Bí pháp luyện đạo – 09 – thực hành luyện thần hườn hư

 

Bát Nương Diêu Trì Cung giáng bút
Từ Huệ chấp bút

Luyện thần hườn hư: phần thực hành

Luyện thần hườn hư là luyện đem chơn thần ra khỏi thể xác và đem chơn thần vào cõi vô vi, tức là đem điểm linh quang về với Đức Chí Tôn.

Đức Chí Tôn có nói: ”Cái xác thiêng liêng này khi còn ở xác phàm thì khó xuất ra lắm, vì nó bị xác phàm kéo níu. Cái chơn thần ấy của Thánh-Tiên-Phật thì huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nếu đắc đạo thì có thể xuất ngoại trước buổi chết mà vân du thiên ngoại. Duy chơn thần ấy mới đặng đến trước mặt Thầy.”

Trong 40 ngày luyện khí hóa thần, quan trọng là đưa khí âm dương từ óc qua Huyền quan khiếu (tức Huệ quang khiếu – con mắt thứ ba). Trong khoảng 10 ngày, không biết ngày nào Huyền quan khiếu mở ra. Nếu Huệ quang khiếu mở ra sớm thì tiếp phần luyện thần hườn hư ngay, không chờ đủ 10 ngày như đã ấn định. Tuy nhiên, nếu Huệ quang khiếu mở chậm, nghĩa là hết 10 ngày đưa âm dương khí từ óc qua Huệ quang khiếu mà Huệ quang khiếu chưa mở ra thì vẫn tiếp tục luyện thêm 10 ngày nữa. Sau khi hết 10 ngày nữa mà Huệ quang khiếu vẫn chưa mở ra, nghĩa là đủ 100 ngày nhập tịnh thì bắt buộc phải xuất tịnh, chờ cơ hội khác, chớ không được ở lại thêm một ngày nữa, dù một ngày cũng không được. Nhưng nếu 10 ngày sau cùng, Huệ quang khiếu mở ra, tức là chơn thần xuất ra được thì tiếp tục luyện qua 10 ngày luyện thần hườn hư. Như vậy là 110 ngày. Đây là trường hợp ngoại lệ.

Luyện thần hườn hư 10 ngày, mỗi ngày 30 phút: 15 phút luyện, 15 phút tịnh.

Trong 15 phút luyện, mở đầu cũng ngồi bán kiết già, làm dấu mật niệm Đức Chí Tôn, cầu xin Đức Chí Tôn thêm sức hiệp thần, cầu xin Đức Hộ Pháp trấn giữ Nê hườn cung. Rồi thì bắt đầu thở bụng, hít thở như phần luyện khí hóa thần. Hít vô cũng tâm niệm: mũi – đơn điền (bụng phình lên) – hỏa hầu – ót – óc – Huyền quan khiếu. Tới Huyền quang khiếu thì hết một hơi hít vô. Hết hít vô thì thở ra, thở ra thì bụng xẹp xuống. Một hơi đầu thì tâm niệm như vậy, nhưng mấy lần sau, chỉ niệm vắn tắt: mũi – Huyền quan khiếu. Mỗi hơi thở ra là một tâm niệm.

Nhiều khi chơn thần xuất ra trong 15 phút luyện, cũng có nhiều khi đến phần tịnh, chơn thần mới xuất ra. Cái khó là khi chơn thần xuất ra là bị xác phàm kéo níu. Bây giờ muốn cho xác phàm không kéo níu nữa, ta phải làm cho xác phàm ngủ quên đi. Luyện và tịnh làm cho xác phàm ngủ quên vậy.

Tịnh là bế hết ngũ giác quan, thở mà không nghe thở. Tâm ý tập trung lại, yên lặng cho tới mức không không. Không không cho thể xác ngủ quên. Khi thể xác ngủ quên trong cái yên lặng không không đó thì tự nhiên bốc lên một ánh sáng. Ánh sáng đó là chơn thần xuất ra. Khi chơn thần xuất ra thì thể xác cũng thức theo. Khi thể xác thức dậy thì có hai sự hiểu biết giống nhau: sự hiểu biết của thể xác và sự hiểu biết của chơn thần. Hiểu biết lẫn nhau để điều khiển lẫn nhau. Chơn thần muốn đi thì điều khiển thể xác. Thể xác muốn về thì điều khiển chơn thần. Điều khiển hổ tương như vậy để cho chơn thần đi ra mà không đi luôn, mà cũng để cho thể xác muốn xuất chơn thần lúc nào cũng được. Câu kinh:”tánh hiệp vô vi thống tam tài chi bí chỉ” là như vậy.

Luyện thần hườn hư là luyện cách làm cho chơn thần xuất ra bất cứ lúc nào ta muốn, và làm cho chơn thần đi thật xa mà trở lại dễ dàng. Được như vậy là luyện thần hườn hư đã thành công.

Khi chơn thần xuất ra rồi, ta luyện cho sợi dây từ khí biến thành làn sóng điện. Như Bát Nương đã nói ở phần giáo lý, bằng cách đi tới đi lui, đi xa đi gần, liên lạc thường xuyên giữa thể xác và chơn thần để cho dây từ khí thun giãn già dặn thêm lên, cho đến khi nào chơn thần đi thật xa mà sợi dây từ khí vẫn còn liên lạc với thể xác, bấy giờ ta mới có thể đi khắp càn khôn vũ trụ.

Muốn đi khắp càn khôn vũ trụ, ta phải cầu xin với Đức  Thượng Phẩm. Khi ấy, Đức Thượng Phẩm chỉ cần điều động cây Long Tu Phiến là chơn thần ta đến nơi theo ý muốn. Cho nên Đức Hộ Pháp có nói khi trấn pháp tại Trí Huệ cung Thiên Hỷ động ngày 14 tháng 12 năm Canh Dần 1950 như sau:

“Trong Trí Huệ cung Thiên Hỷ động có hai món bí pháp trấn giữ, đó là cây Long Tu Phiến của Đức Cao Thượng Phẩm, cây Kim Tiên của bần đạo. Toàn thể ngó thấy không có gì hết, mà trong đó quyền pháp vô biên vô giới. Giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó.”

Đức Hộ Pháp dùng cây Kim Tiên đào độn nguyên khí tức là điển lực càn khôn vũ trụ, đưa vào óc bằng cửa Nê hườn cung, hiệp với chơn tinh từ đơn điền đưa lên làm thành điển lực duy nhất mở đệ bát khiếu tức là Huyền quan khiếu cho chúng ta đoạt đạo.

Khi đoạt đạo, chơn thần mới xuất ra. Khi chơn thần xuất ra rồi, muốn đi đâu lại phải nhờ cây Long Tu Phiến của Đức Thưọng Phẩm là như vậy.

Cây Long Tu Phiến tượng trưng sinh lực, cây Kim Tiên tượng trưng điển lực. Cây Long Tu Phiến điều động tức thời sinh lực càn khôn vũ trụ. Lúc đó tùy theo căn cơ, tuỳ theo duyên phần của nỗi người đoạt đạo và tùy theo nơi mà chơn thần  muốn đến mà sinh lực càn khôn vũ trụ kết thành vân xa, hoặc cầu vồng đưa chơn thần đến đó. Nói thì lâu, nhưng chớp mắt đã tới rồi.

Cảnh nơi cõi thiêng liêng hằng sống huyền diệu vô cùng. Cảnh mà không phải cảnh, vật mà không phải vật; vì nó là sinh lực và điển lực của càn khôn vũ trụ hợp thành. Cho nên tuỳ theo căn cơ và duyên phần, tùy theo mức độ giác ngộ, và còn tuỳ theo chủng tộc, trí thức mỗi người đoạt đạo mà nó hiện ra, rồi còn tùy theo trình độ của mỗi người mà tự hiểu biết.

Lâu đài cung điện nơi cõi thiêng liêng hằng sống không giống như ở thế gian; vì ở thế gian là vật chết, còn ở cảnh thiêng liêng là vật sống, lúc nào nó cũng vận hành, co giãn chớp nhoáng chói lòa.Tùy theo tri thức mỗi người hiểu sao thì hiểu, thấy sao thì thấy. Mặc dù vậy, nó cũng vượt ngoài tầm hiểu biết của con người. Cho nên nếu một kiến trúc sư tài ba nhất thế gian mà thấy cung điện nơi Ngọc Hư cung rồi thì điên đi mà chớ. Bởi tài ba nhất thế gian mà so với Ngọc Hư cung thì không được đến một phần, trong khi Ngọc Hư cung muôn triệu lần hơn- cũng như đem một so với muôn triệu.”Diệu diệu huỳnh kim khuyết, nguy nguy Bạch Ngọc Kinh “là như vậy.

Cho tới hình ảnh nơi thiêng liêng  hằng sống cũng thế. Chỉ một hình ảnh Đức Phật Mẫu mà khi nhìn ai cũng thấy là mẹ của mình-bà mẹ dưới thế gian này. Bà mẹ của mình không nói mà mình biết. “Bất ngôn nhi mạc tuyên đại hóa là như vậy.” Có mà không, không mà có, huyền diệu vô cùng.”Thị không thị sắc, vô vi nhi dịch sử quần linh.” Cho nên vị nào đoạt pháp đặng về cảnh thiêng liêng hằng sống rồi khi trở lại trần gian, họ muốn chết lắm, muốn chết đặng trở lại cảnh thiêng liêng hằng sống cho mau. Về đây đặng hưởng hạnh phúc, cực lạc đời đời. Ham chết lắm, không sợ khổ, tức là giải khổ, thoát khổ, tức là thành Phật rồi vậy.

Khi nhập Vạn Pháp cung hay Trí Huệ cung, những vị nào may duyên đoạt đạo, khi trở lại thế gian, phải bình tĩnh sống và kiên nhẫn sống, sống cho hết mạng căn số kiếp của mình để phụng sự chúng sanh và lập công đoạt vị.

Càn khôn vũ trụ lớn, hàng tỉ tỉ lần lớn hơn, Cái lớn không có tột cùng. Thân thể con người là một càn khôn vũ trụ nhỏ, hàng tỉ tỉ lần nhỏ hơn. Cái nhỏ không có tột cùng. Luyện đạo là để khám phá ra và nói được những phần lớn hơn và nhỏ hơn đó. Các con khám phá và nói ra được tức là các con đắc đạo rồi đó. Người xưa khi luyện đạo thành công rồi, họ biết rõ huyền vi mầu nhiệm của trời đất. Biết để mà biết, chớ không nói ra vì không có ngôn từ để mà nói (bất ngôn nhi mạc tuyên đại hóa). Nếu mà cố nói ra, cố diễn tả một điều gì thì người đời lại cho rằng người đó điên mà thôi. Cũng như các nhà bác học ngày nay, cố giải thích những gì họ mới khám phá ra về vũ trụ không gian với một ngưòi dốt nát ít oi thì họ không thể nào hiểu nổi.

Bổn phận của các con ngày nay, khi đắc đạo rồi, các con phải nói thế nào cho người ta hiểu như các con đã hiểu. Cái khó của các con là đem sự hiểu biết của các nhà bác học về không gian, điện cơ, y khoa, địa lý mà nói với người dốt nát ít oi. Nói cho họ hiểu, làm cho họ hiểu mới khó. Khó nhưng không phải không làm được. Cái khó của Đức Chí Tôn là từ không làm ra có. Cái khó của các con là từ có trở về không. Các con ráng làm đi.

Số người còn lại sau 100 ngày nhập tịnh mà không xuất chơn thần ra được, nghĩa là không đoạt pháp, không đắc đạo, phải bình tĩnh lấy công tâm mà xét nét lại coi:

1-     Có đủ tam lập hay một phần trong tam lập chưa?

2-     Có giữ đúng trường chay tuyệt dục không ? (dục ở đây có nghĩa là tư tưởng dục tình)

3-     Có bỏ lục dục thất tình không ? (có nghĩa là muốn, tức là nhơn dục)

4-     Có tập thể dục mỗi ngày 2 lần không ?

5-     Có hiểu rõ ràng từng chữ, từng câu, từng ý nghĩa trong bí pháp luyện đạo của Bát Nương không?

6-     15 phút luyện có thở bụng đầy đủ không ? Có một vài lầm lẫn thở phổi không ?

7-     Khi niệm, có tâm niệm từ chặng để đưa hơi từ mũi-phổi-đơn điền-hỏa hầu-ót-óc-huyền quan khiếu không ?

Nếu có một vài lần sai trái hoặc một vài lần thiếu sót thì hãy đọc kỉ lại tài liệu bí pháp luyện đạo của Bát Nương, ghi nhớ rõ ràng từng nét một, rồi chờ cơ hội khác làm lại một lần nữa. Chỉ trừ khi nào người hành pháp được giảng sư cho xuất tịnh vì lý do cơ thể không hợp với phương pháp luyện đạo này, thì không làm lại một lần nữa.

Sau khi đủ 100 ngày, làm lễ xuất tịnh rồi, người đoạt pháp có quyền định đoạt bổn phận họ đối với Đức Chí Tôn và đối với chúng sanh để lập công đoạt vị cao hơn nữa. Có người không đoạt pháp cũng có một sự sáng suốt vô cùng, gần như sự sáng suốt của các nhà bác học.

Còn những nhà bác học ngày nay trên thế giới, nếu họ may duyên gặp đựợc bí pháp luyện đạo của Bát Nương, rồi họ thành khẩn tin tưởng và quyết tâm thực hành đúng 100 ngày. Mặc dầu họ không xuất chơn thần ra được như những người đoạt pháp đoạt đạo, nhưng họ sẽ có một sự sáng suốt phi thường và nhờ đó mà họ sẽ có được những thành quả mỹ mãn trên mọi lĩnh vực nghiên cứu.

Lời dặn riêng cho những vị giảng sư ở Trí Huệ Cung hay Vạn Pháp Cung

Khi nào người hành pháp đến phần luyện tinh hóa khí mà nơi đơn điền có hơi đau ngấm ngầm, và phần luyện khí hóa thần có hơi nhức xương sống, hoặc nhức đầu, hoặc lùng bùng lỗ tai thì cho xuất tịnh ngay. Sau khi xuất tịnh thì mọi chứng đau này không còn nữa. Sở dĩ có những chứng này là vì cơ thể của họ không hợp với cách luyện tam bửu, chứng tỏ người hành pháp ít có căn cơ nên khó mà luyện tập.

Bí pháp luyện đạo của Bát Nương là phương pháp rốt ráo, không có phương pháp nào khác. Nó có giá trị tuyệt đối, nghĩa là từ nay về sau, lúc nào tu luyện cũng được, không thay đổi gì nữa.

Ai ai cũng có thể luyện tam bửu, nhưng luyện được hay không là do duyên phần của mỗi người và do lòng thành khẩn, tín ngưỡng tuyệt đối của mỗi người.

Kỉ Mùi 1979

(Hết)

There is no unique category with the slug 'cao-dai'. Please insert a valid slug.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *