Hải âu Jonathan Livingston – 02

Richard Bach

Đoàn Tử Huyến dịch theo bản tiếng Nga của Iu. Rodman,
tham khảo các bản dịch khác của M. Siskin và A. Xiderxki.

Phần thứ hai

“Thì ra Thiên Đường là như vậy đấy”, – Jonathan Livingston nghĩ và không thể không tự cười thầm. Có vẻ như điều này không được trọng thị lắm – đi xét nét Thiên Đường khi vừa mới dợm bước chân lên đó.

Bây giờ, khi rời bỏ Mặt Đất, sát cánh cùng cặp hải âu rạng rỡ bay lên cao, lên trên những tầng mây, chàng nhận thấy thân thể chàng cũng dần dần trở nên rạng rỡ, tỏa sáng như họ. Tất nhiên, nó vẫn thuộc về chàng Jonathan Livingston trẻ tuổi, thuộc về tâm hồn luôn luôn sống sau cặp mắt lấp lánh ánh vàng của chàng, nhưng hình thể bên ngoài của nó đã thay đổi.

Chàng vẫn mang hình thể của một con chim hải âu, nhưng trước đây chưa bao giờ Jonathan Livingston bay nhẹ nhàng như vậy. “Thật kỳ lạ, – chàng nghĩ, – bây giờ mình chỉ dùng một nửa sức lực mà vẫn bay nhanh gấp hai lần, mình có thể làm được nhiều gấp đôi so với những ngày sung sức nhất của mình trước kia nơi Mặt Đất!”

Bộ lông trắng như tuyết của chàng tỏa sáng rực rỡ, còn đôi cánh trở nên phẳng mượt như được làm bằng những tấm bạc mài nhẵn. Chàng vui sướng bắt đầu tìm hiểu đôi cánh mới và tìm cách vận cơ lực vào chúng để tập bay.

Khi đã bay hai trăm năm mươi dặm một giờ, chàng cảm thấy mình đang tiến tới giới hạn bay ngang tối đa. Đạt đến hai trăm bảy ba dặm một giờ, chàng hiểu rằng sẽ không thể nào bay nhanh hơn được nữa, và điều đó khiến chàng cảm thấy hơi thất vọng. Khả năng thân thể mới của chàng cũng có giới hạn. Thật ra, chàng đã vượt xa kỷ lục trước kia của chàng, nhưng dù sao vẫn tồn tại giới hạn, mà để vượt qua đòi hòi phải có những nỗ lực phi thường. “Trên Thiên Đường, – chàng nghĩ, – không nên có bất kỳ một giới hạn nào.”

Những đám mây rẽ ra, lùi lại phía sau, cặp hải âu cùng bay với chàng kêu to:

– Chúc hạ cánh bình an, Jonathan Livingston! – Và họ biến mất trong không trung trong suốt.

Jonathan bay trên mặt biển, hướng về phía một dải bờ nhấp nhô những mỏm đá. Năm, sáu hải âu đang tập bay trong luồng gió ngược trên các mỏm đá. Tận nơi chân trời xa phía Bắc còn vài hải âu khác cũng đang tập bay. Những không gian mới, những suy nghĩ mới, và những câu hỏi mới. “Tại sao số hải âu ở đây lại ít như thế này? Trên Thiên Đường đáng ra phải có nhiều đàn hải âu. Và tại sao mình lại bỗng nhiên cảm thấy mệt mỏi đến vậy? Trên Thiên Đường hình như hải âu không bao giờ mệt mỏi và không bao giờ ngủ kia mà?”

Chàng đã nghe điều đó ở đâu? Những ký ức về cuộc sống dĩ vãng trên Mặt Đất của chàng đang lùi dần mỗi lúc một xa. Chàng đã học hỏi được rất nhiều điều nơi Mặt Đất, điều đó đúng; nhưng những chi tiết về các sự kiện nhớ lại thật khó khăn. Hình như ở đó hải âu luôn tranh nhau giành giật thức ăn, và chàng là một kẻ bị Lưu Đày…

Khi Jonathan Livingston bay đến gần bờ, chừng một tá hải âu bay ra đón chàng, nhưng không một ai thốt lên lời nào. Chàng chỉ cảm thấy rằng họ thực sự vui mừng đón chàng đến, và đây chính là nhà của chàng. Ngày hôm đó thật dài, dài đến nỗi chàng không còn nhớ mặt trời đã mọc lên tự bao giờ nữa.

Jonathan Livingston lượn vòng để đáp xuống; chàng vỗ nhẹ đôi cánh, ngừng lại trong không khí cách mặt đất chỉ đúng một tấc rồi uyển chuyển đặt chân lên bờ cát. Những hải âu bay cùng chàng cũng đáp xuống, nhưng để làm việc đó họ chỉ hơi cử động mấy sợi lông. Họ dang đôi cánh trắng như tuyết, chao mình trước gió, thay đổi vị trí mấy sợi lông và dừng lại đúng vào lúc chân của họ vừa chạm lên mặt cát. Đó là thế đáp tuyệt vời, nhưng Jonathan Livingston đã quá mệt nên chàng không muốn tự mình thử lặp lại. Vẫn không thốt lên một lời nào, chàng đứng trên bờ biển ngủ thiếp đi.

Ngay những ngày đầu tiên Jonathan Livingston đã hiểu ra rằng những điều mới mẻ mà chàng phải học ở đây cũng sẽ không ít hơn so với những gì chàng đã biết được trong quãng đời trước kia của chàng. Nhưng dù sao thì vẫn có những khác biệt. Tất cả hải âu ở đây đều cùng chí hướng. Mỗi một thành viên trong Đàn đều coi mục tiêu cuộc đời là nắm được bí quyết bay, gắng đạt đến tuyệt kỹ bay toàn thiện, vì rằng cái mà họ say mê nhất trên đời là bay. Đó là những con chim tuyệt vời, tất cả đều như vậy, không trừ một ai; và hàng ngày hết giờ này đến giờ khác, họ luyện tập kỹ thuật chuyển động trong không trung và thể nghiệm những thế bay mới.

Jonathan Livingston dường như đã quên đi cái thế giới mà chàng đã rời bỏ, quên đi nơi chốn có Đàn Hải Âu không hề biết đến hạnh phúc bay và chỉ sử dụng đôi cánh để kiếm sống, tranh giành nhau từng mẩu thức ăn nhỏ. Nhưng cũng có những lúc chàng bỗng bất chợt nhớ lại…

Jonathan chợt nhớ đến cố hương vào một buổi sáng khi chàng cùng với thầy hướng dẫn bay của mình nghỉ ngơi trên bờ biển sau những bài tập thế bay mới với đôi cánh ép sát thân mình.

– Anh Sallivan này, những hải âu khác ở đâu hết cả? – Chàng hỏi mà không phát âm thành tiếng, vì tới nay Jonathan đã hoàn toàn nắm vững các cách thức đơn giản của phép thần giao cách cảm của cư dân ở đây: họ không bao giờ kêu ca và không cãi cọ với nhau. – Tại sao chúng ta ở đây ít thế? Anh biết không, ở nơi tôi sống trước đây…

– … Có đến hàng ngàn ngàn hải âu, – Sallivan gật đầu nói. – Tôi chỉ có thể có một câu trả lời, Jonathan Livingston ạ. Những con chim như anh là hiện tượng cá biệt, cực kỳ hiếm gặp. Phần lớn chúng ta tiến về phía trước rất chậm chạp. Chúng ta chuyển từ thế giới này sang một thế giới khác cũng gần giống như thế, rồi quên ngay nơi mình vừa rời đi; chúng ta không quan tâm chúng ta được dẫn đi tới đâu, đối với chúng ta cái quan trọng là những gì đang xảy ra vào giây phút này. Anh có hình dung được là chúng ta phải trải qua bao nhiêu kiếp sống trước khi mơ hồ cảm thấy rằng sống không chỉ có nghĩa là ăn và đấu tranh giành quyền lực ở trong Đàn? Hàng ngàn kiếp sống, Jonathan Livingston ạ, hàng chục ngàn kiếp sống! Rồi phải hàng trăm kiếp sống nữa chúng ta mới bắt đầu hiểu rằng trên đời còn có một cái gọi là sự toàn thiện, và phải hàng trăm kiếp sống nữa chúng ta mới ngộ ra rằng: ý nghĩa của cuộc đời là đạt được sự toàn thiện, để rồi sau đấy đem điều đó kể lại với thế gian. Dĩ nhiên, qui luật đó cũng có hiệu lực ở đây: chúng ta chọn cho mình thế giới tiếp sau tương ứng với những gì chúng ta học được trong thế giới này. Nếu ở kiếp sống này chúng ta không học được thêm cái gì cả, thì thế giới của kiếp sống sau cũng sẽ giống hệt như thế giới này, và chúng ta sẽ lại phải vượt qua những thử thách đó cũng với những gánh nặng như thế trên vai.

Sallivan xòe đôi cánh và quay mặt về hướng gió, nói tiếp:

– Nhưng Jonathan Livingston ạ, anh đã học được rất nhiều điều và rất nhanh, nên anh không cần đến một ngàn kiếp sống cũng đã đến được đây rồi.

Và họ lại cùng nhau bay lên không trung để tiếp tục luyện tập. Thực hiện đường lượn hợp đôi quay tròn là rất khó, vì ở trong trạng thái lộn ngược, Jonathan Livingston phải bay hai chân chĩa lên trời, đồng thời tìm cách uốn cong đôi cánh, phối hợp hành động một cách hoàn hảo với người hướng dẫn để đi nốt phần đường lượn còn lại.

– Chúng ta thử thêm lần nữa, – Sallivan lại nói. – Chúng ta thử lại lần nữa. – Và cuối cùng, người hướng dẫn chàng thốt lên thỏa mãn: – Tốt lắm rồi!

Tiếp đó, họ bắt đầu luyện tập thế bay mới.

*

Một lần vào buổi tối, khi những hải âu không tham gia vào buổi bay đêm tụ tập cùng nhau trên bãi cát và chìm sâu vào suy tưởng, Jonathan Livingston thu hết can đảm bước đến bên Trưởng Đàn, một hải âu già mà theo lời đồn sắp sửa rời bỏ thế giới này để đến thế giới mới cao hơn.

– Thưa cụ Chiang, – chàng cất tiếng bối rối hỏi.

Cụ hải âu già nhìn chàng trìu mến:

– Có gì thế, con trai của ta?

Cùng với năm tháng trôi qua, cụ hải âu Trưởng Đàn không những không yếu đi, mà ngược lại, càng ngày càng khỏe hơn, bay nhanh hơn tất cả và nắm vững những tuyệt kỹ mà các hải âu khác trong Đàn chỉ mới bắt đầu tập luyện.

– Thưa cụ Chiang, thế giới này… đây chưa phải là Thiên Đường ạ?

Dưới ánh trăng có thể thấy cụ Trưởng Đàn già mỉm cười.

– Jonathan Livingston, cháu lại đang học nữa đấy.

– Vâng ạ. Thế cái gì đang chờ chúng ta phía trước, thưa cụ? Chúng ta sẽ đi tới đâu ạ? Chẳng lẽ không có nơi gọi là Thiên Đường hay sao ạ?

– Không, Jonathan Livingston, không có nơi nào như vậy cả. Thiên Đường không phải nơi chốn, mà cũng không phải thời gian. Thiên Đường là trạng thái khi ta đạt được toàn thiện. – Cụ Trưởng Đàn im lặng một lát, rồi tiếp: – Hình như cháu bay nhanh lắm phải không?

– Cháu… cháu rất thích tốc độ ạ, – Jonathan Livingston đáp. Chàng vừa kinh ngạc vừa kiêu hãnh vì được Trưởng Đàn chú ý đến mình.

– Jonathan Livingston ạ, cháu sẽ đang tiến gần đến Thiên Đường khi cháu dần dần tiến gần đến vận tốc toàn thiện. Điều đó không có nghĩa là cháu cần phải bay một ngàn dặm một giờ, hay một triệu dặm, hay bay bằng vận tốc ánh sáng. Bởi vì bất kỳ con số nào cũng là giới hạn, còn toàn thiện thì không biết đến giới hạn. Đạt được vận tốc toàn thiện, con trai của ta ạ, có nghĩa là ta sẽ có mặt ngay ở bất cứ nơi nào ta muốn.

Không nói thêm một lời nào, Chiang vụt biến mất rồi ngay tức khắc xuất hiện ở bên mép nước, cách chỗ cũ khoảng 50 thước. Rồi Chiang lại biến mất và sau một phần ngàn giây đồng hồ đã đứng cạnh Jonathan Livingston.

– Điều này cũng chỉ là một trò chơi, – Chiang nói.

Jonathan Livingston vô cùng kinh ngạc. Chàng quên việc mình đang muốn hỏi cụ Chiang về Thiên Đường.

– Làm sao mà cụ làm được như vậy? Cụ cảm thấy như thế nào khi bay? Và cụ có thể di chuyển như vậy được bao xa?

– Có thể vượt qua bất kỳ khoảng cách nào đến bất kỳ thời gian nào, chỉ cần ta muốn, – cụ hải âu Trưởng Đàn nói. – Ta có mặt ở khắp mọi nơi mọi chỗ mà ý nghĩ của ta hướng tới. – Rồi nhìn ra mặt biển khơi, cụ Chiang nói tiếp: – Có một điều kỳ lạ là, những hải âu nào chỉ muốn du chơi từ chỗ này sang chỗ khác mà không tìm kiếm sự toàn thiện thì sẽ không đi được đến đâu cả, vì chúng di chuyển quá chậm chạp. Còn những hải âu không nghĩ đến việc du chơi, toàn tâm hướng tới toàn thiện thì lại bay khắp vũ trụ như những khối sao băng. Jonathan Livingston, cháu hãy nhớ rằng Thiên Đường không phải là một địa điểm hay một thời gian cụ thể nào, bởi vì cả địa điểm lẫn thời gian đều vô nghĩa. Thiên Đường là…

– Thưa cụ, cụ có thể dạy cháu bay như vậy được không ạ?

Jonathan Livingston run rẩy trước niềm vui rằng chàng sắp có thể chinh phục thêm một điều bí ẩn mới.

– Tất nhiên, nếu như cháu quả thật muốn học.

– Cháu muốn. Bao giờ chúng ta bắt đầu ạ?

– Có thể bắt đầu ngay bây giờ, nếu như cháu không phản đối.

– Cháu muốn học bay được như cụ, – Jonathan Livingston nói nhanh, trong mắt chàng ánh lên một đốm lửa kỳ lạ. – Cụ hãy nói cho cháu biết, cháu phải làm gì?

Cụ Chiang nói rất chậm, cặp mắt tinh anh nhìn thẳng vào chàng hải âu trẻ tuổi:

– Để bay với tốc độ của ý nghĩ, hay nói cách khác, bay tới bất kỳ nơi nào ta muốn, – cụ Chiang bắt đầu bài giảng, – trước hết cần phải hiểu rằng ta đã bay đến nơi.

Bí quyết của sự việc là ở chỗ, theo lời cụ Chiang, Jonathan Livingston cần phải từ bỏ quan niệm rằng mình là tù nhân của cơ thể mình với sải cánh bốn mươi hai tấc và một số lượng hạn chế những khả năng đã được lập trình sẵn. Bí quyết là ở chỗ: cái “tôi” thực sự của chàng, cái bản ngã toàn thiện, như một con số chưa được gọi ra hiện diện đồng thời ở mọi điểm của không gian và thời gian.

*

Jonathan Livingston tập luyện ngày đêm, căng thẳng, ngày lại ngày, từ khi mặt trời mọc cho đến tận nửa đêm. Nhưng bất chấp mọi nỗ lực, chàng vẫn không tiến lên được lấy một sợi lông nào cả.

– Hãy quên đức tin đi, – cụ Chiang nhiều lần nhắc đi nhắc lại với chàng. – Chẳng lẽ trước đây cháu cần phải có đức tin mới học bay được sao? Cháu cần phải hiểu bay là thế nào. Bây giờ cháu cần phải làm đúng như vậy. Nào, hãy thử thêm lần nữa.

Rồi một lần, khi Jonathan đứng trên bờ biển với đôi mắt nhắm chặt trong sự tập trung cao độ, bỗng chàng chợt ngộ ra điều cụ Chiang vẫn dạy chàng. “Phải rồi, cụ Chiang nói đúng! Ta được sinh ra toàn thiện, những khả năng của ta là vô hạn, ta là Hải Âu!” Chàng cảm thấy trong mình trào lên một ngọn triều những niềm vui vô tận.

– Tốt lắm! – Cụ Chiang nói, và trong giọng nói của cụ hải âu già như có tiếng reo đắc thắng.

Jonathan Livingston mở mắt. Họ chỉ có một mình – chàng và cụ hải âu Trưởng Đàn – đang đứng trên một bờ biển hoàn toàn xa lạ: những hàng cây mọc sát ra tận mép nước, trên đầu họ hai vầng mặt trời đổi màu vàng giống hệt nhau đang tỏa sáng.

– Cuối cùng thì cháu đã hiểu ra, – cụ Chiang nói, – nhưng cháu còn cần phải luyện tập thêm phép tự điều chỉnh nữa.

Jonathan Livingston kinh ngạc thốt lên:

– Chúng ta đang ở đâu thế này ạ?

Thế giới xa lạ xung quanh hoàn toàn không làm cho cụ hải âu Trưởng Đàn ngạc nhiên, và câu hỏi của Jonathan Livingston cũng vậy.

– Có lẽ chúng ta đang ở trên một hành tinh nào đó với bầu trời xám và mặt trời là ngôi sao đôi.

Jonathan Livingston thốt ra tiếng kêu vui sướng – những âm thanh đầu tiên kể từ khi chàng rời bỏ Mặt Đất.

– Thành công rồi!

– Tất nhiên, Jonathan Livingston ạ, tất nhiên là thành công rồi, – cụ Chiang nói. – Khi mình biết mình đang làm gì thì bao giờ cũng thành công. Còn bây giờ ta nói với cháu về phép tự điều chỉnh…

*

Họ trở về Đàn khi trời đã tối. Những con hải âu khác không thể rời mắt khỏi Jonathan Livingston, và trong những cặp mắt lấp loáng ánh vàng của họ lộ rõ sự thán phục và kinh ngạc: họ đã thấy Jonathan Livingston đột nhiên biến mất khỏi chỗ chàng đã đứng bất động rất lâu trước đó.

Nhưng Jonathan Livingston nhanh chóng cắt ngang những lời chúc tụng của các bạn cùng Đàn:

– Tôi ở đây chỉ là lính mới! Tôi chỉ vừa bắt đầu! Tôi còn cần phải học hỏi nhiều ở các anh em nữa!

– Thật lạ lùng, Jonathan Livingston ạ, – hải âu Sallivan đứng cạnh chàng cất tiếng. – Suốt mười ngàn năm qua tôi chưa thấy một hải âu nào dám học dám làm gan dạ như anh.

Cả Đàn Hải Âu im lặng. Jonathan Livingston bối rối đứng dẫm chân tại chỗ.

– Nếu cháu muốn, chúng ta có thể bắt đầu bài tập chế ngự thời gian, – cụ Chiang nói, – và cháu sẽ học được cách bay vào quá khứ và tương lai. Đến lúc đó cháu sẽ sẵn sàng để bắt tay vào cái khó nhất, táo bạo nhất, cao đẹp nhất. Cháu sẽ sẵn sàng để bay lên cao, và cháu sẽ hiểu được ý nghĩa của tình yêu và lòng vị tha.

Một tháng – hay một cái gì đó gần như là một tháng – trôi qua, và Jonathan Livingston đã đạt được những thành công ngoài sức tưởng tượng. Trong những điều kiện bình thường chàng cũng đã tiến bộ rất nhanh, còn giờ đây dưới sự hướng dẫn của chính cụ hải âu Trưởng Đàn, Jonathan Livingston lĩnh hội những điều mới mẻ chẳng khác gì một cỗ máy vi tính bọc lông biết bay.

Rồi đến một ngày cụ Chiang ra đi. Cụ hải âu già thản nhiên trò chuyện với cả Đàn, khuyên bảo họ phải thường xuyên học hỏi, luyện tập, phải gắng sức tìm hiểu thật sâu sắc cái nguyên lý toàn thể vô hình của cuộc sống vĩnh hằng. Trong khi đang nói chuyện, bộ lông của cụ bỗng dần dần phát sáng, mỗi lúc một chói lòa hơn, và cuối cùng sáng chói đến mức không một hải âu nào có thể nhìn thẳng vào cụ.

– Jonathan Livingston, – cụ Chiang nói, và đây là những lời cuối cùng của hải âu Trưởng Đàn: – cháu hãy gắng sức để hiểu thế nào là tình yêu!

Khi các hải âu có thể thấy lại được, thì cụ Chiang đã không còn ở bên cạnh họ nữa.

Ngày lại ngày trôi qua, và Jonathan Livingston nhận thấy rằng chàng càng nghĩ nhiều hơn đến Mặt Đất mà chàng đã rời bỏ. Giá như trước kia ở đó chàng biết được dù chỉ một phần mười, một phần trăm những gì chàng biết được ở đây, thì ý nghĩa cuộc sống của chàng đã đầy đủ hơn biết bao! Chàng đứng trên cát và suy nghĩ: sẽ ra sao nếu như ở đó, trên Mặt Đất, có một hải âu biết gắng tìm cách thoát ra khỏi cái giới hạn bản năng tự nhiên của mình, gắng tìm cách khám phá ra những điều đôi cánh có thể mang lại ngoài khả năng bay đến con tàu đánh cá để kiếm mẩu bánh mì? Hoặc có thể anh ta thậm chí còn công khai nói ra điều này, và Hội Đồng Đàn Hải Âu đã kết án xua đuổi anh ta đi. Jonathan Livingston càng luyện tập nhiều về phép vị tha, càng cố công tìm hiểu bản chất của tình yêu, thì chàng càng mong muốn được trở về Mặt Đất. Bởi vì, mặc dù trong quá khứ chàng đã phải sống cô đơn, nhưng Jonathan Livingston là một Nhà Hướng Đạo bẩm sinh, và tình yêu của chàng được thể hiện trước hết ở trong khát vọng chia sẻ chân lý chàng lĩnh hội được với từng hải âu đang chờ đợi cơ hội thuận tiện để lao vào cuộc tìm kiếm chân lý.

Sallivan, đến thời điểm này đã hoàn toàn nắm vững tuyệt kỹ bay với tốc độ ý nghĩ và đang giúp đỡ những hải âu khác luyện tập, lại không đồng tình với những suy nghĩ của Jonathan Livingston.

– Jonathan ạ, trước kia anh đã bị Đàn kết án Lưu Đày. Tại sao anh nghĩ rằng cũng những hải âu đó bây giờ lại muốn nghe anh? Chắc anh biết câu châm ngôn này và biết rằng nó rất đúng: Hải âu càng bay cao thì càng thấy xa. Những hải âu mà anh đã rời bỏ vẫn đứng chôn chân trên Mặt Đất, kêu ca và đánh lộn lẫn nhau. Họ ở cách Thiên Đường hàng ngàn dặm, và anh lại muốn chỉ cho họ thấy Thiên Đường – từ dưới kia, từ Mặt Đất! Mà họ thì, Jonathan Livingston ạ, không thể nhìn xa hơn các chóp cánh của mình! Hãy ở lại đây! Hãy ở đây và giúp đỡ những hải âu mới, hãy giúp những ai đã bay lên đủ độ cao để nhìn thấy được những gì anh muốn kể với họ.

Sallivan im lặng một lát rồi nói thêm:

– Sẽ ra sao nếu như trước đây cụ Chiang cũng trở về thế giới cũ của mình? Nếu như vậy thì hôm nay anh đang ở đâu?

Cái lý lẽ cuối cùng của Sallivan tỏ ra có sức thuyết phục nhất: tất nhiên, Sallivan nói đúng. Hải âu càng bay cao thì càng thấy xa.

Jonathan ở lại và giúp đỡ, hướng dẫn những hải âu vừa mới bay lên Thiên Đường; tất cả bọn họ đều rất thông minh và nhanh chóng nắm vững những gì được hướng dẫn. Nhưng nỗi băn khoăn trước đó vẫn trở lại ám ảnh chàng, Jonathan Livingston vẫn không thể dứt bỏ được ý nghĩ rằng có thể trên Mặt Đất vẫn có một – hai hải âu có khả năng học hỏi như chàng. Nếu như chàng được gặp cụ Chiang trong những ngày bị Lưu Đày, thì bây giờ chắc chàng còn hiểu biết nhiều hơn nữa.

– Sallivan, tôi cần phải trở về, – rồi một hôm Jonathan Livingston nói. – Anh đã có những học trò tuyệt vời. Họ sẽ giúp anh hướng dẫn các hải âu mới.

Sallivan thở dài, nhưng không phản đối, chỉ nói:

– Jonathan ạ, tôi sợ sẽ rất buồn nhớ anh đấy.

– Sallivan, anh không xấu hổ sao! – Jonathan Livingston nói với giọng trách móc. – Làm sao có thể nói những điều nhảm nhí như vậy được! Anh và tôi, hàng ngày chúng ta đang học luyện cái gì nào? Nếu tình bạn của chúng ta tùy thuộc vào các yếu tố ước lệ như không gian và thời gian, thì nghĩa là chúng ta sẽ tự mình phá bỏ tình bạn của chúng ta ngay khi chúng ta chế ngự được không gian và thời gian! Nhưng, chế ngự được không gian, cái duy nhất còn lại sẽ là Nơi Đây. Và chế ngự được thời gian, cái duy nhất còn lại sẽ là Bây Giờ. Chẳng lẽ anh nghĩ rằng chúng ta sẽ không gặp lại nhau được lấy một đôi lần trong cái Nơi Đây và Bây Giờ vô tận hay sao?

Mặc dù không vui, Sallivan vẫn phải mỉm cười dịu dàng nói:

– Anh quả là điên rồi. Nếu như có ai đó đủ sức để chỉ bảo cho dù một hải âu nào đó trên Mặt Đất nhìn xa được ngàn dặm, thì đó chỉ có thể là Jonathan Livingston! – Sallivan cúi nhìn xuống mặt cát, nói tiếp: – Tạm biệt Jonathan, bạn quí của tôi!

– Tạm biệt, Sallivan. Chúng ta sẽ gặp lại.

Nói xong những lời đó, bằng cái nhìn nội tại chàng đã thấy những đàn hải âu đông đúc trên bờ biển của một thời gian khác, và nhờ công phu tập luyện chàng dễ dàng nhận ra rằng cơ thể của chàng giờ đây không phải bằng lông và xương, mà là một ý niệm Toàn Thiện của Tự Do và Bay với những khả năng vô tận.

*

Fletcher Lynd là một hải âu còn rất trẻ nhưng cậu đã biết rằng trên thế giới không có một con chim nào phải chịu những đối xử bất công và tàn nhẫn của Đàn như cậu đã từng phải chịu đựng!

“Mình nhổ toẹt vào những gì họ nói, – cậu nghĩ trên đường bay đến Đảo Đá Hoang. Trong lòng cậu trào sôi một nỗi phẫn nộ, ánh mắt mờ đi và giận dữ. – Bay đâu chỉ có nghĩa là vẫy cánh để di chuyển từ chỗ này qua chỗ khác… Điều đó thậm chí đến… loài muỗi cũng làm được! Chỉ mới một cú lộn tròn quanh Trưởng Đàn, để chơi vui thế thôi, và mình đã trở thành kẻ Lưu Đày! Chẳng lẽ họ mù thật sao? Chẳng lẽ họ không thấy gì cả? Chẳng lẽ họ không hiểu rằng chúng ta sẽ nổi danh nếu biết bay thật sự?

Mình nhổ toẹt vào những gì họ nghĩ về mình. Mình sẽ mở mắt cho họ thấy thế nào là bay. Phải làm kẻ Lưu Đày cô độc ư? Thì đã sao, một khi họ muốn như vậy! Nhưng họ sẽ còn phải hối tiếc về điều này, sẽ phải hối tiếc khủng khiếp!”

Một giọng nói bỗng từ đâu vang lên trong đầu cậu; và mặc dù giọng nói rất nhỏ nhẹ, Fletcher giật mình hoảng sợ và sững lại trong không trung.

– Đừng nguyền rủa họ, Fletcher! Đuổi anh ra khỏi Đàn, họ chỉ tự chuốc hại cho mình thôi, và đến một lúc nào đó họ sẽ biết điều đó, họ sẽ thấy những gì bây giờ anh thấy. Hãy tha thứ họ và hãy giúp họ hiểu.

Bay cách chót cánh trái của Fletcher một tấc là chàng hải âu trắng muốt, có lẽ là trắng nhất trên thế giới – bay hết sức nhẹ nhàng, không cử động lấy một sợi lông nào, mặc dù Fletcher lúc đó đang bay với tốc độ tối đa của mình.

Trong một tháng, trí óc chú hải âu trẻ như mờ đi.

“Cái gì xảy ra với mình thế này? Mình mất trí rồi chăng? Hay mình đã chết? Cái gì thế này?”

Giọng nói khẽ khàng và bình thản lại lọt vào dòng suy nghĩ của cậu và đòi hỏi phải trả lời:

– Hải âu Fletcher Lynd, anh có muốn bay không?

– Có. Tôi muốn bay!

– Hải âu Fletcher Lynd, anh có thật sự muốn bay đến mức sẵn sàng tha thứ cho Đàn và gắng sức học hỏi để một ngày kia quay lại với họ, tìm cách giúp họ biết những gì anh biết?

Dù Fletcher có kiêu hãnh và bị xúc phạm đến đâu, cậu cũng không thể nói dối trước một hải âu rạng rỡ và tài ba đến vậy:

– Vâng, tôi sẵn sàng, – cậu đáp thật khẽ.

– Nếu vậy, Fletcher, – chàng hải âu rực rỡ kia dịu dàng nói với cậu, – chúng ta bắt đầu bài học Bay Ngang…

(Hết phần 2)

Nguồn: http://giaitri.vnexpress.net/

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *