Đại tá Vương Văn Liêu giới thiệu Khí Công Y Đạo

Khí Công Y Đạo Đỗ  Đức Ngọc – Ngành Y học Bổ sung

I- Sơ lược lịch sử phát triển

Khoa học nói chung và y học nói riêng luôn phát triển không ngừng. Tuy nhiên không bao giờ có cái gì hoàn thiện tuyệt đối, vì thế con người luôn tìm mọi cách để hoàn thiện những khiếm khuyết của các thành quả do mình đã sáng tạo ra để đưa xã hội loài người tiến lên .

Đông y càng cổ càng giỏi vì ngày xưa chẳng có máy móc, thiết bị gì nhưng các vị danh y chẩn bệnh và chữa bệnh như thần. Tây y càng mới càng tinh, những thiết bị máy móc hiện đại của Tây y đã giúp cho khâu chẩn đoán bệnh được chính xác hơn và do đó việc chữa bệnh có hiệu quả hơn.

Hiện nay  Đông Y và Tây y đã có những bước tiến dài, tuy vậy không phải là không có những nhược điểm trong chẩn bệnh và chữa bệnh. Một ngành Y học bổ sung ra đời để bổ sung cho thiếu sót của Đông y và Tây y – đó là môn Khí Công Y Đạo Việt Nam (KCYĐ).

KCYĐ được Thầy Đỗ Đức Ngọc sáng lập ra và đã dạy ở Sài Gòn từ năm 1980. Năm 1993 Thầy sang định cư tại Canada và đã giảng dạy  KCYĐ  từ đó đến nay.

Khí Công Y Đạo: Là một phương pháp tổng hợp của Đông y học cổ truyền bao gồm cách điều chỉnh bệnh bằng ăn uống thuộc tinh, cách điều chỉnh bệnh bằng tập luyện cơ thể  để chuyển tinh lực ra khí lực thuộc khí, và  cách điều chỉnh bệnh bằng phương pháp tập thở  thiền là điều dưỡng tinh thần an vui hòa hợp thuộc thần. Vì tất cả nguyên nhân gây bệnh đều do xáo trộn chức năng thần kinh do ăn uống sai lầm làm tinh sai, kém tập luyện cơ thể làm khí thiếu, hoặc xáo trộn tâm lý bất thường như giận hờn, ghen ghét, lo âu, sợ hãi, buồn chán, làm việc căng thẳng quá độ khiến thần kinh suy nhược gọi là  thần suy.

Tinh sai, khí thiếu, thần suy là do tự mình làm ra. Tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh do sai lầm ăn ngủ nghỉ không điều độ và không tập luyện thân thể làm rối loạn chức năng thần kinh thì mình phải biết cách tự điều chỉnh lại những sai lầm ấy. Vì thế tập luyện Khí Công Y Đạo để tự chữa bệnh chính là cách điều chỉnh lại tinh- khí- thần theo phương pháp tự nhiên của Y học cổ truyền phương Đông.

Định nghĩa từng chữ Khí Công Y Đạo thì Khí là hơi thở, là sự khí hoá, sinh hóa và chuyển hóa tinh thành khí, chuyển khí hóa thần. Chữ Công là công phu luyện tập hơi thở, công phu học hỏi để hiểu lý thuyết, biết thực hành cách chuyển tinh hoá khí, chuyển  khí hóa thần. Chữ Y là tìm hiểu y lý nguyên nhân gây bệnh và cách điều chỉnh cho khỏi bệnh. Chữ Đạo là con đường hướng dẫn y lý Đông phương và là con đường tu tâm dưỡng tánh nhu hòa để bảo tồn nội lực của tinh khí thần, nội lực của tinh là tinh lực, nội lực của khí là khí lực và nội lực của thần là thần lực.

Cho đến ngày nay khí công trên thế giới đã phát triển lên đến hàng ngàn loại khác nhau, nhưng tạm chia thành bốn loại như  sau:

     1. Khí công Yoga hoặc thiền.

     2. Khí công võ thuật

     3. Khí công dưỡng sinh phòng bệnh

     4. Khí công chữa bệnh

Riêng khí công chữa bệnh có hai loại:

a) Khí công nội lực truyền khí từ thầy thuốc sang bệnh nhân giúp bệnh nhân khỏe mạnh hết bệnh tật.

b) Khí công bệnh nhân được thầy Khí công  hướng dẫn phải tự tập lấy các bài tập riêng cho phù hợp với bệnh của mình  để giúp cơ thể tự tạo ra thuốc từ hệ nội dược.

Khí công loại b) chính là KCYĐ.

Khí công chữa bệnh bắt đầu được nghiên cứu  ở nhiều quốc gia do các bác sĩ vừa am hiểu phương pháp Tây y, vừa nghiên cứu học hỏi Đông y châm cứu, vừa luyện tập khí công qua cách thở và kiểm chứng theo tiêu chuẩn Tây y về những thay đổi của cơ thể bằng những thông số cân đong đo đếm được như thành phần máu qua những kiểm nghiệm bằng máy móc.

Ở Pháp có giáo sư bác sĩ châm cứu Nguyễn văn Nghi đã viết, dịch và giảng dạy châm cứu theo kinh điển Hoàng đế nội kinh và viết về khí công theo cách nhìn của một nhà khoa học thực nghiệm; Bác sĩ Nguyễn tối Thiện thuộc nhóm Nghiên cứu và thực hành thiền quán ở Pháp cũng đã nghiên cứu những lợi ích cho sức khỏe khi tập thở thiền. Ở Việt Nam có giáo sư bác sĩ Ngô gia Hy người đã tập luyện khí công để tự chữa bệnh cao áp huyết cho mình khỏi bệnh và sau đó vừa tập vừa thực nghiệm những kết qủa khi tập khí công qua những cách thở khác nhau. Từ đó giáo sư đã viết các  công trình nghiên cứu để chỉ ra  lợi ích của tập khí công đối với hệ hô hấp, hệ tuần hoàn , hệ tiêu hóa, hệ thần kinh, hệ nội tiết, các tuyến hạch và đối với giấc ngủ .

II- Những nội dung cơ bản của KCYĐ

Trên cơ sở mấy chục  năm  nghiên cứu khí công chữa bệnh, Thầy Đỗ Đức Ngọc đã đúc rút được 3 vấn đề cốt lõi  và đã trực tiếp chữa cho hàng vạn người trên thế giới cả người ngoại quốc và người Việt  từ các bệnh thông thường đến các  bệnh nan y. Những nội dung cốt lõi của KCYĐ Việt Nam đó là: Điều chỉnh Tinh, điều chỉnh khí, điều chỉnh thần để luôn luôn duy trì sự cân bằng trong cơ thể con người.

Để thực hiện được những điều đó, KCYĐ sử dụng:

1. Điều chỉnh tinh

Điều chỉnh bằng ăn uống hoặc dùng thuốc để tăng cường thêm tinh lực cho cơ thể và luôn luôn chú ý đến vấn đề ăn uống đúng để cân bằng âm dương.

Ví dụ người huyết áp thấp thì không được ăn uống những thức ăn, đồ uống làm giảm áp huyết, ngược lại người huyết áp cao thì không được ăn thức ăn, đồ uống làm tăng huyết áp.

2. Điều chỉnh Khí

Để điều chỉnh khí sử dụng phương pháp động công.

Mục đích của động công là tập luyện cơ thể bền bỉ dẻo dai, khai thông được khí huyết ở chỗ bị  bế tắc, khai mở các huyệt của Kỳ kinh Bát mạch và các luân xa theo một nhịp độ sinh học  đồng bộ giữa động tác và hơi thở  thuận với nhịp sinh học trao đổi chất của âm dương, khí huyết để tự nó có thể  khai mở được vòng Tiểu Chu Thiên và Đại Chu Thiên trong cơ thể, nhằm tăng cường khả năng tự chữa bệnh và phòng chống bệnh  cho chính bản thân và có khí lực và thần lực  để chữa bệnh cho người khác mà không sợ mệt và mất khí như những thầy chữa bệnh khác.

Những bài tập động công cũng có  thể áp dụng hướng dẫn cho người bệnh tập luyện nhằm tăng cường dương khí, những động tác tay chân đều theo quy luật trong âm có dương, trong dương có âm và các động tác phải phù hợp với hơi thở tùy theo mỗi trường hợp bệnh cần chữa trị.

Các thế khí công căn bản  để trị bệnh thuộc phần động công, chú  trọng vào sự điều chỉnh khí hóa của hệ  thống Tam Tiêu, điều chỉnh thần kinh ( thần ), thông khí huyết cho Lục Phủ, Ngũ Tạng, chuyển khí chạy theo vòng Nhâm-Đốc  và tăng cường khí hoạt động cho Tam tiêu là Tông khí , Ngũ hành khí, Nguyên khí.

3. Điều chỉnh thần

Để điều chỉnh thần thực hiện tập tĩnh công.

Theo quy luật âm dương hòa hợp, tập  động công là tập tăng cường dương khí và  tập tĩnh công là phần âm chuyển hóa khí, làm mạnh chức năng thần kinh, nhưng trong cách luyện và  theo dõi hơi thở cũng thể hiện quy luật trong âm có dương, mục đích điều khiển hơi thở  nhằm khai thông các đại huyệt  trên mạch Nhâm-Đốc, giúp cho tinh-khí-thần hòa hợp, cùng vận hành liên tục theo vòng Tiểu chu thiên để tạo ra một hệ thống phòng chống bệnh tự động trong cơ thể. Tĩnh công phải hội đủ ba điều kiện là điều thân, điều ý, điều tức.

a) Điều thân:

Có nhiều cách tập thở ở tư thế  đứng, nằm, ngồi; cách ngồi để nạp khí và  cách nằm để dưỡng thần.

b) Điều ý:

Với khẩu quyết của khí công ý ở đâu khí ở đó, khí đến đâu huyết đến đó cho nên tùy theo mục đích chữa bệnh hợp với nhu cầu cơ thể cần, như muốn tăng cường sự khí hóa, cần tăng huyết, cần an thần… ý  sẽ được tập trung vào các vị trí khác nhau ở Đan điền khí,  Đan điền thần,  Đan điền tinh hoặc ở huyệt Mệnh môn..

c) Điều tức:

Là tập điều hòa hơi thở được tự  nhiên: nhẹ, chậm, sâu, lâu, đều, tự nhiên cho thành một thói quen, nhằm khai thông các huyệt đạo trên mạch Nhâm-Đốc giúp cho tinh-khí-thần hòa hợp, cùng vận hành liên tục theo vòng Tiểu chu thiên để tạo ra một hệ thống phòng chống bệnh tự động trong cơ  thể.

Điều hòa hơi thở đúng sẽ làm thay đổi chức năng co bóp của tim và nhịp tim được cải thiện ngay sau khi tập, đã được kiểm chứng đo điện tâm đồ.

Tập thở  đúng tạo thành nhịp thở sinh học đều đặn theo chu kỳ khoảng 6 đến 12 hơi thở ra thở vào trong một phút, sẽ  giúp cho hệ thống miễn nhiễm được mạnh gấp nhiều lần hơn những người khác. Bình thường một người khỏe mạnh không bệnh tật, thở trung bình một phút  được 18 hơi, nếu đến tuổi già vẫn giữ  được 18 hơi thì tuổi thọ có thể sống lâu 100 tuổi. Nếu hơi thở trên 18 hơi là cơ  thể đã có bệnh (thí dụ như bị  thở gấp, ngắn hơi, hụt hơi trong bệnh tim mạch, suyễn, đau đớn..) thì tuổi thọ sẽ giảm.

Đã có nhiều người tập đều đặn một thời gian, sức khỏe được cải thiện, những bệnh tật kinh niên tự biến mất dần, ít phải dùng thuốc hơn, nhất là các bệnh đau nhức chân tay, lưng gối, cảm cúm, nhức đầu, chóng mặt, dị ứng, ho hen, suyễn, áp huyết, tiểu đường. Các thế tập trong bài không có gì đặc biệt, cầu kỳ và khó nhớ, khó tập như các môn khí công khác, nhưng kết qủa thật kỳ diệu, như một phép lạ.

4. Cách khám bệnh bằng KCYĐ

Đông y có Bát cương (8 Cương lĩnh) để qui loại bệnh: Âm- Dương, Biểu –Lý, Hàn- Nhiệt, Hư- Thực, Bát Pháp (8 Phương pháp) để trị bệnh: Hãn, Hòa, Hạ, Tiêu, Thổ, Thanh, Ôn, Bổ. Khi chẩn bệnh Đông Y dùng Tứ chẩn: Vọng, Văn, Vấn, Thiết.

Khí Công Y Đạo cũng sử dụng Bát cương, Bát pháp và Tứ chẩn nhưng theo cách riêng: Đó là sử dụng những thành tựu của Tây y để vận dụng vào khám bệnh thay cho   bắt mạch của Đ.Y và cho kết quả chính xác cao hơn và  thậm chí rất ngạc nhiên mà cả Đông Y và  Tây y cũng chưa ngờ tới.

KCYĐ dùng 4 thiết bị sau:

1.Máy đo huyết áp

2.Máy đo đường huyết

3. Máy đo nhiệt độ cơ thể

4. Máy đo oximeter

Cách chữa đúng gốc bệnh cần phải bổ sung khí, huyết cho cơ thể đầy đủ, kết qủa  điều trị phải được kiểm chứng bằng máy  đo huyết áp lọt vào tiêu chuẩn lứa tuổi dưới đây thì bệnh mới mau khỏi.

Bảng tiêu chuẩn áp huyết  của người khỏe mạnh theo KCYD:

1. Áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

95-100/60-65mmHg, mạch nhanh có thể >100 nhịp/ phút.

2.Áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi –  17 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65

3. Áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70

4. Áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75

5.Áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở  lên)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80

Khác với Tây y, KCYĐ luôn  đo huyết áp cả 2 tay để từ đó tìm ra bệnh thuộc Âm- Dương, Biểu – Lý, Hàn- Nhiệt, Hư – Thực.

KCYĐ đã chứng minh được bằng thực nghiệm HA trong cơ thể con người phụ  thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có khí của Lục phủ, Ngũ tạng.

Đo huyết áp 2 tay trước và sau khi ăn 30 phút còn tìm ra được sự chuyển hóa đúng, sai của chức năng bao tử và gan. Ngoài ra KCYĐ còn đo HA ở hai chân để kiểm tra khí lực của chân cũng như sự đóng mở của các van tĩnh mạch chân, sự tuần hoàn máu ở chân. Người ta cứ tưởng khi đo  huyết áp ở hai tay cũng giống nhau, hay đo ở chân cũng giống như ở tay đó  là một sai lầm lớn, nên không phát hiện ra được những bệnh nan y.  Theo Tây y, nếu 1 người có số đo HA >= 100/60 và <= 140/ 90 cho là bình thường. Đó cũng là quan niệm sai lầm. Huyết áp biểu hiện khí lực của một người và nó phải tăng theo tuổi (nhưng nằm trong giới hạn). Nhiều  người bị chết âm thầm do huyết áp thấp mà không biết cũng như nhiều bệnh nan y cả Đông Y và Tây y tìm mãi không ra vì không nghiên cứu số đo huyết áp, nhịp tim 2 tay, 2 chân để so sánh với tiêu chuẩn của KCYĐ.

– Dùng súng bắn nhiệt độ có  thể biết được các vùng của cơ thể  cũng như các đường kinh lạc bị hàn, nhiệt, nhiều khi còn tìm ra được các bệnh nan y mà Đông Y cũng như Tây y không tìm ra.

– Dùng máy thử tiểu đường để biết lượng đường huyết trong cơ thể cũng như trên các đường kinh có nằm trong tiêu chuẩn hay không để từ đó điều chỉnh bằng ăn uống hoặc dùng thuốc cho phù hợp. Khi cơ thể bị bệnh, đường trong huyết sẽ phân bố không đều, khi thử đường ở tay thì có thể nằm trong tiêu chuẩn, nhưng ở chỗ khác thì lượng đường có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với tiêu chuẩn, từ đó các thầy khí công có thể biết được nguyên nhân gây bệnh. Lượng đường tiêu chẩn trong máu khi đói phải từ 6 đến 8 mmol/l sau khi ăn đo được 10- 12 mmol/l mới là người khỏe mạnh.

– Dùng máy oximeter để đo lượng oxy trong cơ thể cũng như trên các đường kinh lạc để biết kinh nào thiếu khí để  điều chỉnh bằng tập các bài khí công cho phù  hợp.

Khi khám bệnh bằng oximeter ở các ngón chân, ngón  tay, sẽ phát hiện dấu hiệu bệnh ở ngọn, thuộc cục bộ ở đầu ngón chân, tay, phát hiện bệnh ở đường kinh, phát hiện bệnh trong nội tạng.

Vì Tây y đã không nghiên cứu kỹ về kinh mạch như Đông y, nên đã có sai lầm cứ  tưởng khi đo oxy, ở ngón tay hay ngón chân hay bất kỳ  nơi nào trong cơ thể cũng đều giống nhau, nên việc đo ở những ngón tay khác hay ở ngón chân không cần thiết, nhưng thật ra nó rất quan trọng để khám định bệnh.

5. Chữa bệnh bằng Tâm linh, Đạo học

Bệnh tật của con người do quá trình sống phát sinh, nhưng còn có một nguyên nhân nữa đó là nghiệp bệnh. Theo tâm linh, nó do tiền kiếp sinh ra. Vì vậy phải  học đạo, tu theo đạo  để cải  nghiệp. Theo nhà Phật có thuyết Nhân Quả. Đã có nhiều người mắc bệnh nan y, vừa kết hợp Đông- Tây y và niệm Phật mà lành bệnh. Ở đây yếu tố niềm tin là rất quan trọng.

Trong Khí Công Y Đạo có phần Cầu ơn trên xin giải nghiệp bệnh, hoặc Niệm phật chữa bệnh.

III- Một vài kết quả minh hoạt chữa bệnh bằng KCYĐ

1. Kết quả kỳ diệu của phương pháp tập thở khí công để chữa bệnh nan y

Hiện nay trên thế giới, mọi người đều xếp loại bệnh ung thư vào mục bệnh nan y khó chữa, vì  chưa tìm ra nguyên nhân, chỉ tìm ra hậu quả là  bướu, nên chữa vào ngọn, tiêu diệt hậu quả mà  không tiêu diệt nguyên nhân, nên chữa xong bướu này, nguyên nhân phát sinh bệnh vẫn còn lây lan sang nơi khác Tây y gọi là di căn.

Cách chữa ung thư  theo Tây y là hóa học trị liệu từ trước đến nay theo phương pháp của Trường Đại Học Johns Hopkins, đã được xem là cách duy nhất để thử nghiệm và loại bỏ ung thư. Nhưng ngày nay phương pháp này đã có một cách nhìn khác dần dần đi đúng lý thuyết tinh-khí-thần trong Đông y.

Sau đây là một vài đoạn trích trong bài viết mới cập nhật của trường đại học Johns Hopkins  .

1. Ai cũng có tế bào ung thư trong cơ thể. Những tế bào này không thể bị phát hiện trong những cuộc kiểm tra tiêu chuẩn, trừ khi chúng nhân ra thành vài tỷ tế bào.

2. Tế bào ung thư xuất hiện từ 6 tới 10 lần trong cuộc đời con người.

3. Khi hệ thống miễn dịch của cơ thể mạnh, hệ thống này tiêu diệt các tế bào ung thư đồng thời ngăn chặn chúng sinh sản và hình thành khối u.

4. Hóa học trị liệu bao gồm việc làm nhiễm độc các tế bào ung thư phát triển nhanh, đồng thời cũng tiêu diệt các tế bào khỏe mạnh trong tủy xương và vùng dạ dày – ruột, và có thể gây tổn thương các cơ quan như Gan, Thận, Tim, Phổi…vv..

5. Trị liệu ban đầu bằng hóa học trị liệu và phóng xạ thường làm giảm kích cỡ khối u… Song sử dụng các biện pháp này lâu dài không tiêu diệt được khối u hoàn toàn.

6. Khi cơ thể nhiễm độc do hóa học trị liệu và tia phóng xạ, hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ trở nên yếu ớt và bị tổn thương, do vậy cơ thể thường không chống đỡ nổi với bệnh tật và các biến chứng.

7. Ung thư là căn bệnh của thể xác và tinh thần. Một tinh thần lạc quan và sảng khoái sẽ giúp các bệnh nhân ung thư giành giật được sự sống. Giận dữ, căm thù và cay đắng khiến cơ thể bị căng thẳng và tạo ra acide. Hãy học cách sống vị tha và đầy yêu thương. Học cách thư giãn và hưởng thụ cuộc sống (Thiền).

8. Các tế bào ung thư sẽ không tồn tại được trong môi trường đầy oxy. Tập thể dục đều đặn, hít thở sâu sẽ giúp các tế bào được nạp đầy đủ oxy. Liệu pháp oxy cũng là cách tiêu diệt các tế bào ung thư (Khí Công).

Như vậy, cách nhìn của y khoa ngày nay cũng chú  trọng đến TINH là cách ăn uống, chất nào tạo duyên xấu làm tăng trưởng tế bào ung thư phải nên tránh, chất nào là duyên tốt vừa tăng cường cho tế bào tốt, làm mạnh hệ miễn nhiễm, vừa tiêu diệt tế bào ung thư cần phải bổ sung.

Về KHÍ thì Tây y công nhận môi trường tạo nhiều oxy sẽ làm cho tế bào ung thư không tồn tại được, nhưng chưa tìm ra đúng phương pháp, chỉ có phương pháp tập thở Khí Công mới thu nạp và giữ được oxy lâu trong cơ thể, khác với tập thể dục thể thao, có oxy vào rồi lại ra mất, bác sĩ Ngô Gia Hy đã kiểm chứng qua xét nghiệm máu về kết quả tăng hồng cầu sau thời gian tập Khí Công. Có nhiều loại Khí Công, loại Khí Công chúng ta thường gặp và tập luyện nhất là Tài Chi, nhưng khi thử nghiệm máu không thấy tăng hồng cầu, do đó nhiều người còn nghi ngờ khả năng chữa ung thư bằng Khí Công vì không biết loại nào đúng và có hiệu quả nhanh khi thử nghiệm máu. Vì thế mà môn học Khí Công Y Đạo ra đời để chuyên chữa những bệnh nan y bổ sung cho ngành y khoa hiện đại. Các bài tập thể dục Khí Công Y Đạo, cách tập thở thiền, được phân loại có kết quả tương đương như thuốc ngoại dược để chữa bệnh.

Về THẦN, Tây y công nhận Tâm tính cũng có những duyên tốt làm cho bệnh mau lành, tế bào ung thư sẽ không thể phát triển, còn duyên xấu sẽ làm tăng trưởng tế bào ung thư làm bệnh nặng thêm, và khuyên bệnh nhân không nên giận dữ, căm thù, bi quan, cay đắng mà phải sống lạc quan yêu đời, biết sống thư giãn, không gì hơn là phương pháp thiền tĩnh Tâm buông xả. Nhưng thiền cũng có nhiều cách, có cách dùng để chữa bệnh mau khỏi là cách thở thiền trên các Đan Điền hay trên đại huyệt của Khí Công Y Đạo mới có kết quả hơn cách thiền chỉ để thư giãn, kém kết quả hơn nếu muốn dùng thiền để chữa bệnh.

Chúng ta thử tìm hiểu cách chữa bệnh nan y theo phương pháp Khí Công y đạo qua  bệnh sau đây:

Bệnh ung thư Phổi do hút nhiều thuốc lá, di căn sang gan và lên não.

Một nam bệnh nhân người Rumany là kỹ sư  chế tạo những máy móc điện tử cho ngành y khoa, ông bị bệnh ung thư Phổi do hút nhiều thuốc lá, bướu trong Phổi bên phải to 8cm, đã di căn tạo bướu trong gan và bướu não bên phải, đang chữa hóa trị theo Tây y. Ông vẫn tiếp tục chữa theo Tây y nhưng bắt đầu tập thêm cách thở Khí Công.

Thông thường, sau mỗi lần chữa hóa trị, cơ thể  bệnh nhân suy nhược cả thể xác lẫn tinh thần do phản ứng thuốc qúa mạnh, đa số những triệu chứng xẩy ra sau khi chữa là đau đớn, khó thở, không ăn uống được, không ngủ được, người xanh xao, mất máu, mất hồng cầu…

Khi chữa lần đầu, những triệu chứng này kéo dài khoảng 1 tuần, rồi cơ thể từ từ phục hồi lại sức vào tuần lễ thứ hai, cơ thể  chưa thấy gì là suy nhược. Khi điều trị  lần thứ hai, hệ thống miễm nhiễm giảm, chức năng hoạt động của Tạng Phủ yếu dần mất sức đề kháng, triệu chứng đau đớn, mệt mỏi, mất  ăn, mất ngủ kéo dài đến 2 tuần, mới vừa phục hồi lại sức, thì đến đợt trị liệu thứ  3, chức năng khí hóa của cơ thể không đủ sức kịp chuyển hóa tẩy độc để giúp cơ thể  phục hồi sức khỏe, mà trái lại, độc tố lưu giữ trong cơ thể trở thành kẻ nội thù phá hỏng chức năng nội tạng, làm tinh thần suy nhược, mất máu, mất hồng cầu, rụng tóc, mặt trắng mét, hơi thở gấp, mắt lõm, má hóp, tiêu hóa không thông, táo bón, ăn uống không được, mất ngủ, người mệt mỏi, chân tay mất sức…

Có nhiều người ở giai đoạn này, bệnh nhân tự cứu mình, đã đến với KCYĐ để học cách tập thở tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

Bệnh nhân thường quan niệm sau khi chữa hóa trị, cơ  thể mệt mỏi mất sức, chắc không thể tập thở  Khí Công ngay được, đợi nghỉ ngơi vài ngày cho cơ thể khỏe lại một chút mới đi tập, cho nên tập thở Khí Công được ít ngày rồi nghỉ theo chu kỳ trong thời gian hóa trị, và  rồi đến với Khí Công thưa dần cho đến khi sức kiệt quệ không đi đứng dễ dàng để  đến với Khí Công được nữa, bệnh càng nặng và  trút hơi thở cuối cùng mà chưa hoàn tất xong lịệu trình chữa trị bằng hóa chất theo Tây y.

Rút kinh nghiệm trong phương pháp hướng dẫn tập thở  Khí Công để tự chữa bệnh ung thư, tôi thường khuyên bệnh nhân, sau khi ở bệnh viện ra, hãy đến tôi để tập thở loại độc tố ra khỏi cơ thể ngay, khiến cho phản ứng phụ của thuốc mất tác dụng nên không bị mất máu, mất hồng cầu không làm mất ảnh hưởng đến đội quân trong hệ thống miễn nhiễm phòng chống bệnh, và cái  đau hay xáo trộn chức năng Tạng Phủ chỉ kéo dài 2 ngày là biến mất, lúc đó cơ thể  còn nhiều thời gian để phục hồi lại tinh-khí-thần càng ngày càng khỏe hơn để đợi ngày hóa trị  kế tiếp.

Bệnh nhân Rumany kể trên đã áp dụng chiến thuật này, ông nhận thấy, sau khi hoá trị, cơ thể vẫn bình thường khỏe mạnh, thỉnh thoảng, khi đo huyết áp tôi thấy xuống thấp, thiếu máu, thiếu hồng cầu, tôi đề nghị ông xin với bác sĩ truyền máu cho ông. Ông tập thở suốt ngày, khi đi, đứng, hay ngồi, còn khi nằm ông tập thở ở Đan Điền Thần làm cơ thể ấm, tăng hồng cầu, tăng sức tuần hoàn máu cho tim mạch, khi tiêu hóa kém không hấp thụ và chuyển hóa, ông tập thở ở Trung Quản, khi cơ thể nóng hay khó thở, nói chuyện hay bị mệt, ông tập thở ở Đan Điền Tinh để phục hồi nguyên khí, khi suy nhược thần kinh ông tập thở ở Mệnh Môn.

Ba tháng sau, ông cho biết, sau khi scan xem tình trạng bướu trong Phổi, ông và bác sĩ nhìn trên màn hình, không còn thấy bướu to 8cm nữa, mà chỉ thấy một chấm  đen mờ khoảng 2mm, gần như không còn bướu, cả  ông và bác sĩ ngạc nhiên vui mừng. Hiện nay ông khỏe hơn như lúc chưa bị bệnh.

Ông thắc mắc hỏi tôi tại sao tập thở Khí Công lại có kết quả kỳ diệu như vậy.

Phương pháp thở này phải được duy trì liên tục thường xuyên có gía trị như dùng thuốc.

Đối chứng trị liệu là dùng những phương pháp thở tùy tình trạng bệnh như thiếu máu lên đầu nuôi não, dùng bài tập Khí Công Cúi Ngửa 4 Nhịp, đau nhức mỏi tay chân dùng bài Vỗ Tay 4 Nhịp, người lạnh tập thở  Đan Điền Thần, người nóng tập thở Đan Điền Tinh, huyết áp cao tập thở Mệnh Môn, ăn không tiêu tập bài Kéo Ép Gốt Thở Ra làm Mềm Bụng, tăng hồng cầu và bạch cầu để chữa bệnh tập bài Đứng Ngũ hành Tấn 10 phút ép độc tố xuất ra bằng đường mồ hôi, Thận suy nằm úp tập thở Mệnh Môn…Những bài tập của Khí Công, mỗi bài có giá trị riêng giống như một loại thuốc đặc trị để giúp cơ thể tự điều chỉnh chức năng khí hóa của Lục Phủ Ngũ Tạng vẫn theo quy luật Âm Dương Ngũ hành trong cách chữa bệnh của Đông y, nên cần phải theo dõi những biến đổi Ngũ hành do phản ứng thuốc Tây y mỗi lúc mỗi khác để lúc nào cũng giữ được sự quân bình khí hóa Âm – Dương, Ngũ – hành của tinh-khí-thần hoà hợp sẽ tránh được bệnh trở nặng hơn hay bị tái phát.

2. Sự chữa bệnh liên quan đến ý nguyện của linh hồn người bệnh

Sau khi một vị giáo sư cựu khoa trưởng một phân khoa ở Đại Học UQAM, Gia Nã Đại được chữa khỏi bệnh, do té ngã xuất huyết não, hôn mê sâu, bằng phương pháp Khí Công Y Đạo, đã  đi đứng ăn nói được bình thường trước sự  chứng kiến của các bác sĩ mà trước đây họ  đã quyết định đóng hồ sơ, không thể cứu sống được vì đã kiểm tra não và kết luận não chết do chấn thương sọ não. Từ đó, có  nhiều bệnh nhân bị tai biến mach máu não biết đến phương pháp chữa bệnh của môn Khí Công Y Đạo.

Một hôm tôi đang giảng dạy môn Khí Công Y Đạo ở chùa Quan Âm, Montreal, có một gia đình người Quebecois vào lớp xin gặp và nhờ tôi đến bệnh viện cứu sống vợ ông đang hôn mê do chấn thương sọ não.

Tôi giải thích cho ông hiểu là tôi muốn cứu người lắm nhưng không được phép của Tây Y, sẽ đụng chạm  đến các bác sĩ, tôi chỉ có thể dạy cho ông phương pháp chữa để tự ông cừu lấy vợ  ông. Sau đó ông trở về bệnh viện.

Tuần sau ông lại đến lớp gặp tôi, vì mỗi tuần tôi chỉ dạy 1 ngày cuối tuần, tôi hỏi  ông đã chữa cho vợ ông chưa. Ông trả lời, tôi không dám chữa, ông năn nỉ tôi đến BV. Tôi trả lời, tôi muốn cứu người lắm, nhưng luật pháp không cho phép, ông có thể tìm một người bạn VN nào đến đây, tôi dạy cho cách chữa, rồi người ấy sẽ giúp ông. Ông trở về tìm một người bạn VN dẫn đến, tôi dạy cho cách châm, bấm, vuốt những huyệt cấp cứu, rồi cả hai đi đến bệnh viện.

Tuần sau cả hai người lại đến lớp gặp tôi, tôi hỏi ông đã chữa cho bà chưa. Ông trả lời “Chưa”, người bạn tôi cũng không dám chữa, nhưng các bác sĩ đã cho biết trường hợp này Tây Y bó tay, người nhà muốn nhờ ai chữa cách nào cũng được, vì hội đồng Y Khoa quyết định 2 ngày sau sẽ rút tất cả các ống dẫn thuốc, thức ăn và máy trợ thở oxy… để cho bà ấy ra đi. Ông năn nỉ tôi đến ngay bệnh viện cứu bà ấy gấp, không thì không kịp.

Tôi trả lời rằng, đối với người Tây phương theo phương pháp chữa của Tây Y quen rồi, còn phương pháp của Đông Y day bấm huyệt thì đối với những người tây phương thấy lạ, Tây Y không chấp nhận. Nên đối với gia đình của ông, chỉ có một mình ông biết phương pháp của tôi và tin ở tôi, còn những thành viên khác trong gia đình không biết đến phương pháp này, họ xem như một cách chữa phản khoa học, họ sẽ thưa kiện tôi lôi thôi lắm.

Ông cho biết là tôi đừng lo, ông kể, gia đình ông chia 2 phe, phe gia đình bên vợ đồng ý rút ống cho vợ tôi chết, còn tôi là chồng, không đồng ý rút ống nếu Master Do (Thầy Đỗ) chữa được, tại sao mìmh không thử. Hai phe tranh cãi, cuối cùng nhờ một bà phù thủy tây phương xem bói bằng qủa cầu thủy tinh, tìm xem ý muốn của linh hồn bệnh nhân muốn gì…

Ông kể tiếp, chúng tôi không nói tin tức gì về vợ tôi cả, nhưng bà phù thủy đã phán 3 điều, trong đó hai điều đã đúng:

Bà phù thủy xem qua qủa cầu thủy tinh, bà  nói:

Điều thứ nhất: Tôi nghe có âm thanh gọi tên bà bệnh nhân này là Odette. Quả thật, đúng là tên bệnh nhân.

Điều thứ hai, tôi nhìn thấy bệnh nhân ngồi hàng ghế trước ở chiếc xe, cạnh người lái, khi đang quẹo ở một góc đường lúc 8 giờ sáng thì bị đụng xe, bà bị đập vỡ đầu. Cũng đúng với sự thật.

Điều thứ ba: Linh hồn bà này đang đứng cạnh giường, bà nghe các bác sĩ nòi không chữa được, nhưng bệnh nhân chưa muốn chết. Ý của bệnh nhân muốn, nếu có ai chữa được mà khi tỉnh dậy, bà có thể đi đứng, ăn nói như người bình thường thì linh hồn của bà mới nhập vào xác, còn nếu bà biết được người chữa cho sống nhưng bị tàn tật, thì bà sẽ không nhập vào xác, bà sẽ bỏ xác ra đi…

Vì câu nói này của bà phù thủy mà hai phe trong gia đình chúng tôi quyết định mời ông.

Khi chúng tôi đến bệnh viện đã có hai bác sĩ ở đó, người chồng giới thiệu tôi với bác sĩ, và tôi cũng xin phép bác sĩ cho tôi được phép chữa, họ đồng ý và ra khỏi phòng, chiếc màn che phòng được kéo kín lại.

Tôi nhìn thần sắc, mặt bà đỏ gay, tiếng ngáy to, thân bất động, đầu đã mổ sọ lấy mất nửa nắp sọ, khâu kẹp da đầu bằng những miếng móc kim loại tạm thời.

Gia đình bà này không có con, giầu có và  nhân hậu, đã nhận nuôi một bé gái Việt Nam quê  ở Móng Cái lúc 3 tuổi sang Gia Nã Đại, bây giờ  là 20 tuổi, bà còn xin một bé gái người Ấn  Đô vừa mới sinh trong bệnh viện ở Gia Nã  Đại, nay cũng đã 19 tuổi, cháu này có học thiền yoga Ấn Độ. Khi tôi vừa tới, cháu Ấn Độ nói nhỏ với bố nuôi câu gì đó, ông tươi tĩnh hẳn và nói với tôi là con ông nói rằng: Con thấy hào quang ông này là người làm cho má sống lại được.

Tôi đứng phía đầu giường, dùng một ngón  tay trỏ bấm vào huyệt Nhân Trung để tăng cường oxy cho não hoạt động, rồi tôi gọi tên bà: Odette! Réveillez! (Odette! Tỉnh dậy.!) thế là bà mở mắt ra như người mới vừa ngủ dây, nhưng chưa tỉnh táo hẳn và chưa biết việc gì đã xảy ra vói mình.

Tôi đứng cuối giường, dùng hai ngón tay, cùng lúc vê hai ngón chân út của bà và nhắc lại câu Odette, Tỉnh dậy.

Bà la lên Oh, No! Oh, No! thế là tay chân bà cử động vung tay lên quơ qua quơ lại lắc lắc ra dấu và chân đạp như xe đạp, có ý nói thôi đau không làm nữa. Từ lúc đó, dây thần kinh trên đầu của bà giống như bị chạm mát dây, luôn miệng nói Oh, No. Ai hỏi gì cũng Oh, No. Đúng sai gì cũng Oh, No.

Tôi cho ông biết, bộ não bà bây giờ như  một tờ giấy trắng chưa có chữ nào, những dữ kiện (data) cũ còn cất trong não, nhưng bà  chưa có thể mở đuợc, bây giờ ông phải lấy một cuốn sổ, dạy bà học nói lại từ đầu những từ cần thiết thông dụng hằng ngày cho bà  lập đi lập lại như: Đây là ai, là Jean, là em gái, là anh, là chồng, là con, là  bạn, là mẹ, là dì… muốn ăn, muốn đi tiểu, uống nước, muốn ngồi, muốn nằm… cho bà  nghe băng nhạc, nghe những tiếng nói của người thân và  bạn bè hỏi thăm để thu vào băng cho bà nghe, cho nghe radio thời sự, tin tức mỗi ngày… để kích thích tế bào não tăng tần số sóng não lên  đến tần số hoạt động tỉnh táo khoảng trên 11 Hertz, thay vì là tần số sóng não trong tình trạng ngủ hôn mê 1-2 Hertz.

Tôi bảo ông cho người đi mua 1 găng đánh box đeo vào tay cho bà, và một nón bảo hiểm đội lên đầu che bộ não cho bà, nếu không, bà quơ tay cử động đụng vào đầu vỡ dập não sẽ chết

Ngày hôm sau thứ hai, tôi đến, ông cho biết buổi chữa của tôi hôm nay, có một bác sĩ, người đã mổ  sọ não cho vợ ông, muốn được xem cách chữa của tôi để ông sẽ quyết định có  thể gắn trả lại hộp sọ cho bà hay không. Khi tôi chữa cho chân tay bà cử động, dạy cho bà dùng hai bàn tay kéo gối lên và yêu cầu y tá cho bà ngồi trên xe lăn đẩy bà ra hành lang đi chơi dạo mát, tôi bảo ông đưa những bức hình kỷ niệm đáng nhớ giữa hai ông bà, đặt câu hỏi cho bà trả lời, mục đích cho bà gợi nhớ ký ức, nhưng chưa được phép nói cho bà biết về tai nạn của bà, ông khoe rằng bà đã nói được nhiều, nhớ được mọi kỷ niệm, tôi bảo trước kia ông bà hay hát chung với nhau bài gì mà bà thích nhất, ông hát cho bà hát theo đi… cứ tập luyện theo thời gian, bà nhớ được gần hết, và bà tập đi…

Bác sĩ mổ sọ não chúc mừng ông bà, và  hứa ngày thứ Năm này, ông ấy sẽ gắn lại cho bà hộp sọ. Một tuần sau bà xuất viện được chuyển sang nhà điều dưỡng phục hồi.

Thấm thoắt đã hơn 8 năm, ngày hôm qua, bỗng nhiên  ông bà đến phòng mạch thăm tôi, ông cho biết  ông bà đã dọn nhà cách xa Montreal 200km, nay có  dịp lên Montreal để thăm lại Master Do và dẫn đến cho tôi một bệnh nhân mới. Bà hiện nay đã phục hồi đi đứng nói năng bình thường như mọi người khác.

Hà Nội, tháng 8 năm 2013
Vương Văn Liêu
Email vvlieu@gmail.com
Mobile 0913558331

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *