Khoa học tâm linh

Sài Gòn, ngày 5/5/2018

Tôi là một chuyên gia về Sức khoẻ và Tâm linh của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Tiềm năng Con người. Tôi bắt đầu tu luyện Đại Pháp từ năm 2015. Tôi xin được chia sẻ dưới góc độ một nhà nghiên cứu tâm linh, quá trình tìm kiếm các phương pháp chữa bệnh “giúp đời” cho đến khi may mắn đắc được Đại Pháp, bước vào con đường tu luyện chân chính.

Từ nhỏ tôi đã thích khám phá, tìm tòi và tự trải nghiệm trên chính bản thân mình. Một lần hồi nhỏ, tôi bị ngã trầy đầu gối, lúc ấy trong đầu nhớ đến bài học “muối có khả năng sát trùng”, tôi liền áp dụng ngay, lấy mấy hạt muối để vào chỗ bị trầy da. Cảm giác muối sót buốt lên tận óc, đau hơn nhiều cái đau do ngã gây nên, nhưng tôi vẫn cố gắng chịu, vừa cắn răng vừa nghĩ: sao mà “sát trùng” lại ghê gớm thế!

Lớn hơn một chút tôi đã mê các tư thế Yoga. Thấy trong một trang sách có một hình vẽ khá ngộ nghĩnh và thu hút, về một người vừa vắt chân lên cổ vừa nói: “đến bây giờ tôi mới biết thế nào là thở!”; thế là tôi cũng tìm cách vắt chân lên cổ, loay hoay thế nào cũng vắt được chân lên cổ, nhưng không thể nào ngồi cho lưng thẳng lên được giống như trong sách.

1. Những ngày tháng đọc sách
Thời sinh viên, tôi thường hay tìm đọc sách về tâm linh, và luôn nghĩ rằng mình sẽ tìm được một cái gì đó thông qua việc đọc những cuốn sách này.

Tôi đã đọc nhiều lần cuốn Suối nguồn tươi trẻ của Peter Kelder và thực hành theo những bài tập này. 5 thức của suối nguồn tươi trẻ đã giúp tôi bớt căng thẳng và có thể trường kỳ thức đêm trong các kỳ thi hồi học Đại học.

Khi học Sau đại học, tôi đã dành thời gian nghiên cứu nghiêm túc về các vấn đề tâm linh. Tôi đã nghe băng ghi âm về những câu chuyện của chị Phan Thị Bích Hằng và bắt đầu đọc các sách về Phật giáo. Tôi đã rất thích những cuốn sách của thiền sư Thích Nhất Hạnh, những cuốn sách trong sáng và đầy chất thơ như “Đường xưa mây trắng” và “Nẻo về của ý”. Tôi đã đọc chúng và thực hành theo phép quán chiếu hơi thở cũng như an trú trong hiện tại của thiền sư.

Dần dần tôi tìm hiểu đến sách tâm linh của các tác giả khác như “Sức mạnh của hiện tại” của Eckhart Tolle, “Sống thiền 365 ngày” của Krishnamurti, “Hải âu Jonathan Livingston” của Richard Bach, “Nhà giả kim” của Paulo Coelho và “Câu chuyện dòng sông” của Hermann Hesse, …

Tôi tìm đọc sách do Nguyên Phong dịch, những cuốn sách kinh điển như “Hành trình về phương Đông” và “Tây Tạng huyền bí”.

Tôi đọc khá nhiều sách của Osho. Nhờ cuốn “Đạo – ba kho báu” và “Thuyền rỗng” của ông mà tôi hiểu thêm về Lão Tử và Trang Tử.

2. Những ngày tháng “giúp đời”

Một cách tình cờ, tôi đã biết đến Diện Chẩn – một phương pháp bấm huyệt, chữa bệnh không dùng thuốc khá đơn giản và hiệu quả. Càng thực hành, tôi càng đam mê. Tôi mê vì thấy mình từ một người vụng về và nhút nhát, bỗng chốc đã trở thành một “người hùng”, có thể ra tay “giúp đời”. Tôi tham gia vào một Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp cho Người khuyết tật, rồi Trung tâm UNESCO Hỗ trợ Sức khoẻ Cộng đồng và cuối cùng là Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Tiềm năng Con người, với cương vị là Phó Ban Đào tạo. Tôi đã mở những lớp học ngắn ngày để hướng dẫn cho mọi người cách “sống khoẻ” thông qua việc luyện tập, ăn uống và thực hành một số phương pháp bấm huyệt đơn giản.

Ở Viện Tiềm năng, tôi còn là Phó Giám đốc Trung tâm Trắc nghiệm và Tư vấn, tham gia vào việc trắc nghiệm những người có khả năng đặc biệt. Vì thế, tôi đã tiếp xúc với khá nhiều những người có “công năng đặc dị”, như cô Hoàng Thị Thiêm bịt mắt vẫn đọc được sách, cô Vũ Thị Hoà có thể đọc được ý nghĩ người khác, ông Trần Văn Phú chữa bệnh bằng truyền năng lượng, ông Đỗ Hoàng Vạn Thông ngồi một chỗ mà cái gì cũng biết,…

Các hiện tượng tâm linh này xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng càng nghiên cứu thì lại càng thấy mơ hồ, tôi có cảm giác giống như “thầy bói mù xem voi”, sờ chỗ này thì thấy nó là chân voi – cột đình, sờ chỗ khác thì thấy nó là tai voi – quạt thóc!

3. Cuốn Chuyển Pháp Luân thật là tuyệt vời!

Cho đến một ngày, có người đã nói với tôi về môn Pháp Luân Công. Tôi lên mạng tìm kiếm, tự tập theo 5 bài công pháp và in ra để đọc tất cả các tài liệu có đuôi pdf trên trang phapluan.org.

Mới đọc vài trang tôi đã thấy tác giả này không giống các tác giả mình đã đọc, có vẻ như ngài đã tu luyện “đến nơi đến chốn”, nếu mình đọc hết những gì ngài giảng, chắc chắn mình sẽ minh bạch ra được cái con voi thực sự của thế giới vô hình mà bấy lâu nay mình tìm kiếm.

Càng đọc càng bị cuốn hút, cuốn Chuyển Pháp Luân thực sự đã giảng rõ ra rất nhiều điều vốn mơ hồ và đã tiết lộ rất nhiều bí mật thâm sâu của giới tu luyện, nó thực sự là một cuốn sách tuyệt vời về khoa học tâm linh!

Sư Phụ giảng:
“Mọi người thử nghĩ xem, tu luyện có thể xuất hiện công năng đặc dị. Trên thế giới hiện nay có sáu loại công năng đã được công nhận; [nhưng] không chỉ có vậy, tôi nói rằng công năng chân chính có trên một vạn loại. Người ngồi chỗ kia, không động tay không động chân, mà có thể làm những điều mà mọi người dùng hết cả tay lẫn chân cũng không làm được;”
(Trích “Khí công chính là tu luyện”, Bài giảng thứ nhất, Chuyển Pháp Luân).

Bản thân tôi cũng đã từng học phương pháp truyền năng lượng từ xa qua điện thoại của ông Trần Văn Phú để chữa bệnh, và đã từng thử truyền sang tận Đức cho một bệnh nhân ung thư và họ có phản hồi lại là cũng thấy dễ chịu.

Chính vì thấy có tác dụng, mà tôi cứ mải mê đi chữa bệnh “giúp đời”, tưởng là hay, nhưng đến khi đọc Chuyển Pháp Luân mới biết là không phải vậy. Sư Phụ giảng:

“Tôi nói với chư vị, chư vị thử giở tất cả kinh điển Phật giáo [mà xem], không có nói rằng chữa bệnh cho người thường được tính là phổ độ chúng sinh. Mấy năm nay chính những khí công sư giả đã làm loạn việc này. Những khí công sư chân chính, những khí công sư mở đường không hề giảng hoặc bảo [chư vị] trị bệnh cho người [thường]; họ chỉ dạy chư vị cách tự mình rèn luyện, [tự] chữa bệnh khoẻ người.”
(Trích “Công năng túc mệnh thông”, Bài giảng thứ hai, Chuyển Pháp Luân).

Càng đọc Chuyển Pháp Luân nhiều lần, tôi càng hiểu ra được tại sao mình không nên đi chữa bệnh cho người khác! Từ đó tôi đã không dùng công năng để trị bệnh nữa, tôi tập trung hơn vào việc hướng dẫn mọi người cách tự chăm sóc bản thân.

Có một chú sau khi đọc Chuyển Pháp Luân được vài lần có gọi điện cho tôi nói là: “Sao bên chỗ cháu vẫn chưa nghiên cứu ra hiện tượng cô Hoàng Thị Thiêm có con mắt thứ ba à, rõ ràng là trong sách Chuyển Pháp Luân đã có hết rồi mà!”. Đúng thật, trong Bài giảng thứ hai, Sư Phụ giảng:

“Giải phẫu y học hiện đại cũng đã phát hiện rằng, nửa bộ phận phía trước [của] thể tùng quả, nó đã được trang bị một kết cấu tổ chức đầy đủ của [một] con mắt người.”

“Con mắt này không gây cho người ta giả tướng như cặp mắt thịt kia của chúng ta, nó có thể thấy được bản chất của sự vật, thấy được bản chất của vật chất. Do đó, với người có thiên mục tầng rất cao, họ có thể nhìn xuyên qua không gian chúng ta mà thấy được những thời-không khác, có thể thấy được những cảnh tượng mà người thường không thấy; người ở tầng không cao có thể có lực xuyên thấu, cách tường khán vật, thấu thị nhân thể; nó có đầy đủ công năng như thế.”
(Trích “Vấn đề liên quan đến thiên mục”, Bài giảng thứ hai, Chuyển Pháp Luân).

Từ lâu tôi đã hiểu rằng tâm linh không phải là thứ có thể dùng khoa học thực chứng để nghiên cứu. Khoa học thực chứng gắn với việc dùng con mắt thường này để nhìn, rất hạn hẹp. Khoa học tâm linh, nghiên cứu thế giới vô hình, cần phải gắn với việc dùng con mắt thứ ba, tức là phải tu luyện để khai mở thiên mục. Sư Phụ giảng:

“Người tu luyện đến tầng nào, họ chỉ thấy được cảnh tượng trong tầng đó; chân tướng vượt trên tầng đó [thì] họ không nhìn thấy, cũng không tin; do vậy, họ cho rằng chỉ những gì tự mình nhìn thấy tại tầng này mới là đúng. Khi họ chưa tu luyện đến một tầng cao nào đó, [thì] họ cho rằng những thứ ấy [tại đó] không tồn tại, cũng không thể tin; đây là do tầng [của họ] quyết định;”
(Trích “Vấn đề liên quan đến thiên mục”, Bài giảng thứ hai, Chuyển Pháp Luân).

Tôi có lần đã cùng một vị lãnh đạo của Đà Nẵng đến gặp ông Đỗ Hoàng Vạn Thông ở Quảng Nam, nghe họ đàm đạo về quy hoạch phát triển cho Đà Nẵng mà tôi đã rất ngạc nhiên. Ông Thông biết rõ những khó khăn của thành phố, góp ý khá chi tiết về việc quy hoạch cảng biển, chỗ nào nông, chỗ nào sâu, cảm giác thật uyên bác. Có lẽ ông ấy đã có công năng dao thị và công năng túc mệnh thông. Về công năng dao thị, khả năng nhìn thấy được từ xa, Sư Phụ giảng:

“Thân thể chúng ta ở trong một không gian đặc định có tồn tại một trường; trường này và trường đức không phải là một trường, không cùng một không gian; nhưng phạm vi trường [kích thước] to nhỏ là như nhau. Trường này có một thứ quan hệ đối ứng với vũ trụ: phía vũ trụ có thứ gì thì trong trường này của người ta cũng có thứ đối ứng với nó; [tất cả đều] có thể đối ứng. Nó là một loại hình tượng, không phải là [vật] chân thực.”
(Trích “Công năng dao thị”, Bài giảng thứ hai, Chuyển Pháp Luân).

Về công năng túc mệnh thông, khả năng biết được về quá khứ và tương lai, Sư Phụ giảng:
“Trong một không gian đặc định, người ta làm xong một việc gì, [ví dụ] người ta huơ tay làm một việc gì, tất cả đều là tồn tại vật chất; làm việc gì thì cũng lưu lại một hình tượng và tín tức. Tại không gian khác, nó là bất diệt, vĩnh viễn tồn tại ở đó, người có công năng nhìn một cái là thấy được cảnh tượng tồn tại trong quá khứ, nên hiểu biết liền.”
(Trích “Công năng túc mệnh thông”, Bài giảng thứ hai, Chuyển Pháp Luân).

Tôi cũng đã từng được nghe ông Huỳnh Văn Phích ở An Giang kể về việc nửa đêm nhận được công, nhìn thấy căn phòng bừng sáng, sự việc xảy ra trong ba đêm và từ đó ông có khả năng chữa bệnh. Về việc nhận được công và có một số khả năng đặc biệt, Sư Phụ giảng:

“Có vài người khi nhận công, một đêm đang ngủ đột nhiên nóng không chịu được, không thể đắp chăn; sáng sau dậy sờ vào đâu thì đó có điện. Họ biết là công đã đến; thân thể của ai có chỗ đau, thì chỉ cần làm qua một cái là khỏi không có sai chạy, quả là tốt.”
(Trích “Phản tu và tá công”, Bài giảng thứ ba, Chuyển Pháp Luân).

Một lần khác, tôi cùng hai vị ở Viện Tiềm năng Con người đến thăm cô Vũ Thị Hoà. Lúc ấy tôi đã bắt đầu tu luyện Đại Pháp. Khi đến nơi, cô Hoà nhận xét ngay, hầu hết mọi người đến đây đều có tâm truy cầu, mong cô giúp, chỉ có tôi và một bạn hôm trước đến là không có tâm truy cầu gì, vì thế cô đã dành thời gian tâm sự chia sẻ với tôi khá lâu. Về công năng tha tâm thông, đọc được suy nghĩ người khác, Sư Phụ có nhắc đến trong Bài giảng thứ tám:

“Công năng siêu cảm loại này, quá khứ gọi là tha tâm thông, là một tiềm năng, bản năng của con người; tuy nhiên nhân loại ngày nay đều đã thoái hoá, chư vị cần phải tu luyện từ đầu, phản bổn quy chân, phản hồi về bản tính tiên thiên của chư vị, thì chư vị mới có thể có được nó.”
(Trích “Thu khí”, Bài giảng thứ tám, Chuyển Pháp Luân).

Ngoài ra, rất nhiều khái niệm quan trọng đối với giới tu luyện đã được Sư Phụ nhắc đến, như khái niệm Quán đỉnh của giới Mật tông, được Sư Phụ giảng trong Bài giảng thứ tư; khái niệm Khai quang (mà mọi người còn gọi là An vị Phật) được Sư Phụ nhắc đến trong Bài giảng thứ năm; khái niệm Tẩu hoả nhập ma được Sư Phụ giảng trong Bài giảng thứ sáu; vấn đề sát sinh được Sư Phụ bàn đến trong Bài giảng thứ bảy; khái niệm Tí ngọ chu thiên và Mão dậu chu thiên được Sư Phụ nhắc đến trong Bài giảng thứ tám của Chuyển Pháp Luân. Tất cả đều thật rõ ràng và minh bạch.

Về chuyện nhịn ăn, tôi có biết cô Vũ Thị Hoà đã từng có một thời gian hàng mấy năm chỉ uống nước trắng mà không ăn gì. Ông Đỗ Hoàng Vạn Thông thì gần như chỉ ăn hoa quả (ông thường thích uống nước dừa). Hồi đó, tôi tưởng thế là đặc biệt, đến khi đọc sách Chuyển Pháp Luân, mới biết tịch cốc chân chính là phải nhịn cả ăn cả uống. Sư Phụ giảng:

“Có người nói rằng họ [chỉ cần] uống nước, có người nói [chỉ cần] ăn hoa quả; đó đều là tịch cốc giả. Sau một thời gian lâu, đảm bảo sẽ không còn được nữa. Người chân chính tu luyện; một khi vào sơn động, [thì] không ăn không uống, đó là tịch cốc chân chính.”
(Trích “Tịch cốc”, Bài giảng thứ tám, Chuyển Pháp Luân).

Trước đây tôi cho rằng tu luyện là nhập tĩnh và chỉ cần học một số kỹ thuật là có thể nhập tĩnh được. Nhưng chỉ đến khi đọc Chuyển Pháp Luân, tôi mới biết tại sao trước đây mình lại chưa nhập tĩnh được. Sư Phụ giảng:

“Nguyên nhân chư vị chưa tĩnh lại được, là vì tư tưởng của chư vị chưa phải là ‘không’, chư vị chưa có tầng cao đến thế; như vậy [nhập tĩnh] từ nông cạn vào thâm sâu có quan hệ tương phụ tương thành với việc đề cao tầng. Chư vị vứt bỏ tâm chấp trước, tầng chư vị mới nâng lên, thì định lực của chư vị cũng thâm sâu hơn. [Nếu] chư vị muốn thông qua thủ pháp hay phương pháp nào đó mà [nhập] tĩnh, thì tôi nói rằng ấy đều là hướng ngoại mà cầu.”
(Trích “Tâm thanh tịnh”, Bài giảng thứ chín, Chuyển Pháp Luân).

4. Tu luyện chân chính

Trước hết nói về vấn đề trị bệnh, Sư Phụ giảng:
“Theo công năng đặc dị mà xét, thì chỗ ấy có khí đen, xác nhận là có khí bệnh; Trung Y xét thì chính là chỗ ấy các mạch không thông, khí huyết không thông, mạch ứ tắc; Tây Y xét thì chính là chỗ ấy có hiện tượng như lở loét, mọc u, gai xương, hoặc phát viêm; nó phản ánh đến không gian này với hình thức như thế.”

Tôi hình dung bệnh tật có ba tầng: ‘Gỡ bỏ linh thể’ tương ứng với tiêu nghiệp, gỡ bỏ bệnh ở tận gốc rễ; Khí đen, mạch không thông tương ứng với Đông y ở tầng giữa; Lở loét, mọc u, gai xương, hoặc phát viêm tương ứng với Tây Y ở tầng bề mặt.
Như vậy khi cơ thể có bệnh, tâm chúng ta không nên để ý đến bệnh nữa, mà nên tập trung vào tu luyện, tu luyện mới thực sự gỡ bỏ được bệnh từ gốc rễ. Sư Phụ giảng:

“Sau khi chư vị gỡ bỏ [linh thể] ấy đi rồi, thì chư vị phát hiện rằng trên thân thể ở bên [không gian] này chẳng còn [bị] gì nữa.”
(Trích “Vấn đề trị bệnh”, Bài giảng thứ bảy, Chuyển Pháp Luân).

Về quá trình tu luyện, Sư Phụ giảng:
“[Tôi] nói rõ cho chư vị một chân lý: toàn bộ quá trình tu luyện của người ta chính là quá trình liên tục tống khứ tâm chấp trước của con người.”
(Trích “Chân chính đưa con người lên cao tầng”, Bài giảng thứ nhất, Chuyển Pháp Luân).

Khi chúng ta hướng nội, từ bỏ được tâm chấp trước, tu luyện tinh tấn thì Sư Phụ sẽ từ bi gỡ bỏ giúp linh thể. Nghĩa là không để ý đến bệnh thì bệnh mới hết tận gốc rễ được.

Trường hợp không phải là bệnh tật, mà là một khổ nạn khác, thì chúng ta phải làm thế nào? Lấy một ví dụ đơn giản: con tôi đang mè nheo, quấy khóc khiến tôi không làm việc được. Giải quyết vấn đề này thế nào?
Nếu tôi giải quyết thẳng vào vấn đề, tìm cách cách ly, nhờ hàng xóm trông hộ, để có thể làm xong việc của mình, thì đấy là chữa theo Tây y, chữa vào triệu chứng bề mặt. Kết quả là tôi có thể nhanh chóng làm xong công việc, nhưng con tôi có thể sẽ chuyển từ quấy khóc sang hờn giận, một hình thức biến chứng của bệnh tật!

Nếu tôi vừa dỗ dành con vừa làm việc, kiểu sống chung với lũ, giải quyết vấn đề một cách từ từ, thì đấy là chữa theo Đông y, thuận theo tự nhiên. Kết quả là con sẽ có lúc nín, lúc không, nó sẽ không bị tổn thương lắm, nhưng tôi sẽ rất lâu sau mới có thể làm xong công việc của mình!

Là một người tu luyện, thật ra tôi không nên để tâm vào ‘vấn đề’ mà nên hướng nội, buông bỏ tâm chấp trước, ở đây là cái tình đối với con cái, tôi nên bất động tâm với “giả tướng” quấy khóc của con, thì mới đúng là tiêu nghiệp – giải quyết ‘vấn đề’ tận gốc. Kết quả rất có thể là con tôi sẽ ngoan trở lại lúc nào không biết, sẽ không còn mè nheo và quấy khóc nữa, đồng thời tôi cũng sẽ kịp làm xong việc của mình!

Con đường tu luyện mà Sư phụ đặt định ra thật là tuyệt vời! Với bất kỳ một sự việc nào xảy đến, cũng như khi chúng ta mắc bệnh, nó không còn là ngẫu nhiên, nó được đặt định ra để chúng ta tu luyện. Vì thế chúng ta không nên tìm cách giải quyết ‘vấn đề’ nữa, không nên chữa ‘bệnh’ nữa, mà phải hướng nội, buông bỏ chấp trước, buông bỏ tình, bất động tâm! Lúc đó thần tích sẽ triển hiện! Không tìm cách giải quyết vấn đề mà vấn đề vẫn được giải quyết; không tìm cách trị bệnh, mà bệnh vẫn hết!

Cảm ơn các bạn đã lắng nghe!
Nguyễn Văn San

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *