Bí pháp luyện đạo – 01 – giới thiệu

Cổng Trí Huệ Cung

Bát Nương Diêu Trì Cung giáng bút
Từ Huệ chấp bút

Giới Thiệu

Tài liệu này do Bát Nương Diêu Trì Cung giáng dạy cho Từ Huệ (Hiền Tài Nguyễn văn Mới, Tốc Ký Viên của Đức Hộ Pháp) qua hình thức chấp bút. Bát Nương dạy Từ Huệ đem về hiến tặng Hội Thánh Tây Ninh làm tài liệu học tập cho Vạn Pháp Cung và Trí Huệ Cung. Từ Huệ đã thực hiện đúng theo lời dạy của Nữ Phật. Các vị chức sắc cao cấp đã rất nhiệt tình tiếp nhận tài liệu này, nhưng vì tình thế Đạo lúc đó rất khó khăn, không biết đến bao giờ mới có thể phổ biến cho các Tịnh Thất được. Cho nên các vị chức sắc xin hẹn đến khi nào có đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Cho đến nay, đã là 2011, cơ đạo vẫn chưa biến chuyển thuận lợi. Từ Chơn xin mượn mạng lưới internet, trước là phổ biến đến toàn thể tín đồ Cao Đài Giáo tài liệu quí giá này; sau là lưu trữ cho những thế hệ sau này nghiên cứu và phát triển.

Tác giả không mong gì hơn là góp chút sức nhỏ nhoi của mình vào bộ máy vũ trụ mênh mông đang vận hành của Đức Chí Tôn. Cầu xin Đại Từ Phụ ban hồng ân cho tất cả con cái của Ngài.

Thay lời tựa

Lời của Bát Nương sau khi quyển BÍ PHÁP LUYỆN ĐẠO được hoàn tất :

Người có căn cơ cao trọng khi đọc quyển này cảm thấy say mê hứng thú. Đọc đi đọc lại nhiều lần, cân nhắc kĩ càng , sẽ thấu đáo đến tận cùng chơn lý, rồi hạ quyết tâm hành pháp một cách trang nghiêm, siêng năng. Kết quả sẽ đạt thành ý nguyện.

Kẻ không có duyên phần khi đọc quyển này cảm thấy hoang mang lo lắng, nghi ngờ bị mê hoặc bởi tả đạo bàng môn, nên trong khoảnh khắc lãng quên không luyến tiếc.”

Bát Nương Diêu Trì Cung

Đêm 14 rạng 15 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)

Bát Nương mừng các con.

Thể theo lời xin của các con, mà cũng để làm tròn lời hứa của Bát Nương, kể từ ngày nay, mỗi đêm Từ Huệ chấp bút, Bát Nương sẽ chỉ dạy về bí pháp luyện đạo – tức là luyện tam bửu hay luyện tinh khí thần hiệp nhất.

Từ xưa đến nay, Đức Hộ Pháp chưa dạy cho ai đến tận tường rốt ráo. Nếu có cũng chỉ phớt qua, chờ vào Trí Huệ Cung mới dạy thực sự. Bát Nương cũng vậy, Bát nương chưa hề dạy cho ai. Nay các con may duyên hữu phước, mà cũng bởi tiền căn của các con nên Bát Nương được sự đồng ý của Đức Hộ Pháp, về chỉ dạy các con bí pháp luyện đạo. Sau này, Từ Huệ về Vạn Pháp Cung chỉ lại cho các chơn linh cao trọng muốn đến đó để luyện đạo.

Tại sao phải về Vạn Pháp Cung mới luyện đạo được ?

Bởi nơi đó là khu địa linh, dương khí rất nhiều, tiếp điển dễ dàng nên Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp đã sẳn chọn và dành riêng cho các chơn linh cao trọng thuộc nam phái luyện đạo.

Từ nay, mỗi đêm Bát Nương sẽ chỉ dạy một ít. Sau cùng, Từ Huệ sẽ soạn thành từng tập để theo đó mà luyện đạo.

Luyện đạo không phải dễ mà cũng không phải khó. Khó dễ tại tâm. Phật tại tâm là như vậy.

Luyện đạo còn tùy thuộc rất nhiều vào tiền căn của các con nữa. Các con có tiền căn cao trọng thì mới gặp chơn sư chỉ dạy bí pháp luyện đạo tận tường, cao siêu rốt ráo. Nhưng khi gặp rồi, các con còn phải kiên tâm, trì chí, đeo đuổi tới cùng. Có như vậy mới không uổng một kiếp tu.

Luyện đạo là con đường thứ ba của đại đạo. Con đường thứ nhất là đi theo hội thánh Cửu Trùng Đài, phổ độ chúng sanh, lập công với Đức Chí Tôn để về với Đức Chí Tôn sau khi chết. Con đường thứ hai là đi theo hội thánh Phước Thiện, lo nuôi sống thi hài chúng sanh, lập đức với Đức Chí Tôn để về với Đức Chí Tôn sau khi chết. Con đường thứ ba là con đường tu chơn do hội thánh Hiệp Thiên Đài dìu dắt. Con đường này dành cho những vị nào có tiền căn cao trọng, theo đó mà luyện đạo để về với Đức Chí Tôn trước khi chết.

Luyện đạo không khó, chỉ khó ở chỗ các con có làm được hay không, có tín ngưỡng tuyệt đối nơi Đức Chí Tôn hay không. Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp là như vậy.

Bởi Đạo huyền vi, mầu nhiệm của trời đất là quyền năng thiêng liêng của Đức Chí Tôn điều khiển càn khôn vũ trụ. Đạo là ngôi vị thiêng liêng của nguyên nhân, quỉ nhân, hóa nhân. Cho nên muốn luyện đạo, biết đạo, thấy đạo, chúng ta buộc phải có một tấm lòng thành khẩn và tín ngưỡng tuyệt đối vào Đức Chí Tôn. Rồi nhiên hậu, Đức Chí tôn sẽ cho chúng ta toại nguyện.

Cũng như các khoa học gia ngày nay chuyên về không gian vũ trụ thành khẩn tin tưởng rằng: ngoài không gian vũ trụ bao la kia, còn có hàng tỉ tỉ thiên thể khác. Họ tìm cách đến nơi để quan sát, nhiên hậu họ cũng đến được. Họ đến bằng thể xác hữu hình, bằng phương tiện khoa học. Ta đến bằng chơn thần huyền diệu, bằng bí pháp luyện đạo, bằng phương tiện tâm linh. Duy có khác về phương cách nhưng kết quả không có gì khác nhau.

Luyện đạo không phải một ngày một bữa, mà chia ra nhiều đợt, mỗi đợt 100 ngày. Nếu đợt này không có kết quả thì nghỉ ngơi ít lâu, rồi làm lại đợt sau. Làm hoài như vậy cho đến khi nào có kết quả mới thôi

Ngày xưa, luyện đạo thì nhiều mà đạt đạo rất ít. Chỉ vì ta thiếu kiên tâm trì chí, nhiều khi gần thành công lại bỏ cuộc.

Đêm 15 rạng 16 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)

Bát Nương mừng các con.

Đêm nay, Bát Nương giảng tiếp về bí pháp luyện đạo.

Trước khi luyện đạo phải qua hai thời kỳ là nhơn đạo và thiên đạo. Nhơn đạo là lo cho mình, thiên đạo là lo cho người khác. Hai phần này lo xong tức là đã trả nợ tiền khiên và nợ hiện tại. Nợ tiền khiên tức là nợ chúng ta vay từ muôn kiếp trước. Nợ hiện tại tức là nợ sinh thành dưỡng dục, nợ ngọn rau tấc đất, nợ cố tình hay nợ vô tình.

Nhơn đạo: nam thì tam cang, ngũ thường; nữ thì tam tùng, tứ đức.

Thiên đạo: nam nữ đều phế đời hành đạo, phổ độ chúng sanh, hoằng khai đại đạo

Đức Hộ Pháp đã có nói:” Muốn vào Trí Huệ Cung, mọi người buộc phải đủ tam lập hoặc một phần trong tam lập.” Tam lập là gì ? Là lập công, lập đức, lập ngôn. Ba phần này mục đích cũng để trả nợ tiền khiên. Trả xong nợ này, các con mới mong lập ngôi vị nơi cõi thiêng liêng hằng sống.

  1.     Lập công:

            – Lập công đối với cá nhân: nam tròn tam cang, nữ tròn tam tùng; tức là lo cho mình.

            – Lập công đối với hội thánh: nam hay nữ đều theo hội thánh Cửu Trùng Đài, phổ độ và giáo hóa chúng sanh. Ay gọi là lập công với Đức Chí Tôn.

  1.     Lập đức:

           – Lập đức đối với cá nhân: nam tròn ngũ thường, nữ tròn tứ đức; tức là làm tròn bổn phận đối với người khác.

           – Lập đức đối với hội thánh: nam hay nữ đều theo hội thánh Phước Thiện làm ra của cải để cứu vớt chúng  sanh, nuôi sống thi hài toàn đạo. Ay gọi là lập đức với Đức Chí Tôn.

  1.     Lập ngôn:

           Nam hay nữ đều dùng lời nói của mình thuyết đạo hay là viết sách dạy dỗ chúng sanh biết hồi đầu hướng thiện, tu tâm dưỡng tánh, biết lập công, lập ngôn, lập đức như mình; tức là dìu dắt vạn linh hiệp nhất linh.

Mọi người buộc phải có đủ tam lập hoặc một phần trong tam lập mới được vào Trí Huệ Cung hoặc Vạn Pháp Cung; ngoại trừ hội thánh ban ân riêng. Luyện đạo ở vào tuổi 40 đến 60 thì tốt nhất. Khi vào Trí Huệ Cung hoặc Vạn Pháp Cung phải có thời khóa biểu rõ ràng mới có kết quả.

Bí pháp luyện đạo – Phần giáo lý

Luyện đạo tức là luyện tam bửu.

Tam bửu là gì ? Là Tinh, Khí, Thần.

Vậy luyện tam bửu là luyện tinh khí thần hiệp nhất. Ngày xưa khi luyện đạo,  người ta nói: luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hườn hư là như vậy.

TINH:

Tinh là thể xác của các con. Người ta gọi là thể xác, xác phàm, thân thể hay là gì gì đi nữa thì cũng là thể xác của các con mà thôi. Thể xác của các con là vật thể hữu hình, có thể thấy được, sờ được. Nó gồm có đầu, mình và tay chân; bên trong còn có ngũ tạng, lục phủ nữa. Khoa học ngày nay có thể giải phẫu từng bộ phận nhỏ của cơ thể người ta. Họ dùng kính hiển vi điện tử xem xét từng bộ phận, từng tế bào nhỏ li ti. Từ đó họ rút ra kết luận: thân thể người ta gồm hàng tỉ tỉ tế bào hợp lại. Những tế bào này hoạt động, vận hành từng giờ, từng phút, từng giây. Chúng cũng thay đổi từng giờ, từng phút, từng giây để cung cấp sự sống cho con người.

Thật ra những tế bào này chịu ảnh hưởng của thời tiết: nóng, lạnh, gió, mưa của trời đất. Chúng hấp thụ tinh ba của vật chất  để sống. Cái sống của chúng có thanh và trượt. Thanh-trượt tùy theo vật chất đưa vào. Nếu vật chất thanh thì thể xác thanh, vật chất trượt thì thể xác trượt. Vật chất thanh thì con người khôn ngoan, cường liệt. Vật chất trượt thì con người đần độn, ngu si, tư tưởng không ra khỏi được tứ đổ tường -tức là tửu, khí, tài, sắc. Vật chất thanh gồm tinh ba ngũ cốc, thảo mộc. Vật chất trượt gồm tinh ba cá thịt, kể cả tôm, cua, sò, ốc, trứng. Thể xác thanh thì luyện đạo dễ dàng. Vậy nếu thể xác trượt thì ta phải làm cho hết trượt thì mới luyện đạo được.

KHÍ:

Khí là trí não của con người, gồm có hai phần: hữu hình và bán hữu hình

Phần hữu hình: có đầu và óc. Bộ óc là phần chỉ huy sự hiểu biết của con người. Óc ở trong xương sọ, trên là mỏ ác. Bên trong, giữa mỏ ác và óc là nê hườn cung. Phía trước là trán. Bên trong, giữa óc và trán là huệ  quang khiếu. Huệ quang khiếu ở chỗ giáp mí giữa hai con mắt.

Phần bán hữu hình: là nê hườn cung và huệ quang khiếu. Hai phần này không thấy mà biết có. Cũng giống như không khí của trời đất. Không khí không thấy mà biết có là nhờ gió, mây. Nê hườn cung và huệ quang khiếu không thấy mà biết có là nhờ có sự sáng suốt khác thường của những bậc vĩ nhân và những vị Bồ Tát.

THẦN:

Thần là linh hồn của chúng ta, là sự sống của con người. Phần này hoàn toàn vô vi, không sờ thấy được; nhưng ta biết có vì không có linh hồn con người phải chết.

Tóm lại:

Tinh là thể xác của con người. Không có thể xác thì không thể có con người hiện tại được. Có thể xác mà không có linh hồn thì con người là một khúc cây không hơn không kém. Có linh hồn là có sự sống. Có thể xác, có linh hồn mà không có trí não tức là người điên. Có trí não, con người mới khôn ngoan, sáng suốt. Con người nếu thiếu một trong tam bửu thì là người điên hoặc là người chết. Vì vậy, ba món báu đó là bửu bối vô giá.

Bây giờ đến việc luyện tam bửu, tức là:

– Luyện tinh hóa khí: luyện thể xác biến thành hơi (công tham Thái Cực).

– Luyện khí hóa thần: luyện hơi xuất chơn thần (phá nhứt khiếu chi huyền quang).

– Luyện thần huờn hư: làm cho chơn thần về với Đức Chí Tôn (tánh hiệp vô vi , thống tam tài chi bí chỉ).

Kỉ Mùi 1979

(Còn nữa)

There is no unique category with the slug 'cao-dai'. Please insert a valid slug.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *