Giang hồ ‘bẻ kiếm’ đi tìm đạo, thành người tu luyện giữa đời thường

“Người ta chỉ cần nghiện một thứ ma túy là đã chết, tôi thì nghiện ngập đủ loại, lại thêm bao bệnh tật trong người, vậy mà vẫn tồn tại. Trong sâu thăm thẳm tâm hồn mình, tôi chờ đợi một cái gì, tìm kiếm một cái gì mà không sao nói rõ ra được. Chỉ vào thời điểm bây giờ, khi viết lại những dòng tâm sự này, tôi mới biết ai là người theo tôi, bảo hộ tôi, tìm cơ hội giải thoát cho tôi đi về với Thiện Lương trong sạch…”

Tôi không nghĩ cuộc đời mình lại có ngày được phản bổn quy chân trở thành người tốt.

Nghiện ngập là bạn, trộm cướp là nghề, mỗi lần ra tù, ngón nghề càng thạo

Tôi sinh năm 1973, là con thứ 2 trong một gia đình viên chức ở Nam Định. Cha mẹ đều nghèo. Ba tôi làm ở công ty vận tải đường sông Hà Nội, rất ít khi có mặt ở nhà, còn mẹ thì làm công nhân nhà máy hoa quả luôn phải vùi đầu lo bữa đực bữa cái. Thời bao cấp nuôi đủ được 4 miệng ăn không dễ dàng gì. Hoàn cảnh khó khăn buộc tôi phải nghỉ học lúc lên lớp 10. Từ năm 1989, tức là từ khi 16 tuổi, tôi đã là một con nghiện thuốc phiện, là một kẻ đi bụi với rất nhiều thành tích bất hảo. Mẹ tôi khóc đến ráo hoảnh, thẫn thờ. Cha tôi thức suốt đêm đợi con về, thân hình cứ tiều tụy, xơ xác, tóc cứ trắng từng mảng lớn. Ông ít nói và luôn nằm trên giường bệnh.

Tôi không thể kể hết ngọn ngành những tội lỗi lớn nhỏ chất chồng theo năm tháng. Nói đúng ra, tôi trơ lỳ khi làm điều ác, đến mức nó như là cuộc sống tự nhiên của mình vậy.

Năm 1990, tôi bị phạt 1 năm tù giam vì tội trộm cắp và cố ý gây thương tích cho người khác. Năm 1991, vừa ra tù, tôi lao vào ăn chơi, lại trộm cắp vặt, lại hút hít, lại đánh nhau, gây bè kết đảng mặc cho bố mình đang sống những ngày cuối cùng trong tuyệt vọng mong con quay đầu nhìn về bờ bến. Năm 1992, bố mất. Khi cầm bàn tay rằn rặt xương và nhìn khuôn mặt sạm đen với đôi môi mấp máy, tôi mới biết mình sắp mất cha. Tôi òa lên khi áp tai mình nghe cha dặn dò: “Con phải có trách nhiệm với em gái Út”.

Mang một sứ mệnh lớn mà không biết thực hiện ra sao, lại sẵn thói quen trốn tránh nỗi buồn, tôi nghiện ngập hơn. Thời bấy giờ chỉ có những loại độc dược bảng A và B như moóc phin, đô la găng… Mỗi ngày tôi chích cả chục ống là chuyện thường. Năm 1993, khi cơn nghiện giày vò, chúng tôi quyết định tấn công cả phu nhân của vị cảnh sát hình sự trong tỉnh. Khi cô ấy vừa rời tiệm vàng, chúng tôi cướp luôn cả chục cây. Người ta hứa nếu trả thì sẽ không khởi tố. Tôi không ngờ ngoài số vàng được hoàn trả đầy đủ, người ta nói đang còn một số tiền mặt. Tôi không hề cầm tiền ấy. Nó đã không cánh mà bay. Chúng tôi không thể trả được khoản này. Thế là, bất ngờ một vụ xô xát xảy ra. Tay chân của tôi bị chém lòi cả xương, băng bó khắp nơi. Sự kiện này đã cho tôi vào nhà đá “gỡ lịch” 30 tháng tù tại trại giam Ninh Khánh, Ninh Bình bởi tội danh ăn cướp.

Tình cảnh gia đình khánh kiệt. Chị tôi phải mua gạo lên bán tận Mộc Châu, Sơn La. Khi về mua ngô bắp bán cho người chăn nuôi. Một lần, liều lĩnh buôn ma túy bị phạt 3 năm tù. Năm 1996, vừa ra tù, tôi vào Sài Gòn. Gia đình quá kiệt quệ, tôi không ngần ngại tổ chức ăn trộm xe máy. Năm 1997, tại Ngã Ba Trung Lương tỉnh Tiền Giang, tôi bị giữ. Vì không có tang chứng vật chứng, người ta tạm giam tôi tại trại Tân Mỹ Chánh, Tiền Giang; khép vào tội “sử dụng chứng minh nhân dân giả” rồi cưỡng bức cải tạo ở Bến Giá, Duyên Hải, Trà Vinh. Cả hai nơi là 30 tháng.

Ra tù vào tội tôi trở thành ‘đàn anh’ trong giới giang hồ, mức độ nghiện ngập nhiều loại ma tuý khác nhau nặng hơn.

Cuối năm 1999, tôi ra tù, càng nghiện hê-rô-in nặng hơn. Năm 2001, ngựa quen đường cũ, tôi lại bị bắt vì tội trộm xe máy. Quận Gò Vấp cho xuống Mộc Hóa, Long An ngồi 15 tháng trong nhà giam. Năm 2003, lại ra tù. Lần này thì càng nghiện hơn thêm. Tôi không còn tâm sức để đi đào tường khoét vách. Không có ma túy là người tôi vô lực, mềm nhũn như sợi bún. Biết là tội trọng, dễ bị dựa cột nhưng không còn cách khác. Tôi trực tiếp gieo rắc cái chết trắng cho người, mong kiếm được “nó” hàng ngày để rủ thêm nhiều ma quỷ cho thế giới của mình. Tết năm 2002 – 2003, ra Nam Định, tôi lại trộm cắp xe máy.

Khi ra Nam Định lần sau, chưa kịp “nhận hàng”, tôi bị ốp lên xe rồi đưa về trạm công an ở bến xe. Trước sự chứng kiến của mọi người, họ khám và lấy được bao thuốc ba số dẹt lớn với rất nhiều hê-rô-in. Người ta yêu cầu tôi nhận việc trộm xe thì sẽ thả. Hai cây hê-rô-in chỉ còn lại 1 chỉ, cộng với tội trộm xe. Tổng 2 khung hình phạt là 10 năm ở Trại giam Nam Hà, xã Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Do đánh nhau với đồng phạm khác, tôi bị đánh dập phổi. Sau 3 lần điều trị với những kháng sinh cao nhất, người ta nói, không thể có lần thứ 4. Tôi chờ cái chết nếu như nhiễm trùng trở lại.

Lập băng đảng trở thành đàn anh có tiếng

Năm 2011, tôi về lại Sài Gòn, tiếp tục là kẻ bất hảo. Lần này, tôi mở Tiệm Cầm Đồ Gia Long; số nhà 19/A2 đường Phan Huy Ích, phường 14, quận Gò Vấp. Nghề của tôi là cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê. Hàng ngày, tôi lại quen với những lời oán thán, những câu chửi sau lưng; những cảnh tan cửa nát nhà. Có cả máu và nước mắt. Nạn nhân là người thất cơ lỡ thế; những kẻ cờ gian bạc bịp. Và cả những kẻ giang hồ muốn vuốt râu hùm, định tranh lãnh địa của tôi.

Ngôi nhà của tôi đông dần. Những kẻ bị truy nã về đó hội tụ.

Tôi thuê nhà 20 triệu đồng một tháng. Rất rộng rãi cho anh em giang hồ tứ chiếng mà tôi kết giao trong Nam ngoài Bắc tụ tập. Ngôi nhà của tôi đông dần. Những kẻ bị truy nã về đó hội tụ. Tôi giao cho đàn em một đứa làm “đầu tổng về banh”, nghĩa là nắm những nơi cá độ bóng đá phi pháp trên diện lớn; không chỉ ở Sài Gòn mà vòi bạch tuộc khống chế mấy tỉnh miền Tây Nam Bộ. Một đứa đàn em nữa thì bao số đề. Cả ba người phối hợp với nhau, mỗi tháng kiếm vài trăm triệu là chuyện nhỏ!

Có tiền, bọn tôi chơi bời phá phách như trong động quỷ. Thường xuyên những kẻ lấy “mạng banh, mạng đề” của tôi là những nô lệ ở các tỉnh. Họ lên giao nộp tiền và được cùng tham gia “hưởng lạc thú”. Một đêm chúng tôi nướng vào trò trác táng hàng chục triệu đồng là bình thường. Vòng xoáy ô tạp này được bắt đầu từ tối, mọi người tập trung chơi ma túy đá, bảy tám giờ tối thì đi nhậu. Đến 8 – 9 giờ lên quán karaoke ca hát. Từ 11 giờ bỏ thuốc lắc ra uống rồi cùng nhau lên vũ trường quận Một vừa uống rượu tây, vừa hút cỏ K. Sau đó, theo nhạc bay bổng đến 1 giờ sáng lại chơi Lắc với Cỏ K. Tới 3 giờ chơi ma túy hít sống trực tiếp (Khay) và cùng “em út” nằm nghe nhạc. Tới 4 giờ “xuống nhạc” đi ăn đêm. Về khách sạn lại dùng ma túy đá và lắc, tiếp tục những cuộc “mây mưa”. Sau đó, người thì mở mạng cá độ đá banh, người thì đánh bài ăn thua… Những kèo cá độ trên mạng thì ảo nhưng sáng mai nó là thật.

Với những cuộc chơi bời hoan lạc bất tận như thế, tôi trở thành đàn anh được trọng vọng, là nỗi sợ hãi khiếp đảm của những con nợ… Triền miên trong thế giới ấy, tôi đã gặp hầu hết các hạng người, các hạng tuổi đang chơi ma túy, tôi cảm nhận được ma túy tổng hợp, con ma này đang làm đảo lộn trật tự xã hội. Dù kiếm được nhiều tiền, nhưng vì là đồng tiền bất chính nên cũng theo khói theo mây mà bay biến. Nhiều lúc trong một khoảnh khắc, tôi thấy cuộc sống thật trống rỗng vô minh, chẳng thoát khỏi ma tuý mà việc vào nhà đá “bóc lịch” là lẽ thường.

Sau một thời gian tạm sống ngoài nhà tù, điều tốt đẹp duy nhất tôi làm được là thực hiện di nguyện của cha, mua cho cô em gái 300 m2 đất, làm 8 phòng trọ cho thuê.

Muốn làm người lương thiện

Một ngày rất đặc biệt, tự dưng tôi cảm nhận chán ngán cuộc đời đến cùng cực, tôi nói với gia đình là muốn tìm đến một chốn thật yên tĩnh để sửa đổi tâm tính. Tôi mơ hồ có một vị phúc Thần nào đó đã thầm thì với mình như vậy. Có phải là sự an bài chăng? Thực ra, từ nhỏ, tôi bướng bỉnh, sẵn sàng phạm tội, nhưng tôi luôn tin có Đấng vô hình. Nhiều hoàn cảnh rất cam go, 100 người muốn dìm tôi chết nhưng 1 người lại mở lối cho tôi. Người ta chỉ cần nghiện một thứ ma túy là đã chết, tôi thì nghiện ngập đủ loại, lại thêm bao bệnh tật trong người, vậy mà vẫn tồn tại. Trong sâu thăm thẳm tâm hồn mình, tôi chờ đợi một cái gì, tìm kiếm một cái gì mà không sao nói rõ ra được. Chỉ vào thời điểm bây giờ, khi viết lại những dòng tâm sự này, tôi mới biết ai là người theo tôi, bảo hộ tôi, tìm cơ hội giải thoát cho tôi đi về với Thiện Lương trong sạch.

Tôi bắt đầu bỏ bê chuyện kiếm tiền, ngao du rất nhiều chùa để tầm sư học Đạo. Tôi ấn tống kinh Phật rất nhiều. Mỗi lần vài ngàn cuốn. Chùa nào có trẻ mồ côi, tôi đến làm Công Đức. Nếu có mười triệu tiền lời, tôi chi ra năm triệu. Mười ngày sau, nếu có năm triệu lời thì tôi bỏ ra hai triệu. Tôi nghĩ rằng, mình cần buông bỏ nhiều nữa thì mới có thể tìm thấy con đường trở về với Phật. Mấy em út giang hồ cũng vì thế bỏ tôi mà đi, hầu hết chúng đều bị bắt và vào tù.

Công an Gò Vấp, rồi công an thành phố thường gọi tôi lên. Tôi hứa có hai việc không làm là bán ma túy và chứa mại dâm. Còn tôi sẽ phạm tội từ đâm thuê chém mướn đến siết nợ, cho vay… Tôi phải sống và phải trả 20 triệu tiền nhà… Mấy anh công an ở phường và cả ở thành phố cũng cười trừ. Bởi họ thấy tôi đã dần dần bớt làm phiền họ. Đơn giản là tôi không tha thiết gì tiền bạc. Và có một tiếng gọi bí mật từ đâu đó, cứ đêm sâu tha thiết gọi về…

Làm chồng hai người đàn bà xa lạ

Một buổi tối, vì phê quá, tôi về quên khóa cửa. Sáng mai, nhìn thấy một đống thù lù ở góc nhà. Nhìn mãi mới thấy một người phụ nữ trùm chăn kín mít. Ngắm mãi, thấy cô ta mang cái bầu lớn. Mái tóc nhuộm vàng hoe xơ xác, khuôn mặt trẻ con lấm lem son phấn. Cô thở phè phè như bị ai chặn họng. Thật tội nghiệp. Tôi cứ nhìn quên cả ăn sáng. Tôi lờ mờ nhớ tới vô số những gương mặt phụ nữ trong những “cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm”. Đời mình không ra sao cả. Nhưng những kiếp phụ nữ này sao mà bất hạnh? Đứa trẻ chưa ra đời sao số kiếp đã bị đọa đày? Cô ta thức giấc, nhìn thấy tôi thì cuống cuồng nhớn nhác… Cô nói rằng, đứa trẻ trong bụng là con tôi. Rất có thể là như vậy. Tự dưng tôi có một gia đình. Tôi vô cùng khó chịu vì từ nay bị “vòng kim cô” định mệnh siết chặt.

Rồi, chúng tôi như đã là vợ chồng. Mọi công việc bếp núc, chợ búa đến quần áo, tã lót, hộp sữa cho con cũng đến tay tôi. Không hiểu vì sao tôi lại học được tư thế ngồi thiền. Có đêm, tôi ngồi như vậy đến lúc trời sáng. Cũng có đêm, tôi lầm rầm chửi rủa, muốn dùng dao giải quyết cho tất cả thành máu. Có đêm, tôi cầm gậy múa cả mấy giờ. Cứ loang loáng và vun vút tiếng gió. Hai mẹ con cô bé đóng cửa. Nhưng tôi vẫn nghe tiếng trở mình; tiếng thở như nén chặt, đầy lo lắng…

Một sáng thức dậy tôi bỗng dưng có vợ và con…

Rồi một hôm, nước mắt ngắn dài, cô quỳ xuống chân tôi nói lên sự thật và mong tôi đùm bọc. Cô vào đây muốn làm ra tiền để chăm sóc cho cha mình bị trọng bệnh tại miền Trung. Đẩy đưa mãi phải làm gái. Và có bầu. Cô quyết định vào nhà tôi. Một là chết, hai là hy vọng được cưu mang… Tôi dịu lòng, coi mình là chồng, chăm nom cho hai mẹ con. Tôi bắt cô hứa không trở lại làm gái và đưa ra kế hoạch sẽ cho cô ta chục triệu đồng mở cái quán bán hoa ở trước cửa hiệu của mình. Tôi cũng nói cô có thể vay mượn những người xung quanh. Tôi bảo kê cho chuyện đó!

Nhưng gia đình tôi không thể chấp nhận. Những ỳ xèo có thể dẫn tới đổ máu. Thế là, cô ta đã mang con và mọi vật dụng tôi sắm cho rời bỏ nhà, lánh biệt. Thời gian sau, một người phụ nữ khác, nhà gần tôi, cũng là gái chơi mà tôi thường chăn gối khi phê ma túy, lại tái diễn một vở kịch như trước. Lần này, tôi cảnh giác, đi thử ADN, biết không phải con mình nhưng “bỏ thì thương, vương thì tội”. Cô kia vừa chuyển đi thì cô này tới bắt tôi làm chồng… Tôi gợi ý cô hãy mở quầy bán hoa. Bởi nhà cô có truyền thống làm nghề này. Nhưng rồi, theo tiếng gọi giang hồ, cô lại bỏ tôi để thâu đêm bán thân, suốt ngày ma túy.

Hành trình tầm sư học Đạo quá gian nan

Những mệt mỏi với gia đình “không dưng mà có” đã làm tôi ngày một thêm chán nản. Tôi khoác ba lô đi lang thang các chùa. Hầu như chùa nào cũng từ chối. Có nơi, ở được vài hôm thì nhận ra rằng đó không phải là nơi gửi gắm. Đâu đâu, đồng tiền cũng là thủ tục đầu tiên! Tôi cũng đã lên một Thiền viện rất lớn. Có những sư tu hàng chục năm rồi mà vẫn có ý nghĩ hoặc hành động sai. Ở nơi tưởng như thiêng liêng vậy mà còn dung chứa những người buôn bán ma túy, còn có những kẻ đồng tính luyến ái sinh hoạt bại hoại. Tôi đã giải tán lũ người này nhưng sư lại lạnh nhạt, và nói trắng ra với tôi rằng: “Anh lên phá hoại người tu luyện!”.

Quá thất vọng, tôi ra về. Càng nghiện ngập hơn. Tôi nhớ không rõ từ lúc nào, tôi đến nhà ai thấy cuốn CHUYỂN PHÁP LUÂN. Tôi đưa về nhà đọc vài trang rồi cất trên bàn thờ. Có ông Sư bên Mật Tông ở Thiền viện Phước Sơn đến nhìn thấy cuốn sách mượn về đọc. Ông nói với tôi: “Sách này chú không thể hiểu được đâu!“. Tôi nói ông ta giữ lại. Còn tôi tiếp tục đi các chùa mong gặp minh sư.

Tôi nghĩ, mình phải cai nghiện xong thì mới tu được. Vậy là, tôi vào hầu hết các trung tâm. Mỗi lần mấy triệu đồng. Cai xong, tôi vào chùa. Không ai nhận mình làm đệ tử là phải về. Nhưng hễ về nhà là bạn bè lại đến rủ rê. Rồi đâu lại vào đấy! Nghiện vẫn hoàn nghiện!

Một hôm, tôi nghĩ, mình không tu được là bởi đồng tiền mình làm ra không sạch sẽ. Tôi bán hết mọi xe cộ phương tiện, đồ vật rồi cho gia đình, bè bạn. Với bộ dạng thiểu não, tôi đi ra chợ. Tôi gọi các con nợ ra nói chuyện với giọng rất từ tốn chứ không “sắt đá” như thường ngày. Tôi hỏi: “Bấy lâu mày làm ăn thế nào?”. Mặt con nợ tái ngắt, mồ hôi rịn ra tầm tã, có cảm giác như khói bốc trên đầu: “Dạ, anh! Em vẫn đóng đầy đủ cho anh cả mà, em có sổ sách, anh có cần xem không ạ?“. Tôi xua tay, dịu giọng: “Anh chỉ hỏi chuyện làm ăn của chú, chứ có ý gì đâu”. Con nợ vái lia lịa như muốn quỳ rục xuống chân tôi: “Anh thương chúng em nên làm ăn cũng đỡ”. Tôi chùng xuống: “Anh lấy lãi như thế mà chú mày vẫn làm được thì cũng giỏi. Thôi, anh không biết vốn lời ra sao nhưng anh cho tụi mày tất cả. Ráng làm ăn lương thiện, đừng buôn ma túy và dẫn gái nữa, chắc sẽ sống được!“.

Tôi phải đi cả ngày để xóa nợ cho các con nợ của tôi. Nhưng không ai tin. Có đứa phải trốn nhà, hôm sau thấy an toàn mới trở về… Tôi nghĩ:“Không tiền bạc, không có kế sinh nhai có lẽ mình sẽ đắc Đạo”. Tôi vào trung tâm cai nghiện Nhị Xuân (Hóc Môn), lần này không vật vã lên cơn. Sau 8 ngày, tôi ra trại rất bình thường như một người thường. Ra trại, lại lan man nỗi buồn. Lại chơi. Nhưng chỉ “đập đá” thôi, không động gì đến hê-rô-in nữa. Để tránh những rủ rê, tôi quyết định ra Bắc. Em út giang hồ đón tôi như thủ lĩnh. Tôi xin tụi nó cho một phòng khách sạn với cơm chay hàng ngày. Tuyệt đối không ai được quấy rầy.

Tôi quyết định đi Hội Chùa Hương lễ Phật. Mấy đứa đàn em lo cho tôi rất chu đáo. Tôi không có mục đích đi ngắm cảnh. Chủ yếu là đi để bái lạy và cắm hương cho Phật. Sau đó những bạn giang hồ nói là trên ngọn trường thạch cao ngút trời kia còn có một “cái lán” hiếm ai đặt chân tới đó. Người ta còn kể rằng, trên ấy có vị Sư đã “lập cốc” tự tu, tu đơn độc mấy chục năm rồi. Sư vốn có nhà ở Hà Nội nhưng đã bán nhà, từ giã chốn phồn hoa lên với khe suối mây ngàn. Con đường lên núi là do Sư gánh đá để trải đường. Sư tự làm, tự sống, mai danh ẩn tích. Tôi mừng lắm, nghĩ rằng đây là người mình đi tìm suốt lâu nay.

Sáng hôm sau, thuê người gánh gạo và các vật dụng cá nhân lên núi. Phải đến 3 giờ đồng hồ đi bộ rã chân tôi với người dẫn đường mới nhũng nhẵng đến nơi sư tịnh. Tôi trình bày mọi việc. Sư nói nơi này chỉ cần người thực tu. Sư cho mượn xoong nồi tự nấu tự ăn. Nói rằng từ nay cứ thế mà sống. Nếu hết củi thì lên rừng kiếm. Sư nói: “Chú cứ ở đây mấy ngày. Nếu được thì hãy về nhà làm giấy tờ có xác nhận của địa phương rồi lên đây tu tiếp”. Tôi rất mừng vì mình đã có thầy!

Sư vừa xuống núi. Tôi thấy trống trải. Đêm không ngủ được, dù lấy hết mọi chăn áo cuộn vào mà vẫn cầm cập. Tôi biết cái lạnh kỳ dị này là do thiếu ma túy. Sáng, tôi xuống núi. Tắm rửa bên suối xong thấy lòng thanh thoát. Tôi chắp tay vái tứ phương xin chư Phật mười phương cho hoàn thành các thủ tục để bước vào con đường tu chính thức. Về nhà làm giấy tờ xong, tôi lại theo đường cũ lên núi.

Một ngày đặc biệt tôi trở nên chán ghét mọi thứ, muốn tìm một cửa chùa để hồi tâm.

Sư đưa tôi đi khắp nơi, đến đâu Sư cũng giới thiệu tôi là đệ tử trong giới giang hồ. Sư đi mua thực phẩm, rồi mua những thùng đựng nước khổng lồ với ý định sẽ tích nước trên núi để mọi người lên đó chữa bệnh. Tôi biết, có một người bị ung thư vòm họng đã lên trên ấy. Do khí hậu và nguồn nước tốt, anh ấy nói cảm thấy dễ chịu…

Nhiều lúc đi giữa phố phường Hà Nội với áo nhà chùa, cái đầu cạo trọc, tôi rất sợ gặp lại những ai đã từng quen. Chúng nó lại rủ rê, chắc khó lòng thoát khỏi cám dỗ của đủ thứ ma túy đang đợi. Có lần, tôi gặp được sư nữ tu tại gia dưới Bình Đà. Cô ấy chỉ cho tôi tu pháp môn tiết thực Ohsawa Nhật Bản. Về núi, tôi nhịn ăn liền 7 ngày hy vọng kết hợp với ngồi Thiền, cơ thể được tịnh hóa. Ai ngờ tôi thấy mệt mỏi, người cứ mềm oặt ẹo. Ý nghĩ cứ lang thang, tâm hồn cứ thảng thốt bất định… Không thể ngồi thiền nổi, mặc dù tôi cũng đã tự nhủ rằng mình tự tu thôi. Bởi sư tu theo Tứ Niệm Xứ của Phật giáo thời nguyên thủy.

Cơ duyên gặp gỡ

Đang hoang mang thì một hôm có 2 người từ dưới thành phố lên xây chân móng cho những bồn đựng nước của nhà chùa. Hai ba ngày trôi qua, chỉ giao tiếp sơ sài lấy lệ. Ngày thứ Tư vì thiếu vật liệu, sư xuống núi. Tôi tò mò đến bên một người đẹp trai, tuấn tú, dáng vẻ rất trí thức đang chăm chú đọc một cuốn sách tôi thấy quen quen. Anh ta đang đọc mục: “Không trong ngũ hành, ra ngoài tam giới”. Tôi chẳng hiểu mô tê gì cả nhưng tò mò: “Ai là tác giả cuốn sách này hả anh?“.

Anh ta giở những trang đầu cho tôi nhìn thấy một người đàn ông rất trẻ rất phúc hậu… Một người tôi nhìn rất quen nhưng ngồi nghĩ mãi không biết mình gặp đâu rồi. Tôi ngỏ ý muốn mua một cuốn sách như vậy. Anh chỉ cười. Tôi không thể nào diễn tả được cảm giác hạnh phúc an lành khi dán mắt mình vào cuốn sách ấy mà tim thì cứ thình thịch liên hồi. Xưa nay, tôi không có cảm xúc. Vì giang hồ cần thứ máu lạnh để làm đổ máu đỏ! Và tôi nhận ra cuốn sách ấy chính là cuốn CHUYỂN PHÁP LUÂN mà tôi đã từng có. Khá bất ngờ nhưng lần này trong tôi có một cảm xúc rất mãnh liệt muốn đọc và muốn có lại cuốn sách ấy.

Tôi đưa cái chiếu nhỏ xin người đàn ông ấy được ngồi Thiền bên cạnh anh, để gần hơn cuốn sách có sức hút kỳ lạ ấy! Tôi phụ giúp mọi người. Hễ rảnh, tôi lại nói cái nguyện vọng có cuốn CHUYỂN PHÁP LUÂN. Anh San (tên người đàn ông cùng tuổi với tôi) hứa sẽ cho tôi mượn đọc. Nhưng thấy tôi cứ quấn quít với mọi người, anh San nói: “Nếu bạn tha thiết vậy, mình sẽ tặng bạn”.

Sau bao gian nan tôi đã tìm thấy ánh sáng cuộc đời. Pháp Luân Công đã thực sự cải biến tâm tính con người tôi.

Tôi mừng mà lo. Suốt đêm trông chờ sáng lên chỗ mọi người làm việc. Tôi nói với San là rất muốn có sách để dứt khoát rời khỏi ngọn núi này. San đã chạy xuống chỗ nghỉ ngơi, rồi chạy lên đưa sách cho tôi. Anh vội vàng ghi số điện thoại và lời nhắc nhở trong một mảnh giấy: “Không được vẽ hoặc gấp sách, phải trân trọng cuốn sách quý này...”. Mãi sau, xem trên mạng, nhìn thấy người quen quen, tôi mới biết bài: “Lời giãi bày bất ngờ của một ‘cao nhân’ – Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người” là viết về San, người bạn “hữu duyên” đã cho tôi gặp Pháp, tặng tôi cuốn sách quý giá này.

Trong bài có viết: “Cuối năm 2014 khi có được trọn bộ Kinh Pháp của Pháp Luân Công, theo thói quen cũ, tôi lên núi “bế quan” đọc sách. Sau một thời gian tìm hiểu và trực tiếp đọc bộ Pháp này tôi đã hoàn toàn chấn động và hối tiếc sâu sắc vì những suy nghĩ nông cạn qua một vài thông tin đã vội vã đánh giá sai về Pháp Luân Công“. Như vậy, việc lên núi làm chân bồn nước cho sư, chỉ là cái cớ để anh được đọc Pháp trong tĩnh lặng cùng thiên nhiên.

Thế là, tôi đành phải nói dối với Sư là về chịu tang bà nội, dù bà đã mất lâu rồi. Để lại những đồ dùng không cần thiết, tôi cẩn thận bỏ cuốn sách vào ba lô lao xuống dốc núi với một niềm hạnh phúc vô bờ bến dù chẳng biết nó cụ thể ra sao! Thật lạ, con đường xuống núi thường phải đi chừng 3 tiếng. Hôm ấy, như có ai nâng bổng chân mình, tôi xuống dốc chỉ mất chừng 1 tiếng thôi. Một mình tôi với con suối. Tôi lội mãi về phía rừng sâu. Ngồi trên phiến đá rêu xanh nhìn những loài cây dại xâm xấp nước, tôi soi tấm thân trần, thấy nhằng nhịt không biết bao nhiêu là sẹo. Tôi có cảm giác đó không phải là mình. Tôi rùng mình sợ kiếp giang hồ máu me tranh đấu. Những con cá nhỏ rỉa chân gọi tôi xuống dầm mình trong làn suối. Chúng rỉa khắp thân, nhồn nhột khiến tôi cười vang giữa núi rừng thanh khiết.

Tôi ra chỗ cũ. Ánh nắng chan hòa. Bao nhiêu là những con chim lạ. Chúng dường như tụ tập trên tàng lá xanh, dưới phiến đá tôi ngồi thiền. Sau, tôi mới hiểu tại sao có điều kỳ diệu đó. Chả là, tôi treo ba lô lép kẹp trên cành cao. Trong ba lô có báu vật là cuốn Thiên Thư sẽ cho tôi làm lại một cuộc đời hoàn toàn mới! Tôi ôm chặt ba lô, cảm nhận một phiến chữ nhật cồm cộm nơi ngực mới yên tâm. Tôi đi bộ, đi xe ôm, đón xe buýt, về bến xe Kiệm Nghĩa, về Hà Nội; ghé qua nhà thắp hương cho nội rồi kêu taxi ra sân bay…

Chặng đường tu luyện

Tôi ngồi mải mê đọc cuốn Chuyển Pháp Luân trong phòng đợi. Khi đã ổn định chỗ ngồi, tôi đọc tiếp. Những dòng chữ cứ mờ dần bỗng sáng bừng lên lung linh. Tôi ngước mắt nhìn lên, thấy đèn sáng choang. Cô tiếp viên nở nụ cười thân thiện. Thì ra, trời đã tối…

Em gái ra đón. Tôi ôm cuốn sách về nhà. Ăn xong, vào ngay trong buồng mở sách đọc tiếp. Rồi, tôi ngủ thiếp lúc nào không hay. Tôi không sao kể lại chi tiết những gì đã xảy ra đêm hôm ấy. Tôi chẳng biết mình thức hay ngủ. Chỉ biết rằng hình như có người đã ngồi sẽ sàng bên giường tôi. Bàn tay người ấy vuốt tóc, đầu tôi xoay như chong chóng rồi chậm dần… Một cảm giác thật thanh tịnh. Người tôi cứ nhẹ dần, nhẹ dần. Sáng sau, tôi dậy muộn, người nhơm nhớp như ai chà xà phòng miếng, quần áo ướt sũng, tanh hôi. Tôi đã đi vệ sinh nhiều lần ngay sau đó. Mà cũng kì lạ, không hiểu sao trong bụng tôi lúc ấy không biết ở đâu ra nhiều chất cặn bã thế… Tôi vào nhà tắm kỳ cọ cả giờ; vào phòng đọc sách quên luôn ăn sáng mà chẳng thấy đói. Đọc xong cả cuốn sách dày, tôi lên mạng tìm và tập theo hướng dẫn ở trên mạng. Ba ngày sau tôi đã thành thục 5 bài Công Pháp.

Sau khi đọc sách tôi bắt đầu tập theo các động tác của năm bài công Pháp.

Trở về Bình Dương, sau khi đọc đến lần thứ 4 cuốn sách, tôi nói chuyện với mọi người trong gia đình, mong họ cùng tu Phật với tôi. Lần trước, tôi bán mọi thứ, xóa hết những con nợ rồi đi biệt tích, gia đình đã cho tôi là phát điên, cho là ma túy đã đến thời kì tác oai tác quái. Lần này, mọi người mắt tròn mắt dẹt nhìn tôi như “quái thú” khi thấy tôi nói đến chuyện tu Phật. Mỗi người một thái độ, nhưng ai cũng chì chiết, coi tôi như kẻ đáng tởm lợm. Họ không muốn gặp tôi nữa. Tôi càng Nhẫn, người nhà của tôi càng làm tới. Họ cứ nhất quyết nói tôi điên thật rồi! Họ ngoảnh mặt quay lưng với tôi thật tàn tệ. Chuyện tôi tu Phật để trở thành một người tốt, một người lương thiện, rõ ràng với mục đích tốt đẹp là thế… mà không hiểu sao làm họ như phát cuồng…

Buồn. Bế tắc. Tôi lại sa ngã, lại con đường xưa ma túy. Tôi đến nhà những ai đã mang ơn mình để xin tiền hút hít. Lần nào tôi cũng gặp những tình cảnh đau lòng. Tôi đến đứa em mà tôi đã từng cho tiền, đã khuyên giải hãy làm ăn chân chính… Nhà cửa nó xơ xác, chồng nói vợ mổ nhiều lần mà bệnh viện chẳng biết bệnh gì. Vợ nó vừa thiêu ở nhà xác buổi sáng thì chiều tôi tới. Về nhà, người tôi bủn rủn. Tôi nghĩ đây là một điểm hóa nghiêm khắc. Nằm một mình, tôi sợ lạnh toát người. Những cơn nghiện vẫn có sức mạnh của ma. Tôi vừa chơi ma túy, vừa nước mắt ngắn dài. Nhìn cuốn sách Pháp, tôi thấy ân hận. Nhưng vừa tỉnh ngủ, bọn đàn em đã chờ trước cửa…

Một hôm, tôi cầm cuốn sách Chuyển Pháp Luân, thốt lên thành lời: “Sư Phụ hãy cứu con! Con hứa sẽ làm lại”. Để thể hiện sự quyết tâm của mình, tôi quyết định sẽ nằm hẳn trong nhà 7 ngày không ăn. Đến ngày thứ Tư, thì anh San gọi điện từ Hà Nội hỏi thăm. San khuyên tôi mở các sách khác của Đại Pháp để đọc. Tôi lên mạng, vừa đọc mấy trang bài giảng của Sư Phụ, tự dưng thấy bụng cồn cào. Nấu mì ăn xong, tôi lại đọc tiếp. Lần này, đọc đến đâu, tôi thấy thấm tới đó. Tôi bắt đầu hiểu nhiều điều mà trước tới giờ tôi không để ý hoặc còn lơ mơ. Tôi biết rằng muốn làm người tu Phật thì phải nghiêm túc phi thường chứ không phải là trò đùa con trẻ! Cả một tháng, mặc dù phải chống cự với những cơn khát thèm ma túy nhưng tôi đã cần mẫn đọc được rất nhiều sách của Đại Pháp.

Sau 3 tháng, anh San giới thiệu cho tôi lên tập Công ở công viên. Rồi, hàng ngày đi hơn 30 km để cùng học Pháp với mọi người trong một đợt 9 ngày. Tôi nghĩ, mình là người tu Phật cho nên đi đâu cũng phải chỉn chu. Sực nhớ, đang còn một con nợ vay 200 triệu, mỗi tháng đóng lãi 72 triệu tiền lời. Tôi đến lấy tiền và may một bộ vest thật sang. Hôm ấy, ăn diện bảnh bao đi học Pháp nhưng tôi lại gặp bao nhiêu trở ngại. Lúc về, tôi tự giày vò: Chắc là mình đang sử dụng những đồng tiền bất chính nên mới ra nông nỗi ấy. Vậy là, tôi đi xe đạp ra ga Hòa Hưng, với ý định hàng ngày đi nhặt ve chai vừa đủ sống, thời gian còn lại dành cho đọc sách và luyện công. Tôi nghĩ bụng, thấy tình cảnh của mình thế này thì gia đình không có thể ỳ xèo; giới giang hồ không rủ rê mình trở lại. Và chắc mình sẽ thoát khỏi cái tình với em út nhiêu khê… Sau 3 giờ đạp xe, nhìn thấy mọi người đang tập Công ở công viên, tôi vào ngồi thiền cùng. Rồi, sau khi ngồi thiền, tôi từ bỏ ý định nhặt ve chai mà lại đạp xe về Bình Dương tìm kế sinh nhai khác.

Luyện công đều đặn mỗi ngày khiến tôi trở nên khoẻ mạnh và tràn đầy năng lượng. Tôi thấy cuộc sống tràn đầy ý nghĩa.

Mỗi ngày cứ đọc Pháp, luyện Công xong, tôi lại thấy mình thật sảng khoái, sức khỏe sung mãn. Đặc biệt, tôi đã không còn nghiền ma túy nữa. Cuộc đời của tôi có hơn 4 chục năm thì tới gần 18 năm là nằm trong tù, chưa kể nhiều lần phải ở trong trại cai nghiện. Tôi mắc nhiều bệnh tật lắm; mà bệnh do hút chích cũng rất nhiều. Tôi không thể dùng thuốc kháng sinh nữa, bởi loại nặng nhất đã dùng. Tôi bị viêm gan C, một bệnh được xếp vào những căn bệnh mãn tính với những tác hại khó kiểm soát. Nó treo cái chết lơ lửng suốt đời cho những người dính mắc vào nó. Thêm vào đó là đủ thứ bệnh nặng nhẹ về thần kinh, về mất ngủ, về những ảo giác yêu ma…

Nhưng sau khi tôi đọc sách và tập các bài Công Pháp được một thời gian thì tất cả các bệnh tật giờ đây đã rủ nhau đi hết. Tôi như sống lại một cuộc đời mới, cuộc đời thứ hai. Ai gặp tôi cũng khen nước da hồng mịn, thần thái thiện lương của tôi bây giờ, thật là khác trước đây nhiều nhiều lắm. Nghe họ khen, hay những khi tự soi vào mình, tôi lại nghĩ đến Sư phụ của tôi: “Cho con tạ ân Sư Tôn. Ngài đã vớt con từ những tầng sâu nhất của địa ngục. Ngài là Cha, là Thầy mà con sẽ đi theo suốt đời mình!”. Tôi đã hiểu được ý nghĩa của câu: Quay đầu là bờ. Tất nhiên, việc tu Phật không hề đơn giản. Nếu biết buông bỏ, biết làm những điều Chân Thiện thì chúng ta mới tìm được con đường giải thoát khỏi những khổ đau, nhơ nhớp.

Vậy là, hôm nay, tôi đã ngồi sau vô lăng chiếc xe taxi bốn chỗ ngồi. Tôi đã tự kiếm tiền bằng chính sức lao động của mình. Tôi là một người tu Phật, và thấy mình đang rất nỗ lực để tu sửa mình, để trở thành người tốt, người lương thiện. Tôi thấy mình thật là có duyên với Phật Pháp nên mới có thể trở thành một người Chân Tu giữa chốn người thường này. Tôi rất hy vọng những người khách của tôi biết nhiều điều kỳ diệu về Pháp Luân Công. Tôi sẽ có được những người bạn mới cùng chung tình huynh đệ trong ngôi nhà ngập niềm hạnh phúc của thế giới Chân, Thiện, Nhẫn… Tôi không hề mặc cảm một chút nào về quá khứ bất hảo trước đây của mình. Tôi đã đủ tự tin nhìn về phía trước để vững bước đi lên. Vì bây giờ tôi thấy mình đã là một người tu Phật chân chính!

Tôi không sao quên được cái cảm giác sau khi tắm và uống đến no bụng ngọn nước trong lành dưới chân núi Long Vân. Chưa vội rời bước, treo ba lô trên một cành cây cao, tôi tìm một phiến đá phẳng ngồi thiền lặng lẽ, nghe rất rõ những tiếng lá khô lạo xạo, tiếng nước khe rì rào, tiếng gió mơn man… Cả đời mình, tôi chưa bao giờ thấy được tâm hồn thuần tịnh, được gột rửa bằng những ý nghĩ dịu nhẹ, thiện lương như thế.

Vâng! Được sống trong Phật Quang Phổ Chiếu, tôi thật hạnh phúc. Tôi chia sẻ câu chuyện về cuộc đời mình với hy vọng có nhiều người, nhiều gia đình đang rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng như tôi thuở nào có cơ hội làm lại cuộc đời mình. Tôi cũng muốn nói với những ai chưa biết về Pháp Luân Công, chưa biết về cuộc bức hại khủng khiếp mà những người tuân theo pháp lý Chân – Thiện – Nhẫn phải chịu…, có thể nhân câu chuyện đổi đời của tôi mà tìm hiểu, để rồi có cách nhìn nhận đúng đắn về một bộ môn tu Phật đang được phổ truyền rộng khắp trên thế giới. Tôi nghĩ rằng xúc phạm Thần Phật chắc chắn sẽ không tránh được quả báo. Bao nhiêu bài học thực tế rồi nhưng có người vẫn còn mê. Tôi vừa đọc được một câu nói rất đáng cho chúng ta cùng suy ngẫm: “Lịch sử sẽ phải ghi nhận rằng bi kịch lớn nhất của giai đoạn chuyển tiếp xã hội này không phải là tiếng ồn ào đinh tai nhức óc của những người xấu, mà là sự im lặng đáng sợ của những người tốt” (Tiến sĩ Martin Luther King, Jr. người tạo nên thời kỳ dân quyền tại Hoa Kỳ).

Phật Pháp đang hiện diện ở cõi người. Hy vọng mọi người hãy tìm đến với Phật Pháp để tu sửa bản thân mình, để tìm đường trở về với thiện lương, để được sống trong THÂN TÂM AN LẠC.

Bình Dương ngày 2/9/2017

Phạm Bá Long

Số điện thoại: 0986328632

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *