Bí pháp luyện đạo – 06 – vị tha là trời, vị ngã là chúng sanh

Dieu et Humanité, Amour et Justice.

Bát Nương Diêu Trì Cung giáng bút
Từ Huệ chấp bút

Đứng giữ bốn cột Long Hoa, nguớc lên trần, ta thấy có vẽ một cái cân nhỏ giống như cân tiểu ly. Cân này nằm trên quả địa cầu. Trên cán cân có một bàn tay thiêng liêng cầm cân nảy mực. Đó là cân công bình thiêng liêng. Đức Chí Tôn dùng cân này để cân tội phước mà định ngôi vị cho cả chúng sanh. Bước tới một bước nữa, ta thấy tượng tam Thánh.

– Người thứ nhất: ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức Trạng Trình, văn hào Việt Nam.

– Người thứ hai: ông Tôn Trung Sơn, tức Tôn Dật Tiên, nhà cánh mạng Trung Hoa.

– Người thứ ba: Nguyệt Tâm chơn nhơn, tức ông Victor Hugo, văn hào nước Pháp.

Trong thời hạ ngươn tam chuyển, Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Ba vị này đại diện cho nhơn loại kí với Đúc Chí Tôn một hòa ước, nói cho đúng là một giao ước. Nhưng lạ thay, bản giao ước này chỉ có một điều khoản mà thôi: đó là công bình và bác ái.

Trong hình, ta thấy ông Tôn Dật Tiên cầm nghiên mực, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cầm bút lông mèo viết hàng chữ Nho: Thiên thượng- Thiên hạ, Bái ái- Công bình. Thiên thượng là Trời trên, là Đức Chí Tôn. Thiên hạ là Trời dưới, là chúng sanh.”Thiên thượng -Thiên hạ” tức là Thượng Đế và nhân loại.

Kế đó, ông Victor Hugo cầm bút lông chim viết hàng chữ Pháp: Dieu et Humanité, Amour et Justice. Nghĩa là: Trời và Người, Bác ái và Công bình.

Nguyên bức tượng này có nghĩa chung là: Thượng Đế và nhơn loại giao hẹn với nhau rằng: nhơn loại thương yêu nhau và mọi người bình đẳng trước Thượng Đế. Đối lại, nếu nhơn loại làm đúng điều khoản này thì Thượng Đế sẽ  lập ngôi vị, đẳng cấp thiêng liêng cho cả chúng sanh.

Hội Long Hoa tức là chúng sanh hội hợp lại cho Đức Chí Tôn xét công định vị. Cả nhơn loại, ai có thương yêu thì có ngôi vị. Thương yêu càng nhiều, ngôi vị càng cao. Câu Thánh ngôn: “Sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh” là như vậy.

Qua khỏi Hiệp Thiên đài, thêm 9 nấc nữa thì  vào Cửu Trùng đài. Mỗi nấc cao cách nhau 2 tấc. Cửu Trùng đài tượng trưng cho thể xác Đức Chí Tôn. Cửu Trùng đài là Cửu Thiên Khai Hóa mà cũng là cửu phẩm Thần Tiên. Ngôi vị của chúng sanh được ấn định trên 9 nấc này. Trước khi bước lên nấc thứ nhất, ta thấy ngai thất đầu xà của Đức Hộ Pháp. Ngai thất đầu xà này là bí pháp luyện đạo mà Đức Chí Tôn ban cho chúng sanh, ban cho cửu nhị ức nguyên nhân, tức là 92 ức nguyên nhân.( Bát Nương đã nói ngai thất đầu xà ở phần phía trước).

Chín nấc Cửu Trùng đài, mỗi nấc cao hơn nhau hai tấc. Đó là huyền vi mầu nhiệm của trời đất. Mỗi nấc có hai cột rồng hai bên. Cột rồng lớn đứng trên bông sen lớn ngụ ý Long Hoa đại hội. Có một điều đặc biệt là: nếu mỗi nấc cao hơn nhau 2 tấc, dĩ chí nấc thứ 9 phải cao hơn nấc đầu tiên là 1m8. Vậy mà đứng tại Hiệp Thiên đài ngó vào Bát Quái đài, ta thấy mỗi nấc cũng mỗi cao, chỉ có những đầu rồng trên những cây cột từ trong ra ngoài lại bằng nhau. Nếu lấy thước đo thì đầu rồng này vẫn cao hơn đầu rồng kia 2 tấc. Đó là huyền vi mầu nhiệm của trời đất.

Tạm thời Bát Nương cho một phương trình là:

               9 x 2 x 2 x 2

                      12

Con số 12 là con số khóa của môn toán học mà cũng là con số riêng của Thầy. Cúng Thầy 12 lạy là như vậy. Con số 6 là số mà về sau này sẽ có những nhà khoa học và toán học giải rõ. Cũng như Kim Tự Tháp của Ai Cập đã có những nhà toán học lấy kích thước của những viên đá xây nền mà giải ra được những lời tiên tri của thế hệ trước về những gì xảy ra cho thế hệ sau.

Lời nói của Đức Chí Tôn, ở đâu cũng có những lời nói rõ ràng như những câu liễn trước chánh môn và trước cửa Hiệp Thiên đài. Mặc dầu rõ ràng nhưng ý nghĩa rất thâm sâu, mới đọc qua chưa chắc đã hiểu hết. Ngoài ra, còn có những lời nói tiềm tàng trong các hình ảnh mà ta thấy đầy dẫy trước Hiệp Thiên đài, trong Cửu Trùng đài và Bát Quái đài.

Ví dụ: tại Cửu Trùng đài, trên những plafond dù (plafond hình mái vòm), ta thấy có 6 con rồng tranh nhau một quả châu. Hình ảnh này ngụ ý câu kinh:” Thời thừa lục long, du hành bất tức “. Ngoài ra, còn có nghĩa là đền thánh được xây trên một khoảng đất địa linh, phía dưới có 6 con rồng đoanh lại, một đầu đưa ra ao hồ, một đầu đưa ra suối vàng, còn 4 đầu kia đưa ra 4 hướng đông-tây-nam-bắc.

Còn nữa,… còn rất nhiều hình ảnh tượng trưng cho lời nói của Đức Chí Tôn.

Khi ta đến nấc thứ 9 Cửu Trùng đài, ta thấy một ngai của Giáo Tông, ba ngai của Chưởng Pháp, ba ngai của Đầu Sư. Bảy ngai này tượng trưng cho nhơn đạo của con người. Qua khỏi bảy ngai này là vào cung đạo. Cung đạo là nơi để Hộ Pháp và chức sắc Hiệp Thiên đài vào làm lễ Đức Chí Tôn, mà cũng là nơi các đấng thiêng liêng giáng cơ dạy đạo.

Đứng tại cung đạo ngó lên trần, ta thấy một tấm bảng hình quả trám, trong đó có một đầu người tượng trưng cho huyền quang khiếu, một cách tay cầm bút túc là chấp bút, một Thiên nhãn, những mẫu tự A-B-C, một bộ đại ngọc cơ, một tiểu ngọc cơ…Đó là phương tiện giao tiếp giữa hữu hình và vô hình, đó là những lời tiên tri tiềm tàng ẩn hiện. Đồng thời ta ngó vào Bát Quái đài, thấy một quả càn khôn có ba ngàn tinh tú, bên tả có nhựt, bên hữu có nguyệt. Đó là hình ảnh tượng trưng giaó lý của Đức Chí Tôn dạy về thiên đạo, dạy về sự mầu nhiệm của càn khôn vũ trụ. Khi chúng ta đoạt pháp, đạt đạo, tự khắc chúng ta sẽ biết những bí pháp này một cách dễ dàng.

Còn nữa, Đức Chí Tôn còn nói nữa. Nếu ta lên phía trên cửa Hiệp Thiên đài, ta thấy trên chót của lầu chuông, lầu trống có hai giỏ hoa lam. Trên nóc Cửu Trùng  đài có Nghinh Phong đài, trên chót của Nghinh Phong đài có một con long mã đứng trên quả địa cầu, đầu của nó hướng về bản đồ Việt Nam. Sau cùng trên chót Bát Quái đài có ba vị Phật là:Brahma, Civa, Christna. Ba vị này hướng về ba phía đông-nam-bắc, còn hướng tây thì để trống. Những hình ảnh này là lời tiên tri của Đức Chí Tôn, khi đoạt đạo thì ta mới biết.

Đền thánh hàm chứa rất nhiều bí mật. Sau này, người đời khám phá ra, thì chừng đó đền thánh lại càng linh thiêng và cao quí hơn. Những bí mật này, chính Bát Nương cũng không được nói ra. Đức Chí Tôn để cho nhơn loại khám phá ra mới có giá trị. Bát Nương chỉ tiết lộ được hai điều:

-Thứ nhất: đầu con long mã hướng về bản đồ nước Việt Nam ứng vào câu Thánh ngôn của Đức Chí Tôn: Việt Nam tuy nhỏ nhoi hơn vạn quốc mà về sau làm chủ vạn quốc mới là kì.

-Thứ hai: trong Bát Quái đài, phía dưới có một cái hầm, trên hầm có một cây trụ để đỡ quả càn khôn.Từ dưới cung đạo bước lên, trụ này có 12 nấc, mỗi nấc là một lời tiên tri bí mật. Có một nấc, Đức Chí Tôn tiên tri ngày, giờ, tháng, năm mà Đức Chí Tôn sẽ mở hội Long Hoa tại thế. Ngày giờ này chỉ có nhà bác học uyên thâm mới khám phá ra được.

Đức Chí Tôn còn nói rất nhiều, nhưng vì nhơn loại thiếu tin tưởng nên không nghe, không thấy, không biết.

Đối với chúng ta, mỗi ngày đến đền thánh, vào trong lòng của Đức Chí Tôn, ngồi ngâm nga đọc kinh mà vẫn có nhiều người chưa biết Đức Chí Tôn đã nói những gì. Nội một câu:”Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp” mà đã có nhiều người chưa hiểu rồi. Phải có thành khẩn, phải có tín ngưỡng hiệp lại mới có đạo. Mà đạo là gì ? Đạo là không mà có, có mà không. Trong cái không có cái có, trong cái có có cái không. Theo sự hiểu biết tầm thường của chúng ta thì không thể nào hiểu đạo được. Phải tin tưởng rằng: trong cái không sẽ có cái có. Tin tưởng tức là tín ngưỡng. Có tin tưởng rồi phải quyết tâm tìm cho ra cái có, mà quyết tâm là thành khẩn vậy.

Các nhà khoa học ngày nay tin tưởng rằng ngoài trời đất này còn có nhiều địa cầu nữa. Họ tin tưởng như vậy cho nên họ quyết tâm tìm tòi. Và nhờ quyết tâm tìm tòi mà họ chứng minh được có 9 quả địa cầu nữa. Họ đặt tên là: mộc tinh, hỏa tinh, thủy tinh, kim tinh… Cũng nhờ tìm tòi mà họ khám phá ra nguyên tử năng và siêu vi khuẩn… Trong cái không mà có cái có là như vậy. Nếu chúng ta quyết tâm tìm tòi, chúng ta cũng tìm được đạo vậy. Mà có đạo tức là có Đức Chí Tôn. Có Đức Chí Tôn thì phải tin lời Đức Chí Tôn.

Nội một câu:” Thầy là các con, các con là Thầy”, Đức Chí Tôn đã nói lên trọn vẹn quyền năng của ngài và bổn phận của chúng ta. Với từ ngữ hiện nay, nếu ta lấy câu này làm luận án cho môn thần học thì chúng ta có thể viết thành cuốn sách dài hàng mấy ngàn trang cũng chưa đủ. Để Bát Nương triển khai một đoạn làm mẫu cho các con thấy giáo lý Cao Đài cao siêu rộng rãi như thế nào:

“Thầy là các con”. Thầy là ông trời, các con là chúng ta. Ông trời muốn gì ? Chúng ta muốn gì ? Chúng ta muốn hưởng thụ, tức vị ngã. Ông trời muốn cho, tức vị tha. Muốn cho nghĩa là muốn thêm phước giảm tội. “Ngọc Hoàng tích phước hựu tội Đại Thiên Tôn” là như vậy.Chúng ta vì vị ngã mới sanh ra tham-sân-si. Vị tha sanh ra hỉ-ái-lạc. Tham-sân-si phải luân hồi chuyển kiếp. Hỉ-ái-lạc sẽ về cực lạc niết bàn. Luân hồi chuyển kiếp thì khổ. “Thầy là các con” tức là ông trời muốn làm cho chúng ta hết khổ. Vinh diệu thay cho hỉ-ái-lạc ! Chỉ có hỉ-ái-lạc mới làm được việc này, chỉ có Đức Chí Tôn mới làm được việc này.

Bây giờ đến câu ”Các con là Thầy”. “Các con” đây là cả tín đồ Cao Đài và cả chúng sanh. Chúng ta là trời, Đức Chí Tôn bảo chúng ta làm trời, tức là Đức Chí Tôn bảo chúng ta vị tha, đừng vị ngã. Đức Chí Tôn bảo chúng ta hỉ-ái-lạc chớ đừng tham-sân-si. Đức Chí Tôn bắt chúng ta thọ khổ cho chúng sanh hết khổ. Khi mở đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn  nói: “Thầy là cha của sự thương yêu, mà sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh”. Chỉ có thương yêu mới vị tha, không vị ngã. Chỉ có thương yêu mới dám thọ khổ cho chúng sanh hết khổ. Bao giờ chúng ta thọ khổ thì cả chúng sanh hết khổ vậy.

Tóm lại: vị tha là trời, vị ngã là chúng sanh.

Nếu ai có căn cơ cao trọng, khi đọc tới đây thì đã ngộ đạo rồi, mà ngộ đạo là thành Phật, là giải thoát đó vậy. Xưa kia, khi mới xuất gia tầm đạo, Đức Thích Ca theo 4 vị sư lên núi tu theo lối khổ hạnh để thành Phật, tự ép mình đến nỗi gần chết mà vẫn không thành Phật. Lúc đó, Đức Thích Ca vẫn còn vị ngã, nghĩa là vẫn còn muốn thành Phật. Đến khi Đức Thích Ca xuống núi, vào rừng ngồi dưới cội bồ đề mà nguyện rằng: “Tôi quyết tìm chân lý giải khổ cho chúng sanh. Nếu không được thì tôi sẽ không ra khỏi chỗ này”. Lúc đó, Đức Thích Ca lại thành Phật, vì ngài không còn vị ngã nữa. Lo cho chúng sanh tức là vị tha đó vậy.

Đó, Bát Nương triển khai một đoạn cho các con làm mẫu để mở trí huệ thêm. Bây giờ các con triển khai nữa. Ví dụ, muốn được” Thầy là các con, các con là Thầy”, Đức Chí Tôn buộc chúng ta mỗi ngày phải cúng 4 thời là: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu mà không cúng vào những thời khác. Bởi Tý, Ngọ là chánh âm , chánh dương; còn Mẹo, Dậu là giao điểm của âm dương; mà âm dương hòa hiệp phát khởi càn khôn. Những giờ này là giờ anh linh hiển hách, cũng như ở thế gian trong những giờ làm việc mới có người làm việc.

Chúng ta mỗi ngày phải cúng 4 thời. Trước hết để xưng tụng công đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và công đức của Phật, Tiên, Thánh, Thần; kế đó là dâng tam bửu của chúng ta cho Đức Chí Tôn và sau cùng là đọc ngũ nguyện. Đặc biệt, dâng tam bửu là thi hành câu”Thầy là các con, các con là Thầy” đó vậy.

Tới đây, nếu ai có căn cơ cao trọng thì đã hiểu, đã ngộ đạo, tức là thành Phật. Thành Phật là khác, còn luyện tam bửu để đoạt pháp, đoạt đạo là khác.

Như vậy, các con đừng nên sợ giáo lý Cao Đài eo hẹp mà nên sợ rằng các con không đủ khả năng diễn tả tột cùng giáo lý Cao Đài mà thôi. Nếu các con làm được như vậy, nghĩa là các con diễn tả tột cùng giáo lý Cao Đài thì các con sẽ là Thầy đó vậy.

Bát Nương hi vọng sau những lần nhập Vạn Pháp cung hay Trí Huệ cung, các con sẽ có những người bạn hoặc chính các con có đủ khả năng làm được việc ấy.

Kỉ Mùi 1979

(Còn nữa)

There is no unique category with the slug 'cao-dai'. Please insert a valid slug.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *