóm đoán mò ở thôn Trung, xã Dịch Vọng, Cầu Giây. Trước đây các cụ tập một tuần một buổi, có người hướng dẫn. Thỉnh thoảng Thầy có tới, chỉ để thăm hỏi. Sau mấy tháng hè, nhóm tập hai tuần một buổi. Chỉ mình cụ Nhung đến. Năm thành viên của nhóm vẫn đinh ninh là mình đến nhà cụ Mạo họp phân hội người mù để lấy điểm thi đua. Gặp nhau, họ nói chuyện trên trời dưới bể cả tiếng đồng hồ. Mà buổi tập chỉ có 90 phút. Lúc tập, người nào cũng nghĩ về câu chuyện riêng tư. Hoặc ngồi co chân lên ghế nhổ râu, tay gì cũng mặc. Dừng tập, họ lại chuyện tiếp. Hỏi về nhà các cụ có tự tập không. Các cụ hồn nhiên bảo: Có nhớ gì đâu mà tập!

Điều lạ lùng xảy ra lại không rơi vào năm thành viên chính thức. Đó là ông Thiện, một người mù gần 60 năm, ở cạnh nhà cụ Mạo. Thảng hoặc, ông sang nhóm uống nước, góp chuyện. Có một lần duy nhất ông im lặng khi cụ Nhung dẫn bài bốn hiệu ứng vật lý. Thế mà ông đoán mò giỏi nhất, gần như lần nào cũng đúng đến cả những chi tiết rất bất ngờ. Các cụ lại hồn nhiên nhận xét:

– Vì ông ấy là thầy bói!

Ở nhóm Nguyễn Thái Học, cụ Khởi chỉ tập có ít buổi, cũng đã thấy lúc thấp thoáng, lúc gần rõ mặt người và một số vật dụng. Nhiều lần, cụ thấy Thày từ xa, kể cả lúc Thày đứng khuất sau bức tường.

Gần đây nhất (tuần từ 13-19 tháng 11 năm 2000), cụ Oai mới tham gia tập hai buổi đã thấy lại ánh sang. Buổi thứ ba có Thầy, cụ nhìn thấy hình khối người đang ngồi. Rất hay, cụ khẳng định là mình nhìn thấy, chứ không đoán.

11

Năm 2000, nhóm Nguyễn Thái Học mất hai thành viên: cụ Hoàng Văn Hưởng và cụ Nguyễn Nam Thắng. cụ Hưởng mất hồi tháng ba, thọ 88 tuổi. Cụ Nam Thắng mất vì bệnh tim ở tuổi 74.

Cụ Hưởng vào nhóm, tập theo kiểu được chăng hay chớ. Cụ ham đánh cờ tưởng hơn. Nhiều lần cụ nghỉ tập cả tháng để luyện cờ và đi thi đấu. Năm 86 tuổi, cụ đoạt giải khuyến khích cấp thành phố về cờ tưởng. Dù tuổi cao lại không kiên trì tập dưỡng sinh, cụ vẫn khoẻ mạnh hồng hào và đã đạt được ước mơ của mình: một lần nhìn lại. Đúng là cụ nhìn được một lần, trong đêm. Đang ngủ, thấy cả gian phòng đều sáng, mọi đồ vật hiện lên rất rõ, cụ giật mình tỉnh giấc. Ngỡ là mình đang mơ, cụ nhồi hẳn dậy, véo đùi thật đau. Vẫn thế. Mọi thứ quen thuộc cụ dùng tay sờ thấy hàng ngày, vẫn ở đấy thật rõ. Còn ngờ, cụ tát vào má mình. Không mơ thật. Cụ kể với cả nhóm, nửa tin nửa ngờ.

Các cụ ở Nguyễn Thái Học ai cũng tiếc nhớ cụ Nam Thắng. Là trung tướng, giữ những trọng trách đặc biệt trong quân đội và dân sự, cụ sống giản dị, liêm khiết. Đến với Nhóm Mắt, cụ tự coi là thành viên bình đẳng với mọi người, tập, tham gia mọi sinh hoạt, kể các câu chuyện vui tếu rất hay.

Cụ Dương cứ xuýt xoa trầm trồ:

– Nhóm mình bé tẹo, lại có cả một ông tướng!

Cụ Nam Thắng kể với mọi người: Quân y 108 xác định là cụ bị bệnh hệ thống.

Hồ sơ bệnh án cá nhân nặng hơn 8kg. Tim thường có cơn co thắt động mạch vành. Huyết áp cao. Bàng quang có sỏi. U xơ tuyến tiền liệt… Đã có lúc Quân y viên hội chẩn, quyết định mổ để cắt ổ lao ở bàng quang. Cụ không đồng ý. Mắt cụ bị mổ ba lần. Khi đến Nhóm, cụ còn nhìn lờ mờ. Một mắt đã lép hẳn. Cuối năm 1998, Cụ cho mổ bên mắt còn lại, thay thể thuỷ tinh. Cụ đã đến nhà thăm, phát hiện thể thuỷ tinh mới thay bị đặt lệch. Hết tuần cụ mù hẳn. Bệnh viện kiểm tra, đúng như thế. Các giáo sư, bác sĩ tham gia ca mổ rất lo. Phần thì biết rằng không còn làm gì thêm được nữa, phần thì sợ bị khiển trách. Cụ Nam Thắng vẫn tươi tỉnh, bảo bác sĩ trưởng khoa mắt:

– Các cháu và các giáo sư đã làm hết mình. Bác sẽ tập quen dần với cuộc sống của người mù!

Từ đó, tuần nào cũng hai buổi, cụ đến tập với Nhóm Mắt. Thầy tôi đùa:

– Thế là các thầy thuốc đã tặng hẳn cho chúng ta một vị trung tướng!

Một thời gian sau, cụ bỏ dần thuốc rồi bỏ hẳn.

Cụ vẫn đến bệnh viện khám định kỳ, lĩnh thuốc tiêu chuẩn, cất vào tủ thuốc gia đình. Bệnh đi tiểu dắt nhiều lần trong ngày và trong đêm đã khỏi hẳn. chỉ còn tim, thỉnh thoảng vẫn có cơn co thắt. Cụ để sẵn thuốc và nước ở bàn, ngồi tập để cắt cơn. Không lần nào cụ phải đụng đến thuốc. Gia đình, cơ quan, những người quen biết rất lo cụ sẽ suy sụp sau khi bị mù. Ai cũng ngạc nhiên vì thấy cụ ngày càng khoẻ. Hồng hào, tươi vui như chưa từng bị tước đoạt ánh sang của đôi mắt.

Không ít lần cụ đã nhìn lại được. Khi thì rõ cốc cà phê cụ pha, đặt trên bàn. Khi thấy lúc này lúc khác đồ đạc trong nhà. Có lần, đêm dậy đi vệ sinh, cụ ngạc nhiên vì mọi người không tắt đèn, cửa tủ bếp cũng quên không đóng. Thấy cả cái tủ lạnh cũ ở góc quen, bàn ăn… Cụ đến tận nơi kiểm tra bằng tay từng thứ. Đúng là cụ nhìn được. Cụ tắt đèn. Tất cả vẫn rõ trong ánh sáng trong và mỏng manh, như ánh trăng rằm. Sự việc kéo dài ước tới 15 phút. Hôm sau, cụ gọi điện kể lại với cô bác sĩ trưởng khoa mắt ở Quân y viên. Cô ngập ngừng giải thích:

– Cháu nghĩ là võng mạc bên mắt còn lại tự gắn với nhãn cầu, nên bác nhìn được.

Cụ thắc mắc:

– Nếu vậy, bác nhìn được thường xuyên chứ? Sao chỉ có 15 phút?

Cô trưởng khoa lung túng:

– Dạ, hiện tượng đó ngoài hiểu biết của cháu.

Cụ Nam Thắng chưa tin hẳn là bằng cách nào đó mình có thể sinh hoạt lại như người sáng. Song cụ tham gia Chương trình bền bỉ, và theo tôi nghĩ, cũng quyết liệt như khi cầm quân đánh giặc.

Đầu tháng 6 năm 2000, thầy trò chúng tôi vừa lên Côn Sơn được một ngày thì cụ Nam Thắng mất. Thầy điện cho cụ Kim Dung và Quốc Thắng lo chu tất việc tiễn đưa, như với cụ Hưởng. Ai cũng ngỡ ngàng về cái chết đột ngột của cụ. Ở Côn Sơn về, Thầy và tôi đến thăm gia đình cụ Nam Thắng. Cụ bà kể: mấy hôm trước khi mất, ông đã mấy lần bị đau tim, khó thở. Thuốc vẫn để trước mặt, nhưng ông ngồi tập, tự chữa. Tối mồng 1 tháng 6, ông lại đau. Xe cấp cứu của Quân y viện và cơ quan đến, nói mãi ông mới chịu đi. Bệnh viện kết luận ông bị viêm hô hấp trên, Hôm sau ông vẫn tỉnh, đi lại bình thường. Buổi trưa ông ăn ngon lành một bát to miến lươn. Nghỉ dậy, ông cầm quạt đi chơi các phòng bệnh. Ba giờ chiều ông lại bị đau ngực, đưa vào phòng cấp cứu. Ông hôn mê sâu và mất.

Trong một buổi tập sau đó, Thầy bảo tôi mời cụ Nam Thắng về lớp học ( Việc gặp người đã khuất rất đơn giản. Cái chết là dạng chuyển dạng tồn tại của cá thể, từ vật chất có cấu trúc sang vật chất không cấu trúc. Thông tin và toàn bộ chi tiết của cá thể ở dạng sau vẫn lưu trữ đầy đủ ở dạng cá thể khác). Cụ đến, chào từng người. Vẫn gương mặt phúc hậu, tươi tắn như khi còn sống. Cụ nói:

– Tôi chết không có gì ân hận. Việc chung việc riêng đều đã trọn vẹn. Chỉ tiếc là mọi người làm đám ma to quá. Giá tiền mua hoa phúng để cho nhóm Mắt đi Côn Sơn thì tốt biết mấy. Dung, Thắng thay mặt Nhóm đến phúng viếng tôi cũng quá tiêu chuẩn.

Thầy tôi bảo: Nếu cụ Nam Thắng chịu vào bệnh viện từ mấy hôm trước, chắc sẽ được cứu sống Nhưng di chứng về não rất nặng. Những tháng năm còn lại, cụ hoàn toàn lệ thuộc vào bệnh viện, thuốc men, người thân. Ông già biết điều này nên chọn cách ra đi không phiền lụy đến ai.

Cách ứng xử với bệnh tật của cụ Nhuận lại khác hẳn. Cụ bị tiểu đường và u xơ tuyến tiền liệt. Cụ rất chăm đi khám bệnh và uống thuốc, kết hợp cả xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu. Cụ còn mời cả bác sĩ đến điều trị ở nhà riêng, kiểm tra đi kiểm tra lại ở cơ sở tư vấn y tế tư nhân. Nghe lời Thầy, cụ tập theo một phác đồ đặc biệt để chữa tiểu đường, bỏ dần thuốc, giảm ăn kiêng. Bệnh lui. Lượng đường tiểu và đường huyết hạ tới mức an toàn. Đầu năm 2000, cụ bị tai biến nhẹ não phải. Khối u xơ tuyến tiền liệt to dần. Cuống lên, cụ kéo theo cả nhà đi ba bệnh viện. bệnh tiểu đường tái phát. Mấy tháng liền, và chỉ mong được mổ để cắt khối u.

Thầy đến thăm cụ thường xuyên và bảo cụ không phải mổ, bệnh sẽ lùi dần. Song vì quá lo, cụ vẫn chờ quyết định của Tây y, uống các loại thuốc đắt tiền. Kể cả uống mật gấu, tốn tiền triệu để làm teo khối u.

Ở tuổi 79, kể cả những lúc tưởng đang bệnh nặng, cụ Nhuận vẫn hồng hào và hầu như không sút cân. Hiện cụ đang bình phục, đã bỏ ống xông, không phải mổ, lượng đường huyết trở lại mức an toàn.

Thầy tôi đưa hai ca bệnh của cụ Nam Thắng và cụ Nhuận ra trước lớp. Thầy nói riêng với tôi:

– Cụ Nhuận còn làm khổ mình, khổ gia đình, chạy chữa đến đồng xu cuối cùng rồi mới chết!

Ban đọc kính mến. Nếu là bạn, bạn chọn cách nào?

Thực ra công bằng mà nói, nếu không tập quyết liệt bằng mọi cách, cụ Nhuận không được như bây giờ. Tay trái và chân trái bị liệt nhẹ, mới đầu mới di chuyển phải có người ôm xốc nách. Cụ thiết kế hệ thống tay vịnh trong nhà, ngoài hè phố tự tập đi. Như hồi bị thương vào mặt, vào tay. Như hồi lần lượt bị xe bò cán gãy hai chân. Cụ nhờ một bác sĩ dắt đi bộ quanh khu tập thể. Hở ra lúc nào tập lúc ấy. Ít tháng sau cụ sinh hoạt trở lại, không cần người phục vụ.

Chỉ tiếc một điều, cụ Nhuận bỏ qua lời khuyên của Thầy. Tập vừa sức, đúng phương pháp, sẽ có kết quả mong muốn. Cụ quyết liệt dung ý chí, làm những việc không hợp với tuổi tác, vượt sức ở một cơ thể đã già nua. Cụ Nhuận tiếp tục đi bệnh viện, mời vác sĩ tư chữa các bệnh Tây y không chữa được.

Càng ngày cụ càng suy sụp, gần như quên hẳn phương pháp đã giúp mình rất nhiều. Cụ chìm trong thuốc men và các liệu pháp vơ bèo vạt tép.

12

Không biết lần thứ bao nhiêu, tôi lại nổi cơn điên. Tập bản thảo chữ nổi đang viết dở tôi xé tan tành.

Bấy giờ là tháng 5 năm 2000.

Tôi và Thầy đi dạo, rồi vào quán bia quen. Câu chuyện dẫn tới nội dung Chương trình và những người làm Chương trình. Từ mấy Côn Sơn trước đó, tôi vẫn ấm ức vì thấy càng tham gia công việc, mình càng bé đi. Hoá ra những năm qua, bao nhiêu công sức vất vả, bao cuộc vật lộn với chính mình, để có kết quả như bây giờ, tôi chỉ còn là con số không.

Tôi hỏi Thầy:

– Vị thế của em trong Chương trình là gì?

Thầy trả lời:

– Là tất cả. Mà cũng không là gì cả!

Tôi hẫng hụt, thấy như mình bị vứt ra đường. Như Thầy không còn quý mến, tin cậy, đã từng cùng tôi làm tất cả để người mù nhìn lại.

Dù đã gạt bỏ được nhiều vướng mắc về những ham muốn danh vọng, tiền tài, quyền lực, nhưng tôi vẫn là một con người bằng xương, bằng thịt như bất cứ ai. Tôi vẫn thích nổi tiếng, được mọi người trọng vọng và nhiều nhu cần thông thường khác. Tôi cũng là người đời. Ai cũng muốn khẳng định mình, chiếm đoạt riêng cho mình những thứ ao ước và cả những thứ ngoài tầm tay, hoặc chỉ để thỏa mãn là mình hơn hẳn đồng loại. Tôi thành nô lệ của mọi ham hố. Song dù sao, tôi cũng không cam chịu mình trở thành con số không.

Biết tôi xé bản thảo, Thầy không nói gì. Tôi càng ấm ức. Đến tháng 8 năm 2000, bao nhiêu trang văn bản thảo viết tiếp, tôi xé nốt. Tôi không cần biết mình hay hay dở, đúng hay sai. Tôi giận mình, giận Thầy. bao điều khôn ngoan, tốt đẹp học được, tôi vứt vào sọt rác cùng mớ bản thảo tơi tan.

Cũng như bao lần khác, Thầy kiên nhẫn chờ tôi dịu dần. Thầy không trách mắng, cũng không giảng giải. Tôi biết Thầy không dựa vào tiêu chí để đánh giá hành động của tôi, cũng như của mọi người. Trên đời này chẳng có gì động được đến Thầy. Tôi thế nào, Thầy thấy cũng được.

Có lần Thầy nói:

– Nếu chúng ta lập nên một hệ thống tiêu chi, các giá trị mới để nhìn nhận, đánh giá người đời, định giá bản thân thì ta rơi luôn vào vòng luẩn quẩn của cái gọi là đúng, là sai, là tốt, là xấu, là thiện hay ác…

Những việc Thầy tôi làm, lời Thầy nói tôi đều hiểu. Song tôi làm không được như thế. Tôi cứ đào bới, vật lộn với mình đủ mọi trạng thái, hết ngày này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Có lúc tưởng mình đã thông thoáng, rũ bỏ được bao nhiêu cóc cáy. Rốt cuộc mình vẫn nguyên là mình.

Những cơn điên của tôi rồi cũng qua nhanh. Như sấm chớp kèm theo mưa rào. Bình tĩnh lại, tôi thấy mình chẳng hay cũng chẳng dở. Và chắc chớp giật mưa giông vẫn còn thập thò ở nơi nào đó.

Khoảng bốn năm gần đây, ngày nào Thầy cũng đến làm việc ở nhà tôi. Mỗi buổi khoảng trên dưới hai tiếng. Nội dung học vô cùng phong phú và không có giới hạn. Tôi là học trò đầu tiên được tiếp cận với mọi dạng vẻ thông tin, các giải pháp mới dẫn dắt kết quả của Chương trình .

Nhiều buổi Thầy chỉ ngồi nói chuyện vặt. Hoặc Thầy hướng dẫn tôi viết cuốn sách này. Những hôm đi dạo, thường Thầy ở phía sau, chếch trái hoặc phải. Chúng tôi đi ngang dọc khắp khu bàn cờ Nam Thành Công mới. Vừa đi tôi vừa kể với Thầy tôi thấy những gì xung quanh. Cũng như lúc ngồi xem ti vi tắt tiếng, thấy cảnh, thấy người tôi tả lại. Hay lúc đọc chữ đen trắng, thấy thế nào tôi đọc thế, không suy diễn không sợ đúng sai.

Thầy đối với tôi dịu dàng như một người mẹ, đôi lúc nghiêm khắc như một người cha. Thầy hơn tôi 36 tuổi nhưng trông bề ngoài rất già. Những người trong làng không biết rõ về gia đình tôi, thỉnh thoảng gặp mẹ tôi đi chợ, hỏi:

– Ông ngoại cháu Tú mới ra chơi hả bác?

– Ấy, tôi vừa thấy ông hai ông cháu dắt díu nhau qua đây.

Trong sinh hoạt hàng ngày ở nhà, ở các nhóm Mắt, ở Côn Sơn, tôi không thấy bóng dáng tuổi già ở Thầy. Thầy không phụ thuộc vào nếp sống, vào thói quen cồ định (trừ tật nghiện thuốc lá với bia) với bất cứ ai ở tầng lớp nào, Thầy cũng thoải mái, bình đẳng và rất hay pha trò cho mọi người cười vui. Gần mười năm, dù đã thuộc tính Thầy, tôi vẫn luôn bị lừa về những chuyện bịa vô hại của thầy.

Tôi không giấu Thầy điều gì, dù là chuyện bí mật thầm kín nhất không thể nói với người thứ hai. Bao giờ Thầy cũng lắng nghe, kể cả chuyện nghiêm trọng và các chuyện mách lẻo trong nhà ngoài ngõ, thượng vàng hạ cám.

Như đã nói, Thầy sinh ra tôi lần thứ hai. Dường như tôi chỉ còn là hình hài giống Nguyễn Thanh Tú. Tôi còn được bọc kín không lâu nữa bằng một cô gái mù vô danh, tránh sự tò mò tọc mạch của người đời, kể cả người thân. Rồi đây nếu cần, tôi thích điều gì cũng được. Danh tiếng, của cải, người đời gọi là thánh chẳng hạn.

Thầy không tiếc tôi thứ gì. Vậy mà tôi luôn hờn dỗi, cãi Thầy như hát hay, dù biết rất rõ không có Thầy, tôi chỉ là cô gái mù thảm hại, suốt đời dựa dẫm, ăn bám vào mẹ, vào các chị. Thậm chí có lần giận hờn vô lối, tôi nói:

– Thầy có chết em cũng không khóc đâu.

Thầy cười hiền:

– Để xem!

Chẳng cần phải chờ. Ngay giáp Tết âm lịch – trưa 28 tháng chạp năm Mậu Dần (1998), ở nhà tôi về khoảng vài phút, Thầy bị ô tô đâm gãy nát phần đầu xe máy. Những người chứng kiến sau này kể là Thầy bị hất tung lên, lộn bốn vòng trên mặt đường. May sao có cô buôn hàng đồng nát quen chạy vào báo. Chị lớn tôi hớt hải chạy ra. Tôi mếu máo, ra vào như người mất hồn. Ít phút sau, chính Thầy gọi điện cho tôi:

– Thầy vẫn sống, chỉ xây xát vài chỗ vặt! Thầy đang ngồi uống bia ở quán gần chỗ xảy ra tai nạn, chờ làm biên bản.

Nghe giọng Thầy tôi dịu đi, nhưng vẫn nức nở khóc. Lúc bình tĩnh lại, tôi kiểm tra toàn bộ cơ thể, các phủ tảng của Thầy. Đúng là không có gì nghiêm trọng. Tội nghi nách có vấn đề, song thông tin không rõ. Dù thế nào, Thầy cũng biết lo cho mình, nghĩ vậy tôi yên tâm.

Thực ra, Thầy rất đau. Nằm, ngồi, đứng dậy, trở mình, thở mạnh lại đau dữ dội. Bố con cụ Chu Xuân Anh, vợ chồng cụ Hoàng Văn Bạo và các học trò mù đến chúc tết, Thầy vẫn ra ngoài ngồi tiếp, lại còn uống cả rượu với cả khách. Lần lượt nhóm xe ôm gồm có cụ Tường (người đến chỗ Thầy gặp nạn rất sớm), cụ Quý, cụ Dung, cụ Thắng đến thăm. Còn tôi, trước và sau tết, mẹ tôi đưa đến với Thầy. Thầy không cho báo tin với nhóm Mắt, Cụ nào gọi điện hỏi, tôi đều trả lời:

– Thầy về quê cụ ạ!

Khoảng 8 giờ tối ngày 30 tết, Thầy gọi điện cho tôi:

– Tú ơi, Thầy ra cổng ngồi chơi đây.

Tôi hoảng lên:

– Thầy vẫn còn đau thế, đừng đi.

– Thầy thấy hoàn toàn bình thường, như chưa hề bị tai nạn.

Đến 10 giờ đêm, Thầy bị đau lại. Hai giờ đồng hồ khoẻ mạnh chỉ như một thông điệp chỉ ra khả năng thầy trò chúng tôi có thể làm bất cứ việc gì đó có kết quả tức thời. Không phụ thuộc vào điều kiện nào.

Sau đó ít lâu, qua điện thoại Thầy bảo tôi kiểm tra lại lá lách của Thầy. Lúc đó tôi mới biết phần cuối nách bị chảy máu, hơi sưng. Không thuốc men, không tập dưỡng sinh tự chữa, Thầy phục hồi rất nhanh. Mồng 6 tết, Thầy lại đi xe máy đến đón tôi lên lớp tập với cả nhóm.

Thế là hàng ngày tôi lại được gặp Thầy.

Tôi quý Thầy như thế, rồi vẫn lùng bùng, giận hờn vô lối, vẫn cãi lại. Cuộc giằng giật để thoát khỏi vòng luẩn quẩn của những thói thường đã cóc cáy trong mình mới giai dẳng làm sao.

13

Cuối năm 2000, chị thứ hai tôi đi lấy chồng. Ngôi nhà bốn buồng chỉ còn hai mẹ con, như rộng hẳn ra. Và còn Bi nữa, con chó yêu, người bạn của tôi.

Mẹ Bi là chó Nhật, bố là chó ta. Là con út trong đàn bảy con, Bi còi nhom. Đã vậy, đã hết thời chó Nhật lên ngôi, ông bà chủ tống mấy mẹ con ra hiên, cho ăn được chăng hay chớ.

Bi đến với tôi, nằm lọt thỏm trong hộp bìa đựng rượu chai. Thả ra đất, mẹ đi băm băm mãi mới hết mấy viên gạch lát nền. Bi đứng gọn trong long bàn tay của tôi, như một cục bông trắng. Riêng đuôi lại trụi, dựng ngược như cái que. Mẹ tôi nuôi Bi bằng cơm nhá và sữa bò. Em ăn rất khoẻ. Ổ của Bi là một cái rổ nhựa, lót quần áo cũ. Phải bế đặt vào. Không tự nhảy ra được, Bi cứ nằm kêu chin chít như chuột.

Mấy tháng sau, Bi mắc bệnh đường ruột rất nặng. Tiêu chảy mấy ngày liền, cuối cùng em đi ra máu. Kiệt sức, muốn di chuyển , Bi phải lê nhích từng li một .

Thầy tôi cho Bi vào giỏ xe máy, đem về nhà .

Nếu không có Thầy và cụ Tưởng, chắc Bi chết. Bi được cho nằm buồng riêng của Thầy ở vườn. Nó chỉ còn thoi thóp, hai mông, đuôi bết phân và máu. Hàng ngày cụ Tưởng lau rửa, cho Bi ăn nước cháo. Thầy nhờ cô dược sĩ quen tiêm cho Bi mấy liều B12 và B1. Ngừng được bệnh đường ruột, Bị bị chớm liệt phổi. Bế lên, đầu Bi nghẹo cứng về một bên. Tim đập yếu dần, hơi thở gấp gáp dần. Cả hai nhà đều thương. Thầy đùa: Phải lập ban lễ tang, chuẩn bị đưa Bi về nơi an nghỉ cuối cùng. Có mấy ý kiến khác nhau về việc xử lý xác Bi. Nhà tôi vườn rộng. Tôi xin mẹ cho chôn Bi ở gốc một câu khế. Mẹ tôi đồng ý.

Vậy mà một tuần sau em đã được xuất viện. Mẹ tôi phải dùng kéo cắt trụi lông ở đuôi và mông em. Phải mất mấy ngày, Bi rất khó tính, cứ cau cáu. Ăn trả bữa ít hôm, Bi bình phục. Từ đó em lớn nhanh như thổi.

Nhà Thầy nuôi một con chó thuần giống Nhật Bản. Các chị Tùng Cương, Tùng Ngọc xin Thầy lấy tên con chó trong cuốn truyện Thầy viết đặt cho em, nên nó là Bim, Bim hơn Bi một tuổi, lông rất dài, vừa quăng vừa lượn sóng, mảng trắng mảng đen.

Bim được cả nhà yêu thương, chăm bẵm. Thầy bảo: cầu tự mãi mới được một thằng cu! Anh chàng khá thông minh. Hiểu được nhiều từ thông thường, nó còn biết liên hệ, suy đoán.

Bim có tật đi tè vặt, thỉnh thoảng lại đái bừa ra chỗ nọ chỗ kia trong nhà. Mỗi lần như thế, Thầy ngồi đọc sách hoặc đi đâu về, không nhìn Bim. Nói rất khẽ:

– Không biết đứa nào đái dầm nhỉ?

Dù đang làm gì, Bim cũng chui lọt vào góc xa gầm giường, im thít. Cứ lặp đi lặp lại như thế.Nhưng Bim không chịu sửa chữa khuyết điểm. Lúc đã ba bốn tuổi, một hôm Bim trèo lên giường cụ Tưởng, đái ra cả chiếu, ra chăn bông. Suýt nữa bị đuổi đi không nuôi nữa. Bim rất thích ra khỏi cổng sắt đi chơi. Muốn đi phải mở khoá. Không cần nhìn Bim, chỉ cần nói khẽ: “chìa khoá đâu nhỉ”, Lập tức anh chàng chồm đứng hai chân sau xin lấy xin để. Thường thì Thầy xích Bim vào, dẫn đi dạo, lúc nào cũng có mấy tờ giấy loại cầm tay, phòng khi cậu ta ỉa ra đường thì hứng lấy. Thay cho mấy từ chìa khoá, chỉ cần ngồi hay đứng đâu đó, nói bâng quơ: “Giấy đâu nhỉ”, Bim lại chồm lên cuống quýt xin đi chơi.

Cũng như Bi, anh Bim đã một lần suýt nhìn “bầu trời xanh lần cuối”. đó là khoảng tháng 4 năm 1995. Thầy đang làm việc ở Sài Gòn. Bị bệnh đường ruột, tiêu chảy kéo dài không kiểm soát được, Bim kiệt sức dần, rồi liệt hai chi sau. Cụ Tưởng đèo chị Tùng Cương bế em đến viện thuốc thú y. Ông tiến sĩ của Viện nhìn con chó, lắc đầu:

– Bệnh này ở chó Nhật chưa có thuốc chữa. Nếu gia đình áy náy vì bỏ mặc nó, tôi kê cho đơn thuốc tốn khoảng vài trăm nghìn đồng. Theo tôi là tốt nhất nên đem cho nhà hàng, tránh cho nó khỏi đau đớn kéo dài. Giả dụ có cách nào đó chữa khỏi, nó cũng bị tàn tật suốt đời.

Tùng Cương ôm chặt Bim, khóc ầm lên. Mấy người làm việc ở các phòng gần đó đổ xô đến, tưởng có chuyện gì nghiêm trọng.

Thương quá, lúc về đến nhà, cụ Tưởng bảo Cương, Ngọc:

– Các con đừng quá thất vọng. Vẫn còn một cách nữa. Để mẹ tin vào cho bố.

Cụ Tưởng lại nhờ cô y sĩ quen tiêm cho Bim mấy liều B12-B1 để em có thời gian đợi. Ở nhà vườn, hễ có người nào ra thăm, Bim lại cố lết bằng hai chi trước hướng tới, đôi mắt hạt nhãn đau đáu cầu xin cứu giúp.

Và cũng như Bi, chuyện lạ lại xảy ra. Bim khỏi từng giờ. Cắt cơn tiêu chảy, Bim tập đứng lên bằng cả bốn chân. Sau hai ngày đêm ở nhà vườn, vừa chợt khỏi bệnh, Bim vào , dù lông em còn bê bết phân, bóc mùi khủng khiếp. Bim ăn trả bữa, tự đi lên gác tìm buồng hai chị.

Thầy ở Sài Gòn ra, Bim đã hoàng toàn khở mạnh, vẫy đuôi ư ử đón bố tưởng gãy cả cột sống!

Bim sống quý tộc hơn Bi. Cậu được mẹ và các chị tắm cho thường xuyên. Mùa đông cậu có ổ bằng đệm mút bọc vải đặt trong thùng bìa kín, có đèn điện sưởi. Cơm có bát, có thìa riêng. (Có những ngày Bim biếng ăn, phải dung thìa xúc đưa lên tận mồm. Lại còn phải nịnh: Bim ăn hộ chị (hoặc mẹ) nào). Có lúc còn phải nhá thức ăn, mớm như nuôi trẻ thơ. Ăn uống xong có khăn lau mồm. Ra đường chơi, về nhà có khăn lau chân.

Bi cũng có bát ăn riêng, song uống nước lã. Gần đây cụ Tưởng thấy Bi sống dưới mức nghèo khổ (tuy thức ăn được cấp theo ý muốn), mua cho em tấm đệm bằng mút bọc. Thày mua chiếc thùng bìa, bỏ đệm vào, làm nhà mùa đông cho Bi.

Anh Bim nhát như cáy, sợ cả mèo cả chuột cả gián. Em Bi nhỏ con hơn, lại dữ như hổ. Bảng thành tích phê bình bằng răng của Bi có tới gần hai chục người. Soát xét lại những người bị cắn, Bi có lý của Bi. Kể cả cu Mía, cháu gọi tôi bằng dì và cu Tôm, con chị hàng xóm. Hai đứa bé trêu chọc Bi quá đáng. Bi cắn để tự vệ. Đã hơn một lần, Bi bị người trong nhà doạ đập chết. Vậy mà Bi vẫn sống. Nó đặc biệt yêu Thầy, rồi đến tôi. Hàng ngày Thầy dành ít phút nhảy với nó. Ít có cô bạn nhảy nào hết mình đến vậy. Nhảy quanh Thầy bằng hai chi sau, tung mình xoay trên không vài vòng. Lại còn thỉnh thoảng vừa nhảy vừa hát oăng oẳng ầm nhà. Hàng xóm tưởng ai đó bắt bi để giết thịt. Đang nhảy hay như thế, đôi lúc bất chợt Bi ngồi xuống gãi đùng đùng, hoặc bắt rận. Thầy nhận xét:

– Cô bạn rất lịch sự!

Nó thuộc cả tiếng xe máy của Thầy. Từ xa, có đã nhận ra, ngong ngóng đợi. Bi yêu không vụ lợi. Thầy hầu như không bao giờ cho ăn. Cụ Tưởng, cụ Nhung, Tùng Cương, Tùng Ngọc cũng vậy. Nó yêu tất cả thắm thiết.

Rất hay là Bi vô sinh. Nếu nó đẻ đều đều, chắc mẹ tôi không nuôi nó nữa. Như Bim em, một con chó ta, nuôi trước Bi. Mỗi năm Bim-em đẻ hai lứa. Nó trở nên mụ mẫm, đần độn vì đẻ nhiều. Mệt mỏi vì các đàn con của nó. Đến lúc mẹ tôi hầu như nhiều lúc không chịu nổi. Thầy gợi ý đem cho nhóm Mắt. Tôi giãy nảy, không chịu. Thầy bảo:

– Thầy yêu cầu người đến bắt đem theo ống tiêm và thuốc ngủ. Bim-em sẽ được chết nhẹ nhàng.

Đến ngày hẹn, cụ Thắng đèo cụ Kiều đến. Họ làm gì tôi không biết, chỉ thấy loáng sau Bim-em đã nằm gọn trong bao tải. Hôm đó là ngày tập của Nhóm. Thầy đèo tôi đến lớp. Lên mấy bậc thang (buồng tập ở tầng bốn), tôi dừng lại níu tay Thầy, khóc ầm lên:

– Thầy ơi, Thầy dắt em sang cứu Bim đi. Em không cho giết đâu!

Mọi người dỗ dành rất lâu, tôi mới hơi nguôi. Các cụ áy náy mãi, dù buổi trưa hôm ấy, Bim-em đã nằm gọn trong bụng mọi người. Ai cũng khen thịt Bim-em sao mà ngon thế!

Lại nói về Bim. Chàng có mối tình đầu tuyệt vọng với cô Mít hang xóm, một cô chó ta. Gọi là tuyệt vọng, vì chủ của Mít xin đâu được một cậu Bec-giê to vật vã. Từ đố nàng cứ một năm hai lứa, quên hẳn chàng. Nhưng Bim không quên, lần nào đi qua cửa sổ hay cổng nhà Mít, chàng cũng dựng ngược hai chân, chồm chồm gọi nàng, chửi bới ầm ĩ thằng cướp vợ. Tên hộ pháp kia cũng không vừa. Hắn đón Bim đằng trước, đằng sau nhà, bám lên chấn song cửa gầm gừ răn đe. Cuộc chiến kéo dài đến tận bây giờ và chắc có tiếp tục cho tới khi cả ba đứa đã lên chức cụ… chó!

Bim và Bi chỉ gặp nhau có một lần, lại đúng vào lúc ốm thập tử nhất sinh, nằm cách ly ở nhà vườn. có thể coi như hai đứa chưa hề gặp nhau. Vậy mà mỗi lần Thầy ở nhà tôi về, làm xong thủ tục đón mừng bố, Bim hít lấy hít để hai ống quần và chân. Đó là những chỗ có nhiều mùi Bi nhất. Bi rất thích ôm và nằm sát chân Thầy.

Hai đứa chúng nó phát minh ra kiểu tình yêu – từ – xa mới. Đó là mối tình hơi. Thầy tôi nói vậy.

Chẳng biết hai cục cưng có yêu nhau không. Điều chắc chắn là chúng như những tín hiệu đầu tiên báo rằng Chương trình Ánh sáng của người mù sẽ không chỉ đạt những mục tiêu đề ra ban đầu.

14

Tôi đã viết về Thày tôi quá nhiều, vẫn cảm thấy như chưa nói được điều cần nói.

Hơn sáu năm, Thầy thay đổi nhiều mà học trò ít nhận ra. Thầy như gần gũi với mỗi người, lại cũng càng cách biệt. Thầy không còn chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ cho từng người. Lên Côn Sơn, Thầy để tất cả tự do sinh hoạt, tập luyện. Chẳng còn dẫn tập, chỉ đường đi nước bước. Thầy bảo:

– Các cụ càng buông tôi ra, quên tôi đi càng khá hơn.

Các cụ lắng nghe và vẫn túm chặt lấy Thầy.

Bạn lâu năm, đám anh chị em ruột thịt đông đúc của Thầy thưa vắng dần. Có gặp,chẳng biết nói gì. Có ngồi ăn cùng nhà ai đó, Thầy chẳng biết gắp miếng nào. Những mối quan tâm, những ham muốn, vật lộn với kiếp sống của họ ở ngoài Thầy. Nhiều người bảo Thầy hâm. Thầy nhận ngay danh hiệu sang trọng ấy. Hâm quá, Thầy tự nói về mình. Trong tay có một nghề được cả xã hội trọng vọng, danh tiếng và tiền bạc ở tầm với, lại buông bỏ nhẹ không. Bao thời gian, công sức và cả tình yêu dồn vào một công việc vô vọng. Như đội đá vá trời. Hâm!

– Thầy hâm thật, Tú ạ! – Thầy nói, và cười tươi.

Tôi rất thích nụ cười của Thầy. Nó hiền và rất thật. Khi Thầy nghiêm mặt, đáng sợ luôn. Ấy là với mọi người. Tôi khống sợ!

Một lần giáo sư Vi Huyền Trắc nói với Thầy, trước mặt tôi:

– Đúng là toa hâm, nhưng không như vậy, không ai làm nổi việc moa đang làm đâu.

Tôi đã nói, giáo sư là một trong số ít người hiếm hoi hiểu và tin vào công việc của thầy trò tôi. Tất nhiên, hiểu theo cách của cụ , một nhà khoa học ham nghiên cứu về thế giới tâm linh.

Tôi chưa vao giờ thấy Thầy tôi hâm cả. Không chỉ ở cái cách thầy điều chỉnh Chương trình có kết quả ngày càng nhanh. Mà trong cung cách sinh hoạt, ứng xử, dù là ai cũng thấy có gì gần gũi, không hề có khoảng cách nào với Thầy.

Thầy tôi rất thích uống bia, bia hơi bình dân, giá rẻ. (Thầy bảo: trình độ Thầy chỉ có thế. Tôi biết là Thầy không có đủ tiền uống các loại bia khác). Thầy có hai quán bia quen cùng phố và một quán – bia – thân – yêu (Thầy gọi thế) ở gần nhà tôi. Mỗi lần đi dạo Thầy trò tôi thường tạt qua. Quán xá đủ hạng người. Từ các hạng chức sắc đã nghỉ hưu hoặc đương chức, đến dân buôn, cửu vạn, có cả anh hùng được Nhà nước sắc phong và lưu manh chuyên nghiệp, không chuyên.

Thầy trò chuyện với ai cũng được, cùng cười vui hết cỡ vì câu chuyện, lời nói đáng cười. Nhiều người thích mời bia hoặc trả tiền cho Thầy, dù không mời trước.

Ở quán bia- thân – yêu, Thầy cũng có một số người quen, dù thi thoảng chúng tôi mới đến. Có một cụ tên là Phan, ngoài tám mười tuổi. Cụ thấy tôi đeo mắt nhựa, rất thương cảm. Tưởng thầy trò là hai cha con, cụ hỏi:

– Cháu thứ mấy của anh đấy?

– Dạ, cháu thứ tám bác ạ. Đẻ theo kế hoạch cũ.

Thầy tôi trả lời, nét mặt rất thành thật.

Cụ Phan kêu lên!

– Đẻ lắm thế!

Cụ yên trí tôi là con thứ tám của Thầy. Từ đó Thầy đặt tên cho cụ là Cụ-tám-con.

Mỗi lần gặp lại, cụ tươi cười chào:

– Hai bố con khoẻ không?

Thầy tôi nói khẻ:

-Tú chào Cụ-Tám-con đi! Có lần mẹ tôi ra quán mua bia. Trong khi chờ, bà trò chuyện với cụ Phan. Mau miệng, bà để lộ chúng tôi là hai thầy trò, cụ vẫn hỏi:

– Thế nào. Hai bố con có khoẻ không?

Cụ còn mời, lúc nào thuận tiện, hai cha con đến nhà chơi.

Lắm lúc thấy rất trẻ thơ. Nhất là khi nhảy với Bi, chơi với Mía. thầy như cùng trang lứa với chúng.

Mía rất thích chơi với ông giữa. (Thầy tôi bảo Mía gọi thế. thầy giải thích: không phải ông nội, ông ngoại. Ông già rồi không còn là ông trẻ . Nên là ông giữa). Anh chị tôi nuông chiều Mía. Tên thật cháu là Đỗ Minh Hoàng. Khi mang bầu, chị tôi chỉ thèm ăn mía. Cả nhà gọi đùa thành tên. Bố mẹ Mía không tiếc con thứ gì. Cháu có nhiều đồ chơi đắt tiền. Nhưng nó không thích là mấy. Gặp ông giữa ở nhà tôi, nó chơi không biết chán máy bay, tên lửa, tàu thuyền ông gấp cho. Hai ông cháu la hét, chiến đấu quyết liệt bằng mấy thứ đồ chơi không mất tiền. Nó sẵn sàng bỏ mọi thứ, sán đến bên ông. Ông cháu ba hoa, bốc khoác tận trời.

Có những buổi hai ông cháu dung que hương (hương cúng) bắn ma. Ma chết nhe răng giãy đành đạch, chết hự một cái (lời Mía tả). Rồi hai ông cháu tập võ. Cũng chụm chân, vòng tay bái tổ, xuống tấn, vận khí, phát chưởng công, chỉ công kêu choèn choẹt. Rồi chơi đá bóng. Mới đầu là bóng bằng nhựa hoặc cao su. Sau chỉ là quả hồng xiêm xanh rụng ở sân nhà. Hai ông cháu chia gôn sút chí mạnh “vào rồi”, “không vào”, các đối thủ thi nhau hét toáng. Mía bao giờ cũng thắng, rất hả hê.

Chỉ thế thôi mà Mía mê ông như điếu đổ. Vốn tham ăn, vậy mà món kẹo sô-cô-la là rất thích, nó vẫn để dành phần ông Giữa. Nó dặn đi dặn lại cả nhà: “không ai được ăn đấy”. Nghĩ thế nào nó hạ giọng nói thêm: “Nhưng bảo ông Giữa đừng ăn hết để phần Mía một ít”.

Cầm mấy miếng sô-cô-la bé tẹo, nghe tôi kể về lòng dũng cảm của Mía, Thầy nhấn lại chú bạn nhỏ: “Ông đã hít đến mười lần. Rất ngon, Mía ăn hết đi.”

Thầy tôi thế đấy. Rất đời thường, nhưng với một số người lại cách vời, huyền bí. Không huyền bí sao trong tay chẳng có gì, lại làm cho người mù nhìn thấy? Ngay cả việc Thầy ăn, uống, sinh hoạt cũng đáng đặt dấu hỏi. Mấy năm đầu, Thầy ăn ngày càng ít dần. Các trò đều thấy xót xa. Rồi cũng quen. Vài năm trở lại đây, thực đơn cả ngày của Thầy gồm hai quả trứng gà nhúng, một gói nhỏ bột đậu xanh hay bột ngũ cốc vài chục gam. Có hôm còn lười đến mức bỏ cả nửa gói cháo ăn tối. Hiếm hoi lắm Thầy mới ăn thêm một miếng gì đó (kể cả thịt), chút ít hoa quả. Bia hơi thì mỗi ngày dùng từ bốn đến năm vại. Có điều Thầy ngủ hơi khiếp. Nhiều ngày liền, cụ “chợp mắt” từ 6 giờ tối đến 6 giờ sáng. Cụ tự nhận xét: Thầy ngủ như trẻ sơ sinh! Thầy già đi nhiều. Râu, tóc, lông mày sắp bạc trắng cả. Nhưng trọng lượng cơ thể vẫn như xưa, da lúc nào cũng đỏ hồng. Và vẫn có thể đi xe máy cả trăm cây số không thấy mệt.

Thế mà bảo Thầy là người bình thường ai tin được.

Cả mấy cụ ở Nhóm Mắt Nguyễn Thái Học cũng vậy. Thầy đã nhiều lần nói rất rành mạch về Phương pháp, về con đường đang đi, về việc bắt ma quỷ, thần thánh bỏ ngâm rượu, nếu có. Chẳng ai tin. Thầy nói mặc Thầy. Thầy nói Thầy nghe. Dứt khoát phải có cái gì đặc biệt, là cái gì chứ? Thầy-không-là-gì-cả, không có khả năng kỳ lạ nào, nói vậy sao lọt tai được.

Tôi biết Thầy tôi cô đơn, giữa cuộc đời thừa mứa bon chen, ham hố, thủ đoạn. Tôi hiểu từng lời, từng việc Thầy làm dù có khó hiểu đến mấy. Mà Thầy không cần ai an ủi. Thầy như cỏ cây, như nước, khí trời hoà nhập với tất cả, tạo nên sự sống mới ở chính những con người đầy bệnh tật, mù loà.

Thật ra không ít học trò của Thầy có nhiều khả năng đặc biệt mà dù theo môn phái nào, luyện tập công phu hàng chục năm cũng khó mà có được. Nhưng Thầy tôi không muốn mọi người sa đà vào những cám dỗ tầm thường: nổi tiếng vì những biểu diễn khả năng mà con người không có, thành thày chữa bệnh, thầy dự báo… Thầy khuyến cáo mọi người không nên kiếm tiền, kiếm danh, chạy theo những ham hố muôn đời của con người, dù có tài đến mấy. Thầy nói thẳng:

– Chúng ta không có gì để ban phát, cứu giúp ai. Chương trình Ánh sáng của người mù không làm dịch vụ từ thiện, nhân đạo…

Đến đây Thầy lại nói vui:

– Cụ nào có tiền, hãy tập cho quỹ chung cũng biết cách thở: không cần thì co lại, cần thì nở ra vô tận!

Quỹ chung của thầy trò Nhóm Mắt cũng là chuyện khó hiểu. Bằng mấy năm trời đi Côn Sơn vài chục lần, mãi đến tháng 4 năm 2000, Thầy mới yêu cầu các cụ đống tiền ăn. Tuỳ khả năng kinh tế của mỗi người, đóng bao nhiêu cũng được. Cũng khoảng đó, chúng tôi mới mượn được ô tô để đi. Tiền bồi dưỡng lái xe, thuê khách sạn và các chi tiêu khác quỹ chung vẫn chịu. Có đợt đi đông kéo dài cả tháng, tiêu gần 10 triệu đồng. Thường thì đi nhóm nhỏ hết trên dưới một triệu. Gần đây có tới năm, sáu chuyến đi mỗi năm.

Chỉ có một lần Thầy đồng ý cho lập phòng khám chữa bệnh ở phố Nguyễn Thái Học khoảng hơn một tháng (1998) có thu tiền. Không nhận tài trợ thường xuyên, không người giàu có nào bảo trợ, chẳng biết tiền ở đâu ra. Có thắc mắc thì Thầy bảo:

– Quỹ cũng học phương pháp dưỡng sinh phục hồi chức năng của người mù. Nó biết Thầy bịa ra cái gì là có cái đó.

Cụ Bích có lần nói đùa: Môn học của ta là bịa-tạc-học!

Không nói đâu xa. Tháng 1 năm 2000 quỹ chỉ còn một triệu năm trăm ngàn đồng (không kể số tiền mười triệu gửi Ngân hang, đã năm năm chưa lần nào động đến. Đó là khoản lớn nhất Chương trình nhận được, của ông bà Nguyễn Công Quang và Lý Lệ Hoa). Trong năm thầy trò đi Côn Sơn sáu lần – chưa kể lần đi qua hai năm 2000-2001, quỹ vẫn còn gần một triệu. Mà không phải chi tiêu quá tằn tiện. Bia hơi uống thoải mái. Mỗi đợt bao giờ cũng có một, hai bữa ăn cải thiện.

Tiền đến cứ như trong trò ảo thuật. Chỉ khác, đó là những đồng tiền thật, tiêu được.

15

Chúng tôi có một chuyến đi Côn Sơn hai thế kỷ, cũng là xuyên hai Thiên kỷ. Ở Hà Nội đi sáng 30-12-2000, trưa 8-1-2001, thầy trò có mặt ở nhà.

Tôi không biết kể về kết quả chuyến đi như thế nào cho gần đúng. Nhìn bề ngoài thì chúng tôi vẫn thế: tự sinh hoạt, tự đi không gậy trên những đoạn đường khác nhau, tìm vào quán chỉ định trước, vào chùa theo cổng chính hoặc cổng phụ. Ra cũng vậy, không được trở lại đoạn đường đã đi, cổng vừa vào (chùa có một cổng chính, hai cổng phụ).

Rồi tả người tả cảnh, ngắm mây trời dày hay mỏng, màu gì, trời nắng hay dâm (lúc ngồi trong nhà), nếu nắng, vệt chiếu đến đâu…

Lần này mẹ tôi bảo tôi béo ra, khen Thầy:

– Bác nuôi cháu mát tay thật!

Quả vậy, mấy thầy trò có một đợt an dưỡng thật thoải mái.

Có một hiện tượng trước đây đôi lúc tôi thoáng trải qua, ở Côn Sơn lần này như được khẳng định thêm. Trong sinh hoạt hay đi trên đường, tôi không thấy thông tin hình ảnh, thông tin nhắc. Không gian chung quanh trở nên chông chênh, mất hoàn toàn những điều kiện lâu nay đối với tôi như chỗ dựa tin cậy. Tôi hơi hoang mang. Rồi ngạc nhiên thấy mình đi nhanh hơn, chính xác hơn. Thầy bảo:

– Nếu không quen, mọi người không biết là Tú nhìn bằng hai mắt nhựa! Tú đi đàng hoàng, tự nhiên như người sang mắt.

Thực ra không phải lần nào cũng được như thế. Nhưng cứ dày lên, dày lên. Thầy bảo tôi tạm để vậy, không phân tích, so sánh.

– Chúng ta cần người mù sinh hoạt bình thường như mọi người là đủ. Còn nếu giữ các khái niệm, các điều kiện ràng buộc, chúng ta đánh vật với Chương trình vài chục năm may lắm cũng chỉ có số ít người mù nhìn lại. – Thầy tôi nói.

Thầy cho chúng tôi chạm thử vào CÁI KHÔNG CÓ GÌ. Định hướng cho cách tiếp xúc, quan sát xong Thầy bảo:

– Chúng ta vẫn chưa thoát khỏi thói quen đặt tên cho sự vật theo ý mình. Chưa khá được!

Đúng là chưa khá được. Những trò giỏi nhất của Thầy vẫn chỉ xác định được là có dấu hiệu nhìn lại. Chưa ai nhìn được thường xuyên, sinh hoạt bình thường. Song qua mấy lần đi Côn Sơn gần đây nhất, dường như thầy trò chúng tôi đã chạm được vào cái gọi là CƠ CHẾ TỰ ĐỘNG của Tự nhiên.

Ngày 19-11-2000, Thầy gợi ý với nhóm Nguyễn Thái Học, từng người tự thử nghiệm cơ chế nói trên. Thử vào việc gì tuỳ ý chọn. Chữa bệnh không cần chữa. Làm cho một người hay một nhóm người thay đổi lối sống, hành vi làm phiền, thậm chí làm hại người khác… Chỉ cần biết tên tuổi, địa chỉ của họ. Định hướng nội dung việc cần làm và theo dõi hàng ngày hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp.

Tôi thử ngay hôm đó.

Hàng xóm giáp vách nhà tôi có ba cặp vợ chồng ở chung. Một cặp bố mẹ, hai cặp con và hai đứa cháu nội. Nhiều năm nay họ nghiện cãi nhau. Mỗi ngày một đến hai trận. Bảnh mắt ra đã ầm ĩ, không bố mẹ thì các con. Có khi tất cả cùng tham gia. Toàn chuyện không đầu không đuôi. Mỗi trận đấu khẩu kéo dài cả giờ, kèm theo tiếng đập phá. Mẹ con tôi và các nhà ở gần đến khổ. Chẳng ai có ý định can ngăn, vì họ sẵn sàng chửi luôn cả người khác.

Thật lạ, kết quả gần như ngay lập tức. Cả tháng trời, họ chỉ va vấp nhau vài lần thoáng qua. Có lần tưởng bùng nổ to, song chỉ ít phút lại yên. Ông bố giảm bớt những lần say rượu gần bất tỉnh. Hai đứa cháu ít quấy, nên không bị quát nạt, bị đánh như trước. Mọi khi cứ có người ở nhà, họ lại mở đài mở băng hết cỡ, dù không ai nghe. Chỉ hàng xóm là ong hết cả đầu. Từ cuối tháng 11 năm 2000. họ vẫn mở, song chỉ vừa đủ người trong nhà nghe tiếng. Đến nay (19-2-2001), cuộc thử nghiệm đã tròn ba tháng. Chỉ một lần ầm ĩ nhất là cuối ngày mồng một tết ta. Cặp vợ chồng con cãi nhau chí tử vì mấy trăm nghìn đồng tiền mừng tuổi của đứa con. Hôm sau họ lại anh anh em em ngọt xớt.

Kết quả vừa kể và kết quả những năm qua đôi lúc làm tôi thấy mình cũng oai, cũng có vai trò gì đó mà không ít người thèm khát. Tôi thú thật với Thầy.

– Không sao cả – Thầy bảo – Oai vệ một chút, thấy mình cao hơn một chút cũng được. Còn làm việc với mọi người, phải chấp nhận cả những thứ ta không thích, không cần. Kể cả nếu thiên hạ thổi ta lên tận mây xanh!

Thầy trò tôi ngày này qua ngày khác âm thầm thử nghiêm, nhặt nhạnh từng dấu hiệu xác định đúng các bước đi của chương trình.

Có mấy cuộc thử nghiệm nữa, cũng cho thấy kết quả.

Phía trước nhà Thầy, có hai vợ chồng trẻ ở nông thôn ra thuê trọ. Họ có cô con gái khoảng hai tuổi. Đứa bé khóc ề à dai dẳng cả ngày lẫn đêm, kèm tiếng gào không thay đổi: “Mẹ ơi, bê…ê…” . Buổi tối và ban đêm thật khó làm việc, khó ngủ với nó.

Tuy chưa gặp mặt, Thầy tôi cũng biết cháu bé bị một bệnh khá hiểm nghèo, Thầy giúp nó. Tuần đầu con bé khóc thưa dần. Tuần thứ hai trở đi, nó chịu ăn chịu chơi và đã biết cười. Thảng hoặc nó khóc thưa vì lý do gì đó, giọng nó khoẻ, có sinh lực. Mãi một tháng sau, Thầy mới gặp hai mẹ con cháu dắt nhau đi chơi. Bà mẹ trẻ bảo:

– Con khoanh tay chào ông đi.

Đứa bé làm theo. Nhìn cháu Thầy giật mình: mặt nó quắt queo như mặt bà già. Da xanh mướt và khô. Nó chỉ bằng đứa trẻ một tuổi.

Tình cờ nói chuyện với người anh họ lớn tuổi của cháu bé, Thầy mới biết trong dòng họ ngoại của nó đã có vài trường hợp bị bệnh máu trắng hoặc u ác. Bố mẹ Phương Huế – tên bé – ở quê không sống nổi, định gửi con cho bà ngoại, ra thành phố kiếm ăn. Nó không chịu, khóc đến lả người. Đành phải cho đi cùng. Nhưng nó quấy thế, không làm ăn gì được. Vậy mà sau khi bớt khóc, nó đã chịu về quê ở với bà, suốt ngày chạy chơi.

Bố mẹ Phương Huế không hề biết và không bao giờ biết Thầy tôi đã làm gì để giúp cháu. Phía sau nhà Thầy có một gia đình hai con. Họ ít cãi cọ, nhưng khi có ba bốn thành viên ở nhà, lại ầm ầm như chợ vỡ. Đứa em gái sinh sau anh nó sáu bảy năm. Nó luôn vờ khóc khiến thằng anh nhiều lần bị đòn oan rất đau. Không phải là khóc, nó hét đanh đảnh, giọng mỗi lúc một cao vút, lên đến cung bậc nghệ sĩ ô-pê-ra thượng thặng cũng xin thua. Tiếng hét – khóc của nó như mũi dùi xuyên vào tai hàng xóm. Thỉnh thoảng đến nhà Thầy, tôi cũng đượng thưởng thức giọng nữ cao không hề có ấy.

Kết quả gia đình phía sau không nhanh bằng gia đình phía trước .

***

Tôi chỉ kể thêm một việc nữa để nói về cái tạm gọi là CƠ CHẾ TỰ ĐỘNG. Có vẻ nó có thật!

Tết Tân Tỵ này (2001), cụ Nhung về quê nghỉ dài ngày. (Thầy cho nhóm Mắt nghỉ gần một tháng).

Đầu năm cụ sang chúc tết ở làng bên. Cụ gặp người anh họ xa tên là Hoàng Văn Hoan, mù từ ba tháng tuổi, di chứng của bệnh đậu mùa. Năm nay anh Hoan năm mươi nhăm tuổi. Hai anh em trò chuyện, cụ Nhung bảo:

– Có một phương pháp dưỡng sinh giúp người mù tự lo sức khoẻ và nhìn tại. Mấy năm nay em học ở Hà Nội, cùng mấy nhóm người mù khác. Nhiều người hết bệnh và đã nhìn lại chút ít. Anh có học thì em hướng dẫn.

– Anh xin học – Anh Hoan nói.

Buổi đầu tiên cụ Nhung dẫn tập bài Bốn hiệu ứng vật lý. Chỉ đến hiệu ứng thứ hai thì dừng lại. Rồi cụ kiểm tra kết quả. Anh Hoan thấy được màu sắc, kiểu áo khoác, chất liệu vải cụ đang mặc. Áo của cụ trùm kín cả cổ tay. Cụ hỏi:

– Anh thấy tay em có đèo già không?

Anh Hoan nói ngay:

– Hai tay cô đeo vòng đồng hồ.

– Anh xem đồng hồ đeo ở tay nào?

– Tay trái.

– Anh có khẳng định là ở tay trái không?

À, không. Cô đeo đồng hồ tay phải.

Con trai anh Hoan lên mười cũng ngồi xem. Cụ Nhung hỏi cháu:

– Bố cháu nói có đúng không?

Thằng bé lắc đầu.

Cụ vén hai tay áo lên, để lộ cái đồng hồ và chiếc vòng. Thằng bé trố mắt, ngạc nhiên vì bố nó nói đúng.

Anh Hoan nhìn như cung cách của người mù.

Mấy buổi tập sau (cũng chỉ là bốn hiệu ứng vật lý), cụ Nhung hỏi về nhiều thứ, anh Hoan nói lúc đúng lúc sai. Để xác định chắc chắn là anh Hoan đã nhìn lại được, cụ nghĩ ra một cách thử khó. Cụ giơ một bàn tay lên, lúc mở hai ngón, lúc mở bốn ngón, anh đều nói đúng.

– Bây giờ anh bắt chước em nhé. – Cụ Nhung phấn chấn bảo.

– Cô cứ thử đi!

Cụ Nhung đưa tay lên, lúc nắm lúc mở, lên cao xuống thấp và làm một số tư thế khác. Làm chậm. Anh Hoan đưa tay theo, không sai mấy. cụ Nhung còn gặp bé Giang 6 tuổi và cụ Vin ở một xóm khác. Giang mù bẩm sinh. Cả nhà Giang vô cùng ngạc nhiên vì lần đầu cậu bé thấy khá chính xác màu sắc những thứ cụ Nhung đưa ra hỏi, cả hình dáng , kích thước và tên gọi của một số vật dụng. Mấy tháng sau, Giang được nhận vào học ở một Trung tâm nuôi dạy trẻ em mù ở thành phố Hồ Chí Minh. Chú được mang biệt danh Giang-thông-thái vì nhìn được bằng đôi mắt hỏng và biết rất nhiều thứ vượt lứa tuổi.

Cụ Vin không bằng Giang, song cũng thấy thấp thoáng như mấy cụ ở nhóm Cầu Giấy.

Chưa có nhiều trường hợp như anh Hoan và ông Thiệu (Dịch Vong), cụ Vin, bé Giang (Ý Yên – Nam Định). Kết quả cũng chưa được lắp đi lắp lại ổn định. Khẳng định điều gì lúc này cũng là quá sớm.

***

Sau tháng tám, theo thầy, tôi được giao công việc đọc lập: phụ trách nhóm Mắt ở phố Nguyễn Thái Học. Cụ Tưởng làm nhiệm vụ đưa đón tôi đến lớp hàng tuần. Thầy vắng mặt trong nửa năm.

Nhóm Nguyễn Thái Học lúc ấy thường xuyên có hơn mười người, hầu hết là các thương binh đã tập nhiều năm. Thỉnh thoảng mấy bà vợ bị bệnh của các cụ cũng đến lớp tập.

Tôi không tự coi mình là cô giáo, dù các cụ học viên muốn như thế. Đến lớp, có buổi tôi dẫn tập, có buổi tôi phân công luân phiên mấy cụ đã nắm chắc phác đồ cơ bản hướng dẫn mọi người. Công việc có vẻ đâu vẫm ra đấy, như khi Thầy có mặt . Nhưng đó chỉ là bề ngoài.

Hầu như không có cụ nào hướng dẫn đúng bài đã học. Thực ra, họ không cố ý làm sai. Họ chỉ không hiểu được Thầy và thực chất của PHƯƠNG PHÁP. Lẽ thường, ở tất cả mọi công việc, người ta bắt đầu từ việc dễ đến việc khó, từ đơn giản đến phức tạp. Thương pháp dành cho người mù làm ngược hẳn. Sau nhiều năm thực hành trắc nghiệm, các bài tập, cách tập đã lược giản đến mức tối đa, thời gian một đợt, một buổi tập cũng rát ngắn chỉ còn ít phút.

Mọi người trong nhóm chỉ nghiêm chỉnh tập đúng cách khi có mặt Thầy. Ngay khi tôi hướng dẫn, một vài người đã tự ý tập lại những phác đồ Thầy đã bảo phải loại bỏ. Để các cụ dẫn, còn tệ hại hơn. Nhớ được những gì đã từng được học, họ băm trộn, biến báo thành một bài thật dài, đôi khi tới nửa giờ, bốn mươi lăm phút. Chỉ nhắm mắt ngồi nghe cũng ê ẩm cả người. Có nhắc để sửa, họ cãi: “chúng tôi tập toàn những thứ Thầy đã dạy”. Đó là lúc ở lớp, họ còn nể nang cô giáo đôi chút. Ở nhà, ông nọ mách ông kia cách mở rộng, thêm bớt vào mỗi bài tập, say sưa ứng dụng sự tìm tòi hàng ngày. Tệ hơn cả, chính cụ trưởng lớp nghe xui khôn xui dại, tham gia tập chui với một vài thành viên cũ của Chương trình. Họ tập bài hô hấp vận khí hổ lốn, ăn cắp một chút của phương pháp Y-ô-ga, một chút của khí công, một chút của Thiền.

Tôi thật buồn và mệt mỏi và phải làm việc với những người như thế. Họ ham hố, mong sớm tới đích hơn người khác. Thầy đã hoài công nhắc nhở: “Muốn đi đường xa tới đích, phải biết bỏ lại những phương tiện đã giúp ta vượt qua từng chặng. Có ai còn cõng cả con thuyền đã đưa ta qua sông mà đi tiếp?”

Cái giá họ phải trả cho sự ham hố không rẻ. Mấy người hăng hái nhất miệt mài tập những bài không chính thức đều có biến động xấu về bệnh tật. Họ lại quay về với bệnh viện với thuốc men, sau một thời gian dài tự làm chủ sức khoẻ của mình. Cụ trưởng tràng đi lạc đường quá xa. Sau này, cụ xin Thầy cho bổ sung chính thức bài tập hổ lốn vào phương pháp. Bị kiên quyết từ chối, cụ xin từ chức, rời bỏ nhóm.

Làm việc với nhóm thương binh hỏng mắt, tôi càng thấy sự kiên trì của Thầy, tình thương của Thầy với người mù là không có giới hạn. Bị thương tật nặng (có người mất 98% sức khoẻ, được coi là liệt sỹ sống), nhiều năm sống trong bóng tối, mất thăng bằng, họ đòi hỏi mọi ưu tiên, rất dễ nổi khùng, bất chấp phải trái. Không ít thương binh trong nhóm đã thấy lại ánh sáng, nhìn được mặt vợ con, người thân. Có người còn xem được cả truyền hình. Song cũng có một vài người vẫn mù hoàn toàn. Họ ấm ức, tự gọi mình là hội mù tịt. chương trình mở rộng ra Quận hội người mù Cầu Giấy, Hoàn Kiếm. Người mù xã hội sinh sống tản mạn, rất cơ cưc. Thầy phải lặn lội đến dạy từng nhóm nhỏ dăm ba người. Tôi và cụ Nhung, cụ Tưởng vợ thầy đươc phân công đến hướng dẫn các nhóm tập mới. Kết quả rất nhanh ở các lớp học thuộc Cầu Giấy, Hoàn Kiếm được thông báo với nhóm Nguyễn Thái Học. Không phải ai cũng mừng. Nhất là các cụ tự nhận ở hội mù tịt, trong đó có cụ Nhâm. Những buổi đầu đến với Chương trình, Cụ Nhâm hồ hởi nói: “chỉ cần một người trong chúng tôi nhìn lại được là có thể coi như thành công, có thể tuyên bố để thiên hạ biết việc chúng ta dám chống lại cả trời”. Lần lượt là cụ Trần Công Nhuận, rồi đến tôi, cụ Hoàng Văn Bạo, cô Thu Trang cụ Khởi và nhiều người nữa có kết quả, cụ Nhâm không vui, mà buồn. Nghe thông báo về các nhóm mới tập, cụ làu bàu thở dài: “việc ở đâu đâu nhà giời, bố ai đến tận nơi hỏi rõ thực hư ra sao”. Chính từ cụ và một hai người a dua, đã lọt ra những lời thậm thụt thông hay về Thầy. Vẫn theo học đều đều, cụ tung ra nhận xét: “nhìn thấy hay không chẳng biết. Thôi thì cứ tập để lấy cái sức khoẻ”. Không phải không có người gật gù tán thưởng.

Tháng 9 băn 2004, báo Tiền Phong đăng bài viết dài kỳ vể kết quả của Chương trình. Tác giả Phùng Nguyên còn rất trẻ. Anh đã đến tận nhà gặp cụ Bạo, cụ Hạ và Thu Trang. Sau đó, anh lên Côn Sơn cùng ăn ở với nhóm người mù đang tập luyện. Bài báo viết có tiếng vang rộng rãi. Số người mù và người bệnh tìm đến với Chương trình rất đông, kể cả ở một số tỉnh miền Trung, miền Nam. Vậy mà có gia đình ở Yên Bái lần tìm không ra địa chỉ. Một gia đình khác cũng ở Yên Bái cử người lên tận Hà Nội hỏi. Vòng vo mãi, họ đến được nhà ông Nhâm. Ông bảo là có tham gia tập, nhưng không có kết quả. Dù vậy, những người khao khát ánh sáng vẫn kiên trì cuộc kiếm tìm.

Cùng khoảng thời gian vừa kể trên, Thầy tôi bị bệnh nặng. Khối u ác ở bàng quang khiến cụ đi tiểu ra máu tươi kéo dài, nhiều lần bị tắc niệu đạo, rất đau đớn. Không đi bệnh viện, không dùng bất cứ loại thuốc gì, Thầy âm thầm tự chữa cho mình bằng chính phương pháp cụ tìm ra cho người mù. Dù thầy kín tiếng, rồi cũng có người biết. Hơn hai năm sau bệnh Thầy mới lui, sức khoẻ hồi phục dần. Thời gian ấy, khi nào khá hơn đôi chút, Thầy lại đến với người mù, mỗi năm vẫn tổ chức cho mọi người đi Côn Sơn ít nhất một lần. Vậy mà suốt thời gian đó, ở nhóm Nguyễn Thái Học, không ai nghĩ đến việc thăm hỏi Thầy, dù chỉ một lần. Một cú điện thoại cũng không.

Tôi cũng được giao hướng dẫn lớp học dài hạn, mỗi tuần một buổi vào sang chủ nhật tại nhà. Tôi không có thói quen ghi chép nên không nhớ được có bao nhiêu người học đã đến rồi đi. Nhưng có một trường hợp khá đặc biệt làm tôi nhớ lâu.

Một hôm, giáo sư vi Huyền Trắc mời thầy trò tôi đến chơi. Đúng giờ , Thầy và tôi có mặt. Phòng khách khá rộng của giáo sư chật kín người, phải kê thêm dãy ghế phụ ở lối sang buồng bên. Tôi đi trước, đến thẳng chỗ để hai chiếc ghế trống. Vừa ngồi xuống, tôi lướt qua những người có mặt, theo cách riêng. Nhận ra chú Cao Giang ở nhà xuất bản Thanh Niên, tôi chỉ cho Thầy chỗ chú ngồi, tả gương mặt và chiếc kính cận chú đeo, bộ quần ác chú mặc. thực ra, tôi mới chỉ quen chú qua điện thoại, nhìn chú ở đầu máy bên kia.

Cuối buổi gặp, giáo sư như tình cờ nhờ tôi kiểm tra bệnh cho mấy người đang học khí công ở nhà ông. Được tôi đồng ý, hai bệnh nhân ngồi ở dãy ghế phụ tự giới thiệu tên, không nói đang mắc bệnh gì. Cả hai đều là đại tá quân đội, một đương chức, một đã nghỉ hưu.

Khoảng mười phút sau, tôi nói với đại tá Nghĩa ở Học viện Kỹ thuật Quân đội: “Gan chú đã bị nhiễm chất đọc hoá học đã lâu, thuỳ lớn bị teo và khô. Chú đang mắc thêm bệnh tiểu đường”. Bệnh nhân thứ hai bị xơ gan cổ chướng và loãng dịch mật. Quá ngạc nhiên, giáo sư đề nghị tôi khám thêm cho người thứ ba cô kỹ sư Vân. Tôi đắn đo, hỏi người bệnh có cần biết sự thật không. Bệnh nhân đồng ý. Cô Vân có một khối u ác ở phổi phải; vú bên đó đã bị cắt bỏ.

Cả ba bệnh nhân trên đều đã có bệnh án, sau đó tôi mới biết.

Một tuần sau hai vị đại tá, cô kỹ sư, và một số người khác đến nhà tôi xin học. Chú Cao Giang đến muộn hơn. Chú bị thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình, huyết áp không ổn định, chỉ một đến hai tháng, mấy người bị bệnh nặng đã có cải thiện rõ rệt. Đến khi xét nghiệm lại với tôi. Rất lạ, thấy bệnh đã ổn định dần, họ im lặng rút khỏi lớp và không một lần liên hệ với tôi. Rất lạ, tôi hay nhớ đến họ, không hề oán trách. Họ rời bỏ giáo sư Vi dễ dàng đến thế thì việc quay lưng lại với một cô gái mù có gì lạ. Mẹ tôi có lần hỏi: “Thầy trò con định làm không công cho thiên hạ đến bao giờ”. Thật khó trả lời. Riêng ở nhà tôi cũng có đến cả trăm người đến học rồi đi. Hơn mười năm qua, số người đến với các lớp dưỡng sinh do Chương trình mở nhiều gấp nhiều lần thế. Rất hiếm lớp học mọi người tự nguyện đóng góp học phí. Cũng hiếm như thế, số người có hoàn cảnh khá giả bỏ tiền ra ủng hộ Chương trình. Kinh tế gia đình Thầy tôi ngày càng eo hẹp. Còn tôi, ao ước có đủ khả năng nộp tiền ăn ở hàng tháng cho mẹ cũng rất xa vời. Thầy tôi chủ trương không thương mại hoá phương pháp. Nhưng Thầy cũng chủ trương chỉ giúp không cho người mù và người nghèo; có thể đàng hoàng nhận tiền của người bệnh khá giả, giàu có để mở rộng Chương trình cho người mù và giúp đỡ những người quá nghèo. Không có sự tự định, đặt giá nào cả. Tất cả dựa vào sự tự giác của mọi người.

Thật buồn là những người có lòng hiếm như sao ban ngày. Bằng ấy năm, chỉ vài người khỏi bệnh hiểm nghèo chi ra dăm ba triệu đồng. Số người ủng hộ không điều kiện đếm trên đầu ngón tay. Nghe nói các thầy khí công, thầy nhân điện kiếm tiền rất dễ; có người còn giàu có. Không hiểu họ làm cách nào.

Tôi đã bước sang tuổi ba mươi vẫn phải ăn bám mẹ. Đó là một trong những điều ấm ức tôi chưa có cách gỡ. Đôi khi tôi mong Thầy đừng quá khắt khe trong việc nhận những đồng tiền xứng đáng với công sức bỏ ra. Chỉ cần lấy ước chừng một nửa hoặc một phần ba phần tư khoản chi phí người bệnh phải bỏ ra nếu điều trị Tây y hoặc Đông y, cả thầy cả trò đều ung dung, không phải lo lắng miếng ăn hàng ngày. Hầu hết những người tìm đến học đều mắc bệnh nan y. Không ít trường hợp bệnh viện đã từ chối điều trị. Nghĩ thì dễ, nói ra thật khó. Tôi gợi ý riêng với Thầy. Thầy cũng lúng túng, lắc đầu: “Đành phải vậy thôi, Tú ạ. Thế nào ta cũng gặp những người biết nghĩ”. Cái người biết nghĩ thầy trò tôi chờ đến nay vẫn chưa thấy đâu…

Cuối cùng thì hai gia đình ở Yên Bái cũng tìm đến được với Chương trình. Ở ngay thị xã có em Phạm Tú Vinh, 17 tuổi, bị mù bẩm sinh. Vinh có anh trai bọ hỏng một mắt do tai nạn, cùng đến xin học. Em Nguyễn Thị Liên ngoài 20 tuổi bị bệnh viện điều trị nhầm thuốc, hỏng cả hai mắt. Họ đến vào dịp có đợt đi Côn Sơn, được đi luôn. Chuyến Côn Sơn này còn có bé Huy 5 tuổi, mù do đẻ non, bà Nguyên bà Tĩnh ở Hà Tây, mắt hỏng đã bốn, năm chục năm.

Côn Sơn tháng 10 năm 2005 khẳng định một lần nữa những kết quả tưởng như tình cờ rải rác trong mấy năm trước. Cả năm người mù đều có kết quả tại chỗ, ở nhiều mức độ khác nhau. Bà Nguyên, Bà Tĩnh, cô Liên đều thấy được ánh sáng, hình vật tuy còn khá mờ. Tú Vinh mấy ngày đầu dường như rất kém, đến gần giữa đợt có thể một mình đi buông khắp các ngõ ngách của khách sạn, tự tìm đến người quen ở các buồng trong những hành lang ngang đọc.

Bé Huy nổi trội hơn cả. Đôi mắt của bé bị khô, teo lép. Trước khi đi Côn Sơn, bố mẹ đưa bé đến nhà tôi xin học. Chỉ ba ngày sau, Huy đã thấp thoáng nhìn thấy. Không thể gọi Huy là học trò được. Từ lúc đến cho tới khi về, nó luôn chân luôn tay luôn mồm. Bắt đầu nhìn thấy thấp thoáng, nó đi như chạy ra ngõ. Dù bố hoặc mẹ nhắc nhở, chưa buổi nào Huy chịu ngồi yên một chỗ lấy vài phút. Sau khi ở Côn Sơn về, tuần nào Huy cũng có người đưa đến “học” ở nhà tôi. Nó tiến bộ hàng ngày. Rất đặc biệt là tuy bị mù bẩm sinh, Huy nhận ra màu sắc khá hơn tất cả những người khác.

Cũng như Vinh, bé Huy được gia đình chiều chuộng quá mức, có thói quen không nghe lời bất cứ ai. Huy có cả một buồng riêng để chật đồ chơi, toàn những thứ đắt tiền của người ngoài. Trí nhớ của Huy khá đặc biệt. Tất cả số điện thoại của những người quen biết bố, me, các khách hàng rất đông, chỉ đọc một lần là Huy nhớ. Lâu dần, Huy trở thành cuốn danh bạ sống cho cả nhà. Bố mẹ mua cho Huy một chiếc điện thoại di động, cho dùng thoải mái. Có tháng cậu bé lên năm chi gần hết một triệu đồng cho gọi điện thoại chơi!

Sau lần đi Côn Sơn về, cả Huy, anh em nhà Vinh và mấy người khác tiếp tục học lớp dài hạn ở nhà tôi. Khoảng nửa năm sau, được thưởng một chiếc ô tô chạy bằng ắc quy, Huy đã có thể tự lái ra ngoài ngõ đông người, đôi khi còn cho cả các anh lớn tuổi lần lượt ngồi lên xe. Vinh gần như không nhúc nhích. Hắn quen sống dựa dẫm, ỷ lại, đến quần áo cá nhân cũng không tự giặt được. Thế mà khi ở Côn Sơn, sểnh ra một chút anh chàng lại tự mò đến chỗ các chị tiếp tân của khách sạn, cầm tay, đặt tay chỗ này chỗ khác để chữa bệnh! Trong khi hắn không được học lấy một buổi nào, không có chút khái niệm nào về bệnh.

Tôi cứ lo mãi về Huy và Vinh. Ngay bố Vinh cũng nhận xét: “cái thằng này mà nhìn được, không biết nó thành thứ gì”. Cũng như tôi đã từng lo cho một vài người mù khác. Khi nhìn được, lại có một số khả năng đặc biệt hiếm, những người chỉ biết nghĩ đến mình, lại đầy ham hố, thèm khát tranh đoạt tiền bạc, danh vọng sẽ ra sao. Liệu họ có sống một cuộc đời bình thường ,lương thiện như mọi người khác.

Gần đây (đầu năm 2006), Vinh có khá hơn, Vinh đang có những chuyển biết rất đáng mừng.

Hồi Thu Trang ở Cầu Giấy vượt lên, tôi rất phấn khởi. Bây giờ lại đến Quang Huy. Bé cũng nhìn được khá thường xuyên như Trang. Nhưng có sự khác nhau: Quang Huy chưa đến tuổi đi học, lại không hề tập luyện một buổi nào.

Xin hãy nhớ lại trường hợp của cháu Giang, ông Hoan, bà Vin ở quê cụ Nhung. Và ông Thiệu ở Cầu Giấy. Đó là những người mù hoàn toàn, cũng không hề tập dưỡng sinh phục hồi chức năng mà thấy lại được ánh sang. Dự cảm của thầy trò tôi về một CƠ CHẾ TỰ ĐỘNG của Chương trình ÁNH SÁNG CỦA NGƯỜI MÙ có vẻ đúng.

***

Trong năm 2005, tôi gặp khá nhiều người lạ.

Mở đầu là mấy chị biên tập, phát thanh viên đài Truyền hình thủ đô. Đọc báo, các chị tìm đến dưỡng sinh, tìm hiểu Phương pháp. Tiếp đó là một nữ bác sỹ ở bệnh viện Xanh Pon, đi cùng với một bác sỹ người Pháp. Ông người Pháp làm việc ở tổ chức phi chính phủ, sang khảo sát để giúp trang thiết bị y tế cho một bệnh viện ở Hà Nội và mấy tỉnh thành khác. Nghe nói về một phương pháp lạ, ông muốn tìm hiểu và nếu có thể, tham gia trắc nghiệm kết quả. Thầy trò tôi lên lịch, hẹn bác sỹ ở Côn Sơn gần nhất. Lâu, chắc gặp trục trặc gì đó, không thấy ông ta hồi âm.

Riêng buổi gặp mặt, toạ đàm với toà soạn báo khoa học và đời sống, Thầy bảo tôi ở nhà. Cụ Bạo đi cùng Thầy.

Rồi đến nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải. Thấy Đài truyền hình Việt Nam gọi ông như thế, còn ông nghiên cứu gì không được giới thiệu. Qua mấy lần điện thoại, ông đến nhà gặp tôi, thuyết phục tôi đồng ý ghi hình để giới thiệu trong mục chuyện lạ Việt Nam. Ông rất kiên trì. Nhưng tôi kiên quyết từ chối. Tôi không tiện nói thẳng: Công việc thầy trò tôi làm không phải dể biểu diễn mua vui cho những kẻ tò mò.

Tiến sỹ khoa học Phan Đăng Nhật lên tận Côn Sơn tham gia tập luyện. Ông muốn tìm hiểu sâu về Phương pháp. Tiến sỹ đang làm việc ở Trung tâm bảo tồn văn hoá và kỹ thuật truyền thống. Ông cho biết Trung tâm đã có hai ba héc-ta trên đất Thái Nguyên để đặt trụ sở và đã quy tụ được gần một chục ngôi nhà sàn cổ của nhiều dân tộc thiểu số. Là nhà khoa học thực nghiệm, ông rất thận trọng khi tiếp cận với Phương pháp. Trước khi lên Côn Sơn, ông đã làm việc riêng với Thầy tôi. Cuộc trao đổi có ghi âm. Sau đó ít ngày, trong buổi làm việc khác, ông nhận xét với Thầy: “Hình như ông còn điều gì chưa nói hết với tôi”.

Thắc mắc của ông tiến sỹ cũng là thắc mắc của nhiều người.

Đấy cũng là cái khó khi muốn phổ biến rông rãi Phương pháp. Thầy tôi đã mấy lần viết tài liệu ở mức đơn giản nhất về nguyên lý cơ bản, nội dung, các bước tập dưỡng sinh. Nhưng không lần nào cụ ưng ý. Tôi biết Thầy không hề muốn giữ bí mật. Dường như việc làm cho mọi người hiểu đúng Phương pháp là điều không thể. Tiến sỹ Phan Đăng Nhật chỉ ở Côn Sơn với thầy trò tôi có ít ngày. Trước khi về, ông ngỏ ý sẵn sang giúp đỡ Chương trình trong phạm vi khả năng của mình. Trước mắt, thầy trò có thể đưa nhóm lên tập ở Thái Nguyên, đỡ được môt khoản tiền thuê khách sạn. Ông rất kín đáo, không có nhận xét gì về công việc đang tìm hiểu.

Có một ông tìm đến thầy trò tôi với mục đích khá lạ lùng. Ông xin được góp một tay để làm cho người mù nhìn ổn định, nghĩa là sinh hoạt bình thường như người sáng mắt. Mấy lần bị Thầy từ chối, ông đi cửa sau, đến thuyết phục tôi. Ông hứa sẽ nhờ đấng nọ đấng kia làm nốt cái phần thầy trò tôi chưa làm được. Ông còn mời hai thầy trò cùng cộng tác với ông mang lại ánh sáng cho mấy chục người mù ông đang thường xuyên giúp đỡ. Lớp học đó sẽ được đặt tên dưới sự bảo trợ của các tổ chức có uy tín, trong đó có UNICEF ở Việt Nam. Công trình ÁNH SÁNG CỦA NGƯỜI MÙ sẽ được đăng ký chính thức. Tương lai rất sáng sủa. Tôi lễ phép đề nghị ông dung khả năng đặc biệt làm cho người mù ông quen biết có kết quả thật cao. Thầy trò tôi còn đang mò đường, đành kiên tâm theo đuổi đến cùng công việc đã bắt đầu hơn mười năm.

***

Ông tốt bụng vừa kể trên đã đánh trúng vào ao ước cồn cào bao năm của tôi. Quả bây giờ tôi đã là cô Tú khác hẳn với cô Tú mù hơn mười năm trước. Tôi không còn hoàn toàn mù và có khả năng giúp đỡ nhiều người khác. Mỗi lần nghe tôi lên lớp, hướng dẫn, giảng giải cho học viên, mẹ tôi trầm trồ khen với Thầy: “Con bé thật chững chạc, thông thái, đâu ra đấy”.

Nhưng tôi vẫn chưa có kết quả cuối cùng.

Nó ở đâu, cái kết quả ấy?

Tôi biết, công việc thầy trò tôi theo đuổi, dù có mất vài chục năm, cả đời người hay vài thế hệ mà có két quả mong muốn, cũng chưa phải là quá dài. Song hàng ngày phải đối mặt với những lúc còn tăm tối, va quệt, quờ quạng, sống theo trì trệ của người mù làm tôi đau đớn. Sự đau đớn cả thể chất, cả tinh thần rình rập, trở đi trở lại. Tôi vẫn phải quằn quại vượt qua mình mỗi ngàu, mỗi giờ.

Cuối cùng rồi tôi cũng tìm được lối thoát: Phải biết chờ đợi. Tôi đã không mất hy vọng tìm lại ánh sang, giờ tôi đã có nó. Tôi biết chờ đợi trong công việc, trở thành người có nhiều để cho, tôi sẽ có kết quả mong muốn.

Bạn có chia sẻ niềm tin ấy với tôi không?

Bạn có chia sẻ rằng tôi còn là người mù?

Làng Láng
Tháng 5 / 2001 — tháng 2 / 2006
Nguyễn Thanh Tú

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *