Tai biến – liệt nửa người

Khôi phục não: 34, 290, 100, 156, 37, 41.
Bộ huyệt khôi phục não: 34, 290, 100, 156, 37, 41.

Trần Dũng Thắng

Trường hợp của chị Sách (là công an phụ trách công tác xuất nhập cảnh) có chồng là giáo sư bác sĩ ở bệnh viện 103 bị tai biến mạch máu não đã 5 năm liệt nửa người. Tôi ra Hà Nội chữa cho 5 ngày, vài buổi đầu đã giơ tay vuốt được tóc, chân đi còn hơi khấp khểnh, lưỡi bị ngọng nói khó, bị bên phải.

Trường hợp một cháu bị bại não, cổ mềm không cất đầu lên được, mắt không liếc được, cũng dùng phác đồ như nhũn não. Tôi chữa 10 ngày đầu, cổ cháu cứng lại, mắt đã đưa đi đưa lại được.

Anh Bùi Chí Hiếu – Giáo sư, Viện trưởng Viện nghiên cứu y học trung ương II, bị tai biến, tôi cũng đã góp phần chữa khỏi.

A. Khôi phục não bị liệt

Bấm (day ấn) huyệt 156 và đếm đến 30

Bộ huyệt khôi phục não: 34, 290, 100, 156, 37, 41. Nếu liệt nửa người bên phải, lưỡi thường bị co rút lại, gây ra líu lưỡi, nói ngọng. Liệt bên trái thì nhẹ hơn một chút. Dù liệt bên nào cũng bấm bộ huyệt khôi phục não trên.

Hơ mu bàn tay trái nắm lại.
Hơ mu bàn tay trái nắm lại, phản chiếu đầu.

Tiếp theo, ta dùng bàn tay trái nắm lại, phản chiếu cái đầu mà hơ. Nếu bị liệt bên trái, ta hơ nửa mu bàn tay phía bên phải, nếu bị liệt bên phải, ta hơ nửa mu bàn tay phía bên trái.

Hơ ngón tay cái chìa ra, phản chiếu lưỡi.
Hơ ngón tay cái chìa ra, phản chiếu lưỡi.

Nếu nói ngọng thì bấm 14, 275, 61, 19, 79 rồi hơ 79 và ngón tay cái của bàn tay trái.

B. Khôi phục cánh tay bị liệt

1. Lăn gờ mày bên tay liệt, lăn từ trong ra ngoài, chia cung mày làm 3 đoạn, mỗi đoạn lăn 30 cái (xem đồ hình âm dương).
– Sau đó hơ đầu mày phía trong, huyệt 65, hơ đuôi mày, huyệt số 100.
– Để ngón tay sát vào từng huyệt để định vị, dùng búa mai hoa gõ mỗi huyệt 30 lần. Gõ huyệt 65, 310477 để giải phóng khớp vai. Gõ huyệt 98 phản chiếu khuỷu tay và huyệt 100 phản chiếu cổ tay.
– Bấm huyệt 460, cách hơi xa đuôi mày, rồi hơ 460, lăn 460, phản chiếu bàn tay.
Như thế, ta đã tác động suốt cả cánh tay, từ bả vai cho đến 5 đầu ngón tay.

Đồ hình âm dương
Đồ hình âm dương: gờ mày phản chiếu cánh tay, khóe miệng phản chiếu chân.

2. Cào đầu, theo mí tóc trán xuống phần tóc mai, phản chiếu cánh tay trên đầu. Nếu bị liệt bên phải, nhớ cào nửa đầu bên trái và ngược lại.

Người nằm úp trên đầu: từ mí tóc trán xuống tóc mai phản chiếu cánh tay, từ đỉnh đầu xuống đỉnh tai phản chiếu đùi.

3. Lăn trực tiếp cánh tay bị liệt bằng cầu gai đôi to, lăn từng từng đoạn một: cánh tay trên, cánh tay dưới, và bàn tay.
– Lăn cánh tay trên vòng quanh 30 cái, lăn từ trên xuống (cấm lăn ngược).
– Lăn đoạn dưới tương tự như trên.
– Lăn bàn tay, từ cổ tay ra 5 đầu ngón tay bằng cầu gai đôi nhỏ, cũng 30 cti, lăn lòng bàn tay trước.
– Lăn mu bàn tay phía trên, từ cổ tay ra 5 đầu ngón tay 30 cái.
– Lăn 5 ngón tay: dùng lăn nhỏ, lăn lần lượt từ ngón út tới ngón cái.
– Hơ ở khoeo tay làm cho gân tay giãn ra, nếu bị lâu gân cứng quá thì hơ lâu hơn. Sau đó hơ cổ tay và ụ xương các ngón tay.
– Cuối cùng: day, bấm huyệt Hợp Cốc, kẽ ngón tay cái và ngón tay chỏ giúp bàn tay co duỗi dễ dàng.

C. Khôi phục chân bị liệt

1. Lăn đồ hình chân trên mặt (đồ hình âm dương), đường pháp lệnh và khóe miệng trên là đùi, khóe miệng dưới là bắp chân, cằm là bàn chân. Lăn xong, nhớ bấm các sinh huyệt:
– Huyệt 5: phản chiếu mông.
– Huyệt 17: phản chiếu đùi.
– Huyệt 156: phản chiếu bắp chân.
– Huyệt 51: phản chiếu bàn chân.

Đồ hình Penfield: chân trên trán.
Đồ hình Penfield: chân trên trán.

2. Lăn chân theo đồ hình Penfield trên trán, từ mí tóc trán tới đầu cặp lông mày 30 lần từ trên xuống dưới (cấm lăn ngược). Lăn xong, nhớ bấm huyệt:
– Huyệt 210: phản chiếu mông.
– Huyệt 197: phản chiếu đầu gối.
– Huyệt 34: phản chiếu bàn chân.

3. Cào đầu: Nếu bị liệt bên trái thì cào nửa đầu bên phải và ngược lại. Từ đỉnh đầu xuống đỉnh tai phản chiếu đùi, từ đỉnh tai ra sau tai phản chiếu bắp chân, phía sau ót phản chiếu bàn chân.

4. Lăn trực tiếp chân liệt:
– Lăn đùi: lăn xuôi vòng quanh từ háng xuống đầu gối 30 lần.
– Khôi phục bắp chân, lăn xung quanh, trừ xương ống quyền.
– Lăn bàn chân: từ cổ chân tới các đầu ngón chân, hai cạnh bàn chân, gan bàn chân.
– Hơ khuỷu chân, cổ chân và từng đốt xương ngón chân.
– Bấm hai huyệt Hành Gian và Thái Xung kẽ ngón chân cái và ngón chân chỏ (giống huyệt Hợp Cốc).

Lăn xuôi cả tay và chân, không những làm tin thần được thư giãn, cơ bắp được mềm mại mà còn có tác dụng điều hòa huyết áp rất tốt.

D. Khôi phục cột sống và toàn thân trên lưng

Cột sống liên quan và chi phối đến các bộ phận ngoại vi và nội t$ng của cơ thể. Nhưng khi chữa liệt thường lại bị lãng quên. Phải làm cho cột sống khỏe lên thì não mới phục hồi nhanh và bệnh liệt mới mau lành. Cách làm như sau:

1. Hơ dọc hai bên cột sống từ xương cụt ngược lên đến xương cổ.

2. Lăn ngược từ xương cùng lên đến đầu xương cổ bằng cầu gai đôi lớn theo cách thức sau:
– Giữa sống lưng: lăn ngược lên, chia lưng làm 4 đoạn, mỗi đoạn 30 lần. Lăn ngược để tăng cường máu hỗ trợ cho đầu não.
– Hai bên thăn lưng: Lăn chéo hình chữ V. Nhớ lăn hoàn chỉnh từng đoạn một, cả sống lưng và thăn lưng.

3. Cuối cùng, dùng búa gõ. Đầu cứng gõ dọc hai bên cột sống, đầu mềm gõ thăn lưng.

Phải kiên trì thực hiện đủ 4 bước từ A đến D nói trên. Việc khôi phục chức năng bị liệt là lâu dài, phải hướng dẫn cho người nhà bệnh nhân quan sát và làm theo, mỗi ngày từ 2 đến 3 lần.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *