Đạo thuần Việt

Cụ Nguyễn Đức Cần đang chữa bệnh liệt tay cho một bệnh nhân.

Nguyễn Tài Đức

Lời dẫn: Trong phần II của cuốn sách “Nguyễn Đức Cần – Nhà văn hóa tâm linh”, chúng tôi có đề cập đến 3 phương pháp chữa bệnh của cụ Nguyễn Đức Cần. Cách chữa này có thể so sánh với Mật tông tâm pháp của nhà Phật.

Vấn đề này thu hút sự quan tâm của những người nghiên cứu muốn tìm hiểu những quyền năng huyền bí của thiên nhiên. Để cung cấp thêm những tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu sơ lược các kiến thức sâu sắc cùng những luận chứng của những nhà nghiên cứu trên thế giới về Phật pháp Mật tông và Đạo giáo. Đề tài này đã có hàng ngàn trang sách viết tới, nhưng trong khuôn khổ của cuốn sách này, chúng tôi xin phép chỉ chuyển tải được một số nội dung tri thức văn hóa sâu xa từ thời cổ xưa.

Bùa chú và Phù thuật xuất hiện trên thế giới từ lâu và khởi đầu từ những vị chân tu có ý đồ nghiên cứu tìm hiểu và thực hành bùa chú với chủ đích cứu đời, cứu người. Từ ngàn xưa, bùa chú đã xuất hiện ngay cả trong những kinh sách của nhiều tôn giáo. Phần lớn các bùa chú này nhằm mục đích để cầu an, giúp cho thân tâm, gia đình yên ổn. Ngoài ra nhiều bùa chú còn giúp để trị bệnh, trừ tà, phá bùa yếm đối… Những bùa chú này do một số lớn những nhà nghiên cứu về hiện tượng siêu linh huyền bí tìm ra. Một số bùa chú còn được tìm thấy do những tài liệu cổ từ Mật Tông truyền lại.

Mật tông (Vajrayna) khởi thủy từ Ấn Độ, đó là một học vấn nối liền hai bình diện Hiển – Mật trong Phật giáo Đại thừa. Vào giữa thế kỷ 7 sau công nguyên, Mật tông đã trở thành một tông phái độc lập tại Ấn Độ.

Theo nhà viết sử nổi danh William james Durant thì những phương thuật này phần lớn là những bùa chú hay những thần chú được tìm thấy rất nhiều trong kinh ATHARVA – VEDA. Ngày xưa một số lớn người Ấn rất quý trọng những gì viết trong kinh này. Họ thường đọc thần chú để được có con tốt lành, để sinh dễ dàng mẹ tròn con vuông, để tránh tai nạn bệnh tật, để ngủ yên giấc, chống lại ác tâm của kẻ thù hoặc làm nản lòng chúng…

Cũng theo William James Durant thì trong kinh Atharva – Ve da đôi khi còn có những câu thần chú mà lời lẽ rất mạnh mẽ dữ dội và đôi khi man rợ để cho phụ nữ đọc khi nào muốn chống lại tình địch.

Atharva – Veda là một trong bốn loại kinh Veda giá trị và thiêng liêng nhất xứ Ấn gồm có các tri thức về các thần chú với các Mạn – đà – La, với những câu thần chú, những lời cầu nguyện.Theo các nhà nghiên cứu thì có những Thánh ca giá trị đầy năng lực nhiệm mầu trong các kinh Veda. Về xuất xứ thì theo họ, đã xuất hiện cách đây từ 6 nghìn đến 10 nghìn năm trước công nguyên.

Trên thế giới ngày nay, Phật giáo Tây Tạng cùng với Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Trung Hoa đã trở thành ba dòng truyền thừa lớn nhất của Phật giáo và Phật giáo Tây Tạng là chủ lưu trong hai dòng phái chính của Mật Thừa gồm Đông Mật – Nhật Bản và Tây Mật – Tạng Mật. Mật Thừa được coi là giai đoạn phát triển tối cao của Đại Thừa. Con đường tu hành Mật Pháp nhanh chóng, tiện lợi hơn, đặc biệt thích hợp với những người có căn khí cao.

Quá trình tu Mật vô cùng gian khổ, nhằm làm thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu và ý. Có ba phương pháp tu chứng cơ bản của Mật Tông là Thân mật, Khẩu mật và Ý mật.

Vậy, cụ Nguyễn Đức Cần tu theo dòng Mật tông nào: Đông Mật hay Tây Mật, hay dòng truyền thừa nào khác? Đến nay chúng ta chưa tìm được câu trả lời, nhưng điều chắc chắn rằng những Vị Thầy tâm linh của cụ đều là người Việt Nam và Đạo của cụ là thuần Việt.

Cụ từng nói rằng: Nước ta thì không có Đạo nào cả, toàn ở nước ngoài vào, “Nam vô Phật” – Nhưng sẽ có ngày chỉ còn có một Đạo – một Chính Đạo cho tất cả loài người trên thế giới này.

Như chúng ta đã biết, cụ Nguyễn Đức Cần thường sử dụng ba phương pháp chữa bệnh bằng: Lời nói, Tờ Đạo và Điều khiển bằng đôi tay. Cụ đã kết hợp cả ba phương pháp trên một cách tài tình và đạt được nhiều kết quả trong việc cứu đời, trị bệnh. Ba phương pháp chữa bệnh của cụ có thể so sánh với Chú – Phù – Ấn trong Mật Tông.

Chữa bệnh bằng Lời nói (Mật chú – Mật ngữ – Dharani)

Mật Chú hay gọi ngắn gọn là Chú. Chú gọi theo Phạn ngữ là Dharani. Chú là một từ Hán Việt có nhiều nghĩa. Theo nghĩa chiết tự tầm nguyên thì Chú viết với bộ khẩu có nghĩa là:

1- Lời nguyền rủa.
2- Câu thần chú
3- Lời chúc nguyện.

Chú ngữ, đại biểu cho mật mã của linh giới và hiệu lệnh ngâm tụng, có khả năng thuyết phục và gây ảnh hưởng lên tâm thân của con người và thế giới vô hình. Chú là lời nói bí mật có thể đọc thành tiếng ( Mật thanh ) hay đọc thầm (Mật tâm). Chú thường không được giải thích. Chú có nghĩa là niệm, rót sức vào những lời tốt đẹp tha thiết nhất để đạt được một cái gì đó, hoặc tống một cái gì đi. Những lời chú chứa đựng rất nhiều và rất mật. Tác dụng của lời niệm Chú, tụng ca có thể làm rung động đến ba kinh mạch, bảy luân xa trong thân thể, đả thông kinh mạch trung ương, khiến nó tương ứng với tần số âm thanh của vũ trụ, từ đó phát quật được những tiềm năng của sinh mệnh, khơi thông nguồn trí tuệ siêu việt.

Chú còn được gọi là Chân ngôn, có nghĩa là “Lời nói chân thật”. Chú là những lời nói thần bí, huyền nhiệm của chư Phật, Bồ tát, những lời nói mang tính chân lý, cực kỳ màu nhiệm, hoàn toàn chân thức, có tác dụng nối thông trời đất vũ trụ và con người. Có rất nhiều chân ngôn. Căn cứ vào mặt hình thức, có thể chia thành các loại đại chú, trung chú, tiểu chú, căn bản chú, tâm chú… Có thể chia Ngôn ngữ thành năm loại, có bốn loại vọng ngữ và một loại ngôn ngữ chân thật. Bốn loại vọng ngữ là :

– Ngôn ngữ tướng
– Ngôn ngữ mộng
– Ngôn ngữ vọng chấp
– Ngôn ngữ vô thủy

Những loại ngôn ngữ này chỉ có tác dụng tại một địa điểm hoặc một thời điểm nhất định. Còn Chân ngôn có thể quán thông tam thế, thu nhiếp thập phương và hoàn toàn khác với khẩu nghiệp của người phàm.

Mật tông phân chia thân thể thành ba tầng

1- Samaya (thân Tam muội da) là thân xác máu thịt do cha mẹ sinh ra được hợp thành bởi tứ đại: Đất, nước, gió, lửa
2- Jnana (thân trí tuệ) tức trường năng lượng nội tại của sự sống trong cơ thể con người được cấu thành bởi Khí (prana ) mạch (nadi) và tinh chất (bindu)
3- Samadhi (thân Tam ma địa) nằm ở kinh mạch trung ương ở khoảng giữa của luân xa (chakra) tim, là trường năng lượng vốn có của con người và cũng là Chính thể Ánh sáng.

Trong cơ thể con người, có vô số đường kinh mạch chạy khắp cơ thể,khí huyết sẽ được lưu thông qua những con đường này. Trong số đó , quan trọng nhất là ba đường kinh mạch trung ương ( Sushumna ), kinh mạch trái (lda) và kinh mạch phải (Pingala). Đường kinh mạch trung ương, còn được gọi là Mệnh mạch (kinh mạch của sự sống) có vai trò quan trọng nhất. Từ một số điểm chủ yếu trên kinh mạch trung ương tỏa ra các kinh mạch nhánh chạy đến các phần thân thể xung quanh tựa như vô vàn chiếc nan hoa trên một bánh xe. Bởi vậy mà mỗi tổ hợp nhánh xuất phát từ mỗi điểm trên mệnh mạch được gọi là Luân xa ( Chakra ) có nghĩa là bánh xe.

Trong con người bình thường, khí trong cơ thể họ sẽ tản mát trong các đường kinh mạch nhánh, nhất là kinh mạch trái và kinh mạch phải và đó là nguyên nhân nảy sinh các loại tư duy tham, sân , si…

Chỉ khi nào Khí đi vào kinh mạch trung ương, sẽ khiến các khí nghiệp kiếp trong cơ thể được chuyển hóa thành khí trí tuệ, tạo nên sự chuyển biến của các luân xa, khiến năm thứ độc : Tham, sân, si, ngạo mạn, nghi kỵ bị loại trừ và khí trí tuệ tràn khắp cơ thể, kinh mạch trung ương được mở thông hoàn toàn, ánh sáng trí tuệ tuôn trào, dấy lên niềm đại lạc bản nhiên.

Công năng của thần chú

Chúng ta biết rằng: Ngôn ngữ là sự tư duy thành lời, còn tư duy là ngôn ngữ không lời; mỗi một từ dù có nói ra hay không, thì nó cũng là một tư duy trong đại não, lời chú thuộc về phạm trù của tin học, ý niệm là thuộc tính của lực , mà lực và tín hiệu có cùng một bản chất; tác dụng tín hiệu của lời chú, có thể giải thích rõ ràng bằng trường lực .

Chú ngữ là sự biểu hiện của niệm lực mạnh mẽ cùng sử dụng những âm thanh, từ mức độ vi tế đến thô kệch của các sức rung động cộng hưởng của âm thanh để gây sự ảnh hưởng có một lực tác dụng thực tế lên người và vật chung quanh tùy theo mục đích phòng bệnh chữa bệnh hay những mục đích khác .

Như vậy khi con người suy nghĩ về một từ nào đó, thì lập tức liền có một trường năng lực tương ứng xuất hiện mà huyền bí học ngày nay gọi là hình tư tưởng – Thought Form, đó cũng là một loại từ trường sinh học; cho nên những năng lượng hoạt động của ý niệm con người, nó gây ảnh hưởng trực tiếp đến trường năng lực của cơ thể con người trong đó bao gồm cả từ trường của não bộ. Điều này thật dể hiểu, vì chú là dùng lời nói có tính kích thích tốt, có thể làm cho người ta thả lỏng cơ thể và đi vào nhập định, và khi con người đã thả lỏng cơ thể và đi vào nhập định thì lại có thể tăng cường làm mạnh trường năng lượng của cơ thể hay còn gọi là làm mạnh hào quang của thể phách hay thể năng lượng của con người; còn ngược lại những lời chú ngữ có tính kích thích xấu thì có thể làm cho tâm thần của con người bất an và rõ ràng đã làm cho trường năng lượng của cơ thể con người suy giảm; loại chú ngữ có nội dung xấu này tương đương với lời nguyền rủa khi muốn trừng trị ai đó.

Ở trên là nói đến công dụng của chú ngữ đã sử dụng ý nghĩa của ngôn từ và hình tư tưởng để tạo sự thay đổi trường năng lượng và tư duy của con người để hướng dẫn hầu đạt được mục đích mong muốn. Điển hình như là Đại Bi Chú, là một loại chú, ngoài tác dụng về mặt tín ngưỡng, giúp cho con người buông lỏng cơ thể, nhập định; điều chủ yếu hơn, đó là những tác dụng rung động cộng hưởng hay triệt tiêu của âm thanh, hạ âm hay siêu âm có những tần số rung động có thể làm thay đổi quỹ đạo vận hành của nguyên tử hay tế bào sinh học của con người hay vật chất; vì cơ thể của con người được nhiều hệ thống tạo thành, mỗi một hệ thống đều có tần số rung động riêng của nó, như sự rung động của cơ âm thanh ở yết hầu, của cơ tim, sự co bóp có tính chu kỳ của dạ dày, sự nhu động của ruột và tần số rung động của sóng não…

Công năng của thần chú được mô tả trong nhiều kinh sách Mật giáo. Tuy nhiên, tựu trung thần chú có 5 công năng vi diệu sau đây:

1-Kính ái: Ai đọc thần chú sẽ được người, trời, quỷ thần kính trọng và quý mến;
2-Tăng ích: Được gia tăng những lợi ích trong đời sống như tuổi thọ, sức khỏe, sự thành đạt;
3-Tiêu tai: Tai ách sẽ dần tiêu trừ theo diễn trình từ nặng hóa nhẹ, từ nhẹ trở thành không còn nữa;
4-Hàng phục: Trừ tà, diệt ma, tức là những thế lực xấu ác vô hình gây tổn hại cho con người;
5-Câu triệu: Tập trung được những năng lực tinh tế của vũ trụ, từ các cảnh giới cao diệu…

Nhiều người thường quan niệm rằng Chân Ngôn là những điều thần bí, nhưng Chân ngôn là sự thể hiện của chân lý vũ trụ và bản tính chân thực. Tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng suối chảy, tiếng chim hót…tất cả mọi biểu hiện của cái đẹp tự nhiên trong vũ trụ, là chân ngôn. Có thể nghe thấy chân ngôn ở khắp mọi nơi. Nhưng chỉ có chân ngôn của Chư Phật, Bồ tát mới có được sức mạnh gia trì siêu nhiên.

Chúng ta khi vào chùa, thường niệm câu “Nam mô A Di Đà Phật”. Đó chính là một câu Chân ngôn vậy và âm thanh của lời niệm Phật mang vẻ đẹp hài hòa, hàm chứa sức mạnh gia trì siêu nhiên, khiến người nghe nảy sinh niềm hạnh phúc.

Chữa bệnh bằng tờ đạo (Linh thần Phù – Bùa chú – Amulet – Mandala)

Danh từ bùa chú trong ngôn ngữ tây phương gọi là “Amulet” là chứng vật bảo đảm cho người giữ nó khỏi sự hiểm nghèo. Bùa là đại biểu cho công văn và pháp quy của linh giới. Linh thần phù – Phù trong dân gian gọi là Bùa, người Việt dùng từ Bùa thay cho Phù là âm Hán – Việt.

Chữ Phù trong Hán tự viết với bộ Trúc, nghĩa nguyên thủy là cái thẻ làm bằng tre, viết chữ vào rồi chẻ ra làm đôi, mỗi người giữ một mảnh, khi so lại với nhau mà đúng thì phải, thẻ tre này dùng để làm tin. Khi xưa, lúc vua ra lệnh cho tướng ra trận thì giao cho một tấm thẻ, thay quyền uy của mình để chỉ huy ba quân thì đó là Lệnh phù…Như vậy, Phù là một thứ biểu hiện một sứ vụ lệnh, một vật chứng minh, về sau phù còn có nghĩa rộng là vật tốt lành, một thứ bùa may mắn, lấy phúc hay một vật hộ phù. Bùa được làm bằng nhiều thứ vật liệu như: Đá , ngọc, vàng, tượng thần, da thú, xăm trên cơ thể người, vẽ trên vải… Lá Bùa mang những dòng bí ngữ, câu chúc phúc hay lời chú nguyền rủa.

Bùa còn được họa trên giấy hay vẽ vào trong hư không bằng khói hương (thư hương). Bùa diễn đạt tác dụng của khí để dùng trong chữa bệnh, phong thủy, hộ mệnh, trừ tà… Những ký hiệu mà chúng ta thấy trong lá bùa có chức năng truyền tải thông tin và năng lượng. Với những bùa sử dụng trong chữa bệnh, nó tác động tới thể xác và tinh thần nên có thể chữa thân bệnh và tâm bệnh.

Trên khắp thế giới, hầu như mọi dân tộc đều có những phong tục nghi lễ với những lá bùa viết bằng những cổ tự huyền bí.

Ở nước Việt ta, từ thời Hùng Vương, nhà vua đã sai mọi người vẽ (xăm) hình thủy quái trên mình, để tránh tai nạn sông nước. (Đại Việt sử ký toàn thư có chép việc này). Thời phong kiến ở miền bắc, mỗi khi đón xuân về ở những làng quê, người ta lấy những thanh tre làm bùa “Tứ tung ngũ hoành” treo trên các ngọn tre (cây nêu) trước sân, để trừ ma quỷ, hoặc trồng đào trước sân nhà và dán bốn chữ “Thần Trà – Uất Lũy” để cầu sự bình an, yên vui. Còn những cô thôn nữ Việt thủa xưa, đeo những lá bùa hình bát quái hay hình củ ấu ở cổ yếm đã đi vào câu ca dao:

“…Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng ..”

Như vậy, có thể nói rằng: Bùa chú là một phần phong tục của dân tộc Việt Nam, pha trộn hai nguồn tôn giáo lớn trong xã hội Á Đông xưa là Đạo giáo và Phật giáo.

Cấu trúc và công năng của bùa phép

Phù hay còn gọi là bùa, dùng để điều chỉnh khí trường, nó còn là nơi tồn giữ trường sinh thái thông tin của ý niệm lực do người khi vẽ bùa đã truyền vào; nếu ý niệm càng mạnh thì thời gian tồn giữ trường thông tin sinh thái này càng được giữ lâu dài, đồng thời nó càng phóng phát năng lượng ra ngoài càng mạnh hơn, nếu nguồn năng lực này nhỏ thì có thể trị bệnh, điều tâm; nếu mạnh thì có thể giải trừ tai ách. Người vẽ bùa là người đã thông suốt các thế lực của phong vân tinh tú, từ đó gồm thâu những lực của thế giới vô hình để kết lại thành khí mà vẽ thành chữ lên lá bùa.

Lá bùa là một tổ hợp của những hình tròn, vòng xoắn, số 8 nằm ngang, những vạch ngang nằm chồng lên nhau, những đường xiên cùng những chữ có những ngụ ý cao thâm vi diệu .

Nói đến một Đạo bùa, thì phải nói Phù Văn. Vậy Phù Văn là gì ?

Phù Văn chính là văn tự của lá bùa. Nó chính là thành phần cốt yếu của lá bùa. Không có Phù văn, thì đó chỉ là một tờ giấy. Văn tự của lá bùa chuyên chở một mệnh lệnh, một sự khuyến cáo, một sự ủy nhiệm, một lời dọa nạt chuyển đạt tới đối tượng (ở đây là những sát thần, tà ma, quỷ mị).

Trên thế giới có nhiều dân tộc với những nền văn hóa khác nhau, thì đương nhiên là sẽ có nhiều thứ ký hiệu ngôn ngữ và văn tự khác nhau. Cho nên chúng ta thấy Phù Văn được viết theo những văn tự bí ẩn hay những bí ngữ của từng nơi.

Hiện nay tại thung lũng Mường Hoa, Sa Pa và ở xã Tả Phìn (Lào Cai) và Vị Xuyên (Hà Giang), còn lưu giữ những bãi đá cổ cùng với những hoa văn, cổ ngữ và cách bài trí bí ẩn. Bãi đá cổ Sa Pa trải rộng 8 km² với gần 200 khối đá là một di chứng về sự xuất hiện của người tiền sử ở đây. Tại những bãi đá này những hoa văn kỳ lạ trên đá với nhiều hình dạng: bậc thang, hình người, con đường, chữ viết v.v. có những rãnh tròn khá giống biểu tượng mặt trời, có hình nam nữ giao phối – biểu tượng sự sinh sôi, và rất nhiều những vạch kẻ lạ mắt.

Bãi đá cổ Sa Pa được nhà khảo cổ người Pháp gốc Nga Glubev của trường Viễn Đông Bác Cổ phát hiện vào năm 1925 và ông đã đưa ra những giả thuyết giải thích về các hoa văn này.Có rất nhiều cách giải mã khác nhau của các nhà khoa học khi đến nghiên cứu Bãi đá cổ Sa Pa. Tuy nhiên, tất cả những cách giải mã đó mới chỉ dừng lại ở giả thiết. Bãi đá cổ là những di sản thiên nhiên vô cùng quý giá của dân tộc chúng ta, nó không chỉ chuyển tải vẻ đẹp nguyên sơ mà còn gợi mở cho chúng ta về một nền triết học và văn hóa lâu đời của người Việt thời cổ xưa.

Chữ trong lá bùa là một hình thức biểu trưng trìu tượng. Nghệ thuật của lá bùa không chấp nhận một ranh giới rõ ràng giữa thực tại và hư tưởng. Nó đáp ứng đồng đều cho mọi người, từ kẻ có triết lý cao đẳng đến kẻ ít học hay suy nghĩ giản đơn.

Ngôn ngữ của lá bùa có nề nếp văn phạm cực kỳ phong phú, diễn tả những đường nét nhịp nhàng liên tục, phối hợp cái có thể nhận được như nhịp tim của cơ thể với cái khí khinh khoát vô hình của hơi thở và hồn vía. Qua sự quan sát những đám mây hay sương mù lãng đãng, những đợt sóng nước ngấp nhô, những luồng hơi khói mỏng manh… người họa bùa đã dùng những đường nét mà diễn tả cái tính chất biến dịch, chuyển động và năng lực trong thiên nhiên…

Nay ta xem về phần khí cảm trong bùa, được phân làm hai loại mềm và cứng. Tròn, cong, xoáy trôn ốc hình số 8 v..v… là thuộc về loại khí cảm mềm mại và liên tục, có hiệu ứng phần nhiều là phóng phát sinh khí, thường dùng vào bổ sung khí cho người mắc bệnh, phần lớn nhằm phối hợp thành ý niệm hưng phấn phát triển và nuôi dưỡng mang tính hướng thiện. Còn chữ bùa có vẽ những đường ngang, dọc, xiên, chéo v..v…có mang trường khí cảm cứng rắn, mãnh liệt và ngắn  phần nhiều có hiệu ứng phóng phát ngoại khí để sát thương và tiêu diệt vi trùng và mầm bệnh độc hại, tà khí, phá tan u nần và làm lành bệnh; phần lớn nhằm phối hợp để ức chế, tiêu diệt, trừ bỏ những ý niệm mang tính ác. Ý niệm mang tính thiện của cổ nhân phần lớn gọi Thiên Tôn, Thiên Thần, Tinh Tú, … còn ý niệm mang tính ác, phần nhiều dùng những chữ để chỉ địa ngục, phá bụng quỷ, xuyên tim quỷ …

Nếu ta nhìn về ảnh hưởng của bùa lên hệ thống kinh lạc, thì bùa có mang những khí cảm khác nhau và đưa chúng đi vào các đường kinh lạc tương ứng và đưa khí tới các tạng phủ trong cơ thể; xét về âm dương, thì phải phân biệt các vòng xoáy từ trái sang phải của các đường vẽ xoắn trôn ốc trong lá bùa là dương, thuận theo chiều kim đồng hồ, còn ngược lại là âm …

Trong những “ tờ Đạo ” mà cụ Nguyễn Đức Cần viết cho những bệnh nhân cũng vậy, đó là những ký tự rất lạ. Có những “tờ Đạo” ký tự như mây cuộn sóng dồn hay như dòng xoáy của những luân xa, có những ký tự như chữ khoa đẩu thời thượng cổ (thiên thư). Các nhà nghiên cứu gọi những lá bùa có những ký tự như những sợi mây trên trời là Phù Vân.

Đa số những lá bùa được viết (họa) trên giấy, gọi là Chỉ phù. Hình thức phù văn (thư phù hay họa phù) cực kỳ biến hóa, có thể chia làm hai loại :

1- Đơn giản chỉ có ít ký tự hay ký hiệu nào đó. Người phương Tây gọi là Pantacle, những dấu hiệu gồm chứa cả một nguyên lý hợp với sự vận hành của tạo hóa như Thập tự giá của Thiên Chúa giáo, chữ Vạn của Phật giáo, hình ngũ giác đen trắng của vua Salomon…

2- Phức tạp với nhiều ký tự ngoằn ngoèo. Tiêu biểu là cấu trúc của biểu tượng Mạn đà la, được xem như cái bánh xe mặt trời với nguồn sáng lung linh tuôn tràn từ trung tâm, tỏa ra muôn vạn hướng, rồi lại trở về trung tâm. Các nhà nghiên cứu tâm linh ghi nhận rằng: Trong vũ trụ bao la đều có dạng thể của Man đa la, từ những cá thể của bào tử, loài phiêu sinh, đến cả bông hoa hay chính con mắt người và loài thú cũng là hình ảnh của Mạn đà la.

Có nhiều loại bùa khác nhau như: Bùa hộ thân, trừ tà giải bệnh. Bùa bình an, bùa trị hóc xương, bùa an thai, bùa ngăn chặn con ranh con lộn….

Bùa chú là một môn chữa bệnh có tính tổng hợp, trong đó bao gồm cả thảo dược học , tâm lý học, nhân thể học, khí công học và kỹ thuật phóng phát ngoại khí của nó … nên ai muốn học môn này cần phải có một kiến thức rất là uyên thâm mà người thường khó lòng hiểu được và nắm vững. Do đó, bùa chú là hình ảnh thu nhỏ được nghệ thuật hóa của trường khí vũ trụ, bùa là một vật trung gian tồn trữ và ghi nhớ các khí trường và thông tin mật mã mà người thường không thể hiểu thấu được, và như vậy Bùa chú được coi như một thông điệp huyền bí để thông linh giữa con người với thế giới vô hình.

Ngày nay, cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, những con tàu vũ trụ do con người chế tạo đã bay vào khoảng không gian bao la, Bùa chú tưởng như chỉ là những tàn dư lạc hậu, dị đoan còn sót lại. Nhưng cho đến nay chưa một bộ óc điện tử tối tân nào có thể giải mã được những điều huyền bí của Bùa Chú.

Chữa bệnh bằng tay ( Ấn quyết – Mudra )

Ấn theo tiếng Phạn gọi là Mudra, người Trung Quốc gọi là yin, người Nhật gọi là in-zo, ta dùng chữ Ấn (Thân ấn và Thủ ấn). Ấn là biểu tượng, phù hiệu, khuôn dấu đóng vào tờ hiệp ước, đại biểu cho quyền uy của linh giới.

Mudra theo tiếng Phạn có nghĩa là “Khép kín năng lượng”. Khi chúng ta khép kín năng lượng thì năng lượng được tập trung. Một khi năng lượng được tập trung thì có sức mạnh vô tận. Chúng ta có thể học được cách đạt tới năng lượng vô hạn của chúng ta bằng cách áp dụng việc bắt ấn.

Ấn biến đổi theo hiệu quả của mỗi ấn khác nhau trên cơ thể, tinh thần và tâm thức của con người. Ấn làm quân bình nguồn năng lượng cũng như kênh dẫn tới các trung tâm năng lượng đặc thù.

Ấn sử dụng bàn tay, mắt và toàn thân để kích động năng lượng. Lẽ dĩ nhiên là tất cả các ấn đều mang lại cho tinh thần một sự quy tụ tối hậu. Việc bắt ấn được thực hành trong suốt thời kỳ lịch sử loài người.

Trước khi có ngôn ngữ, cảm xúc được tạo từ các cử chỉ của các ngón tay để diễn đạt, để thông tin. Rồi tiến trình tiếp diễn các cử chỉ bàn tay hòa theo các từ, các câu và ngôn ngữ…

Bàn tay từng là biểu tượng của nguyện cầu và của năng lực cao hơn. Vào khoảng 1500 năm trước Thiên Chúa, thần RA đầy năng lực của Ai Cập được mô tả như chùm tia nắng tỏa ra ở mỗi bàn tay xòe ra. Ấn là phần rất quan trọng trong các lễ nghi tôn giáo, các nghi thức Ấn giáo và Phật giáo.

Ấn nguyện cầu với các bàn tay chắp lại tại con tim biểu tượng nguyện cầu và sùng kính đối với người Công giáo. Các cử động bàn tay được thực hành bởi các nhóm triết học, tôn giáo và tâm linh khác nhau trên khắp thế giới.

Chúng ta thấy những bức tượng Phật trong những ngôi chùa thường được trình bày với những kiểu tay đặc biệt , vừa là một cử chỉ tự nhiên, vừa là một dấu hiệu của tính chất phật (Phật tính). Trong Đại thừa, các Thủ ấn chỉ các Ấn nơi tay, đều tương ứng với các ý nghĩa đặc biệt, khác với Thân ấn (Khế ấn) là những tư thế khác nhau như cầm ngọc, tọa thiền…

Thủ Ấn , là những tư thế khác nhau được tạo nên từ các ngón tay trên hai bàn tay. Năm ngón tay đại diện cho năm đại : Đất, nước, gió, lửa và không. Bàn tay phải tượng trưng cho Trí tuệ, bàn tay trái tượng trưng cho Định .

Trí tuệ, Định cùng năm Đại, kết thành những hình dáng, tư thế cho những ý nghĩa khác nhau kết nối với năng lượng của bản thể vũ trụ , thông suốt với lục phủ ngũ tạng, để đạt tới cảnh giới vô ngã, trời người hợp nhất.

Trong giáo lý Mật tông các ngón tay có nhiều tên gọi khác nhau. Hai bàn tay gọi là Mãn nguyệt ( Trăng tròn ), Mười ngón tay gọi là Thập độ hoặc Thập luân (10 luân xa), hay thập phong (mười đỉnh núi). Bàn tay trái, ngón cái là Trí, ngón trỏ là Lực, ngón giữa là Nguyện, ngón đeo nhẫn là Phương, ngón út là Huệ. Bàn tay phải, ngón cái là Thiền, ngón trỏ là Tiến, ngón giữa là Nhẫn, ngón áp út là Giới và ngón út là Thí (Đàn).

Có rất nhiều loại Thủ ấn, không thể kể hết ra được, nhưng có sáu loại thủ ấn phổ biến nhất là:

1- Ấn Thiền định ( Dhyani-mudra ), tượng trưng cho tư Thiền Ngộ đạo thường gặp ở Đức Phật A Di Đà.
2- Ấn Thí nguyện (Varada -mudra) thể hiện sự ban tặng, Thủ ấn thường gặp ở Đức Bảo Sinh Như Lai.
3- Ấn Vô húy (Abhaya-mudra ) tượng trưng cho quyết tâm phổ độ chúng sinh, không ngại gian khổ, Thủ ấn thường gặp ở Phật Bất Không ThànhTựu.
4- Ấn Trí quyền ( Bodhyagri –Mudra ) tượng trưng cho tư duy. Đây là Thủ ấn thường gặp ở Phật Đại Nhật Như Lai.
5- Ấn Chuyến pháp luân ( Dharmacakraprartana-Mudra ) tượng trưng cho sự truyền pháp và giáo hóa, kiểu Thủ ấn thường gặp ở Phật Đại Nhật Như Lai.
6- Ấn Xúc địa ( Bhumisparsa- Mudra ) tượng trưng cho hàng phục yêu ma. Đây là kiểu Thủ Ấn của Đức Thích Ca Mâu Ni khi đã chứng ngộ.

Trong Mật pháp,sự thay đổi tư thế các ngón tay để bắt kết thành rất nhiều loại Thủ ẩn và như vậy có thể cảm ứng với Thân mật của chư Phật, Bồ tát trong hư không, nhằm nhận được sự gia trì của chư phật, đẩy nhanh hiệu quả trong việc tu hành.

Chúng ta khi chắp tay kính lễ Trời , Phật, Tổ tiên ông bà, cha mẹ là một dạng Thủ ấn cơ bản nhất trong Đạo Phật. Bàn tay trái tượng trưng cho chúng sinh, bàn tay phải tượng trưng cho Chư Phật, bởi vậy tư thế chắp tay (hợp chưởng, an jali-mudra) mang ý nghĩa là chúng sinh hợp nhất với Phật.

Trong trị bệnh, Ấn quyết dùng hai bàn tay để điều khiển khí lực. Những bậc thầy tâm linh khi chữa trị dùng hai bàn tay etheric (năng lượng) để kéo năng lượng tắc nghẽn ra khỏi trường năng lượng của bệnh nhân, khiến cho vầng hào quang của họ tuôn chảy và tái cấu trúc lại phần cơ thể bị đau, do đó cơ thể lành bệnh (Bàn tay Ánh Sáng – Barbara Ann Brennan).

Chữa bệnh bằng niềm tin – Chữa bệnh bằng tâm linh – Chữa bệnh bằng năng lượng của bàn tay là một phương thức cân bằng lại trường năng lượng của con người. Chúng ta và muôn vật sống trong giữa đại dương năng lượng và năng lượng ấy truyền sức mạnh cho ta, nuôi dưỡng ta, cho ta cuộc sống.

Trích trong cuốn sách “Nguyễn Đức Cần – Nhà văn hóa tâm linh” tái bản lần thứ 4.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *