Bác sĩ từ Lhasa – 11 (hết) – bom

Chương 11: Bom

Những ngày trôi qua lê thê với linh hồn héo úa buồn tẻ, kéo dài hàng tuần, rồi trải dài hàng tháng, hàng năm. Ít nhất thì cũng xao lãng được cảnh sống đơn điệu hàng ngày bằng việc điều trị cho những người bị đau đớn. Một hôm, lính gác hối hả đến với những bó giấy trong tay, vẫy tay gọi một tù nhân chỗ này, một tù nhân chỗ kia. Tôi ở trong danh sách đó. Chúng tôi tập hợp trên một bãi đất đối diện với những túp lều của chúng tôi. Chúng tôi bị giữ trong nhiều giờ chỉ để đứng yên, và sau đó, khi đã sắp hết ngày, tên chỉ huy đến phía trước chúng tôi và nói, “Những kẻ gây rối chúng mày, những kẻ đã xúc phạm Hoàng Đế của chúng tao, chúng mày sẽ đi đến nơi khác để xử lý thêm. Chúng mày sẽ rời khỏi đây trong mười phút nữa.” Hắn quay ngoắt người và đi khỏi. Chúng tôi đứng đó hoàn toàn choáng váng. Sẵn sàng trong mười phút ư? Phải, ít nhất thì chúng tôi cũng không có tài sản gì. Tất cả những gì chúng tôi cần phải làm là nói lời chào tạm biệt và sau đó quay trở lại chỗ tập trung.

Chúng tôi sẽ bị đưa đến một trại giam khác ư? Chúng tôi suy đoán về các loại trại, nơi có thể sẽ bị đưa đến. Nhưng, cũng như mọi tình huống không thể tránh khỏi này, không ai chắc chắn được cả. Cuối cùng, sau mười phút, tiếng còi lại vang lên, những tên lính gác lại vội vã đến vây xung quanh, và khoảng ba trăm người chúng tôi bị lùa đi. Đi qua cổng ra bên ngoài; chúng tôi luẩn quẩn với những suy đoán và ngạc nhiên, trại giam tới là đâu? Chúng tôi bị xem là những kẻ phá rối. Chúng tôi không bao giờ tin vào những lời dối trá của người Nhật. Chúng tôi biết chúng là những kẻ như thế nào. Mặc dù chúng tôi biết rằng bất cứ nơi chúng tôi sẽ đến là ở đâu thì cũng là trại giam chả dễ chịu chút nào.

Chúng tôi bước đi vượt qua những người lính đang đi đường khác. Họ xuất hiện trong tình trạng rất nực cười. Không thắc mắc, chúng tôi nghĩ, bởi vì theo những tin tức đến được với chúng tôi thì quân Nhật đang giành được chiến thắng khắp mọi nơi. Vừa mới đây, chúng tôi nghe nói rằng họ sẽ kiểm soát toàn bộ thế giới. Thật sai lầm! Lúc đó, mặc dù chúng tôi chỉ có thể tin vào những gì người Nhật nói với chúng tôi, chúng tôi không có nguồn tin tức nào khác. Những tên lính hung hăng nhất khi đi ngang qua, chúng không bỏ lỡ cơ hội đánh chúng tôi, đánh đập một cách dữ dội, vô lý, hoàn toàn chỉ để vui khi nghe báng súng nện thình thịch vào cơ thể đang co quắp. Chúng tôi tiếp tục đi, bị thúc đẩy bởi những lời chửi bới của những tên lính gác. Chúng thoải mái sử dụng báng súng. Thường xuyên có những người ốm bị ngã xuống bên vệ đường nơi họ bị lính gác đánh nhừ tử. Nếu họ không thể đứng lên và loạng choạng, có thể được những bạn tù khác dìu, khi đó những tên lính gác liền bước đến và một nhát lưỡi lê đâm sẽ kết thúc sự nỗ lực đó.

Đôi khi lính gác chặt đầu nạn nhân và cắm cái đầu đó vào đầu lưỡi lê của mình.

Sau đó, hắn sẽ chạy lên chạy xuống dọc theo hàng tù nhân khổn khổ, cười nhăn nhở trước cái nhìn kinh hoàng của chúng tôi.

Cuối cùng, sau nhiều ngày lê bước mệt mỏi, kiệt sức, với khẩu phần thực phẩm quá ít ỏi, chúng tôi đến một bến cảng nhỏ và bị lùa vào trại giam thô sơ được dựng lên cạnh bến cảng. Ở đây đã có nhiều người đến từ nhiều quốc gia, những người gây rối giống như chúng tôi. Họ thờ ơ vì bị kiệt sức và hành hạ đến mức hầu như không nhìn lên khi chúng tôi bị lùa vào. Số lượng người chúng tôi lúc này đã bị giảm đi đáng buồn. Trong số hơn ba trăm người khi bắt đầu đi, giờ chỉ còn lại có bảy mươi lăm người. Đêm đó, chúng tôi nằm dài trên mặt đất trong trại giam, phía sau hàng rào dây thép gai.

Không có mái che, không có sự tách biệt, nhưng chúng tôi đã quen với điều đó rồi. Đàn ông và phụ nữ nằm trên mặt đất, hoặc làm những gì mà họ phải làm dưới cái nhìn của lính gác Nhật suốt đêm dài đó.

Vào buổi sáng, sau khi điểm danh, chúng tôi phải đứng thành một hàng người tơi tả trong hai hoặc ba giờ. Cuối cùng, lính gác đã hạ cố đến và đưa chúng tôi đi ra, áp giải chúng tôi đi xuống bến cảng, tới một cầu cảng nơi có một con tàu nặng nề cũ kĩ, han gỉ vô chủ neo đậu. Tôi không phải là chuyên gia về tàu thuyền. Trong thực tế, hầu hết mọi người trong đám tù nhân đều biết các vấn đề về biển nhiều hơn tôi, nhưng thậm chí ngay cả tôi cũng thấy con tàu này sẽ chìm ngay tại phao neo của nó bất kỳ lúc nào. Chúng tôi đi lên tàu dọc theo những tấm ván ọp ẹp, mục nát bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng đổ sụp xuống và ném chúng tôi xuống biển ngầu bọt, lềnh bềnh những mảnh vụn, vỏ hộp, chai lọ và xác chết.

Khi lên tàu, chúng tôi bị đẩy xuống giam cầm ở phần phía trước con tàu. Đám người còn lại trong số ba trăm tù nhân chúng tôi bị giam giữ tại đây. Không đủ chỗ cho chúng tôi ngồi, chắc chắn không đủ chỗ để di chuyển xung quanh. Những tù nhân cuối cùng của nhóm bị đẩy xuống bằng báng súng, và những lời nguyền rủa của đám lính Nhật. Sau đó một tiếng kêu vang rền như thể cánh cửa ngày tận thế đang đóng lại phía trên chúng tôi. Các cửa của khoang hàng cũng được đóng sầm xuống, lùa cả những đám bụi hôi thối lên chúng tôi. Chúng tôi nghe thấy âm thanh của những tiếng búa đóng cái nêm gỗ, và hoàn toàn không có ánh sáng. Sau tất cả những điều đó là một thời gian dài khủng khiếp, con tàu bắt đầu rung lên.

Những tiếng ùng ục kẽo kẹt của động cơ cũ đã bị vứt xó từ lâu. Thực sự cảm thấy như thể toàn bộ khung tàu sẽ rung lắc ra thành từng mảnh và thả chúng tôi ra qua đáy của con tàu.

Từ boong tàu, chúng tôi có thể nghe vẳng đến những tiếng la hét và những mệnh lệnh inh ỏi bằng tiếng Nhật. Con tàu vẫn tiếp tục di chuyển chậm chạp. Ngay khi đó có một đợt sóng trồi và tròng trành dữ dội báo hiệu rằng chúng tôi đã vượt ra khỏi bến tàu và ra đến biển. Chuyến đi thực sự nhọc nhằn. Biển cả thật dữ dội. Chúng tôi liên tục bị ném vào nhau, ngã lộn và đạp lên nhau. Chúng tôi bị giam chặt trong khoang vốn được dùng để chất hàng hóa và chỉ được phép lên boong một lần duy nhất, trong đêm tối. Trong hai ngày đầu tiên chúng tôi hoàn toàn không được ăn. Chúng tôi biết lý do tại sao. Điều đó để đảm bảo rằng tinh thần của chúng tôi sẽ gục đổ. Nhưng nó ít có ảnh hưởng đến chúng tôi. Sau hai ngày, mỗi người chúng tôi có khoảng một tách gạo đầy hàng ngày.

Nhiều người trong số các tù nhân yếu hơn, chẳng được bao lâu, đã chết trong mùi hôi thối ngột ngạt, cửa đóng chặt đã giữ mùi thối trong đó. Không có đủ khí ô xy để giữ cho chúng tôi sống sót. Nhiều người đã chết, và đổ sụp giống như những con búp bê bị vứt bỏ gãy nát trên sàn thép bên dưới chúng tôi. Chúng tôi, những người sống sót cũng chẳng may mắn gì hơn, không có lựa chọn mà phải đứng trên những xác chết và đang phân hủy. Bọn lính gác không cho phép chúng tôi đưa các xác chết ra ngoài. Tất cả chúng tôi đều là tù nhân, và chúng tôi sống hay chết không quan trọng với chúng, chúng tôi phải đúng số lượng như trên giấy tờ của chúng. Vì vậy, những tử thi thối rữa được giữ lại trong nơi giam cầm với những người sống khốn khổ cho đến khi chúng tôi đến được bến cảng, ở đó những tử thi và những người sống sót sẽ được đếm.

Chúng tôi cũng mất cả dấu vết về ngày, nhưng cuối cùng sau một thời gian không thể xác định được đã có sự thay đổi về dấu hiệu của động cơ. Những rung lắc và sóng trồi đã giảm đi. Nhịp rung đã thay đổi và chúng tôi phỏng đoán một cách chính xác rằng chúng tôi đang đến gần một bến càng. Sau rất nhiều tiếng ồn ào, om sòm là tiếng kêu vang của xích sắt, và neo tàu đã được thả xuống. Sau một khoảng thời gian dường như dài vô tận, cửa khoang chứa hàng được ném ra và bọn lính gác bắt đầu trèo xuống cùng với nhân viên y tế Nhật Bản. Xuống được nửa đường chúng dừng lại với vẻ ghê tởm. Nhân viên y tế Nhật nôn vì hôi thối, nôn cả vào chúng tôi ở bên dưới. Sau đó để mùi hôi thối thoát ra theo gió, bọn họ vội vã trở lên boong tàu.

Vật tiếp theo là những ống dẫn nước được đưa vào và dòng nước tuôn xối xả xuống chúng tôi. Chúng tôi gần như sắp chết đuối. Nước dâng lên đến thắt lưng chúng tôi, rồi đến ngang  ngực, cằm, những mẩu xác chết mục nát trôi nổi quanh miệng chúng tôi. Sau đó là những tiếng la hét và kêu la bằng tiếng Nhật và dòng nước ngưng lại. Một viên sĩ quan trên boong tàu đến và nhìn chăm chú xuống chúng tôi, bọn họ thảo luận với nhau. Ông ta nói rằng tàu sẽ chìm nếu tiếp tục bơm nước vào. Vì vậy, một ống nước lớn được đưa vào và toàn bộ nước trong hầm tàu được bơm ra.

Cả ngày và đêm hôm đó, chúng tôi tiếp tục bị giam giữ dưới hầm tàu, run rẩy trong những mảnh giẻ ướt mèm, kiệt sức vì mùi hôi thối của những xác chết đang phân hủy. Ngày tiếp theo, chúng tôi được phép lên boong tàu, hai hay ba người một lúc. Cuối cùng đến lượt tôi, và tôi đi lên trên boong tàu. Chúng cộc cằn hỏi tôi, phù hiệu cá nhân của tôi ở đâu? Tên của tôi đã được kiểm tra lại trên danh sách và tôi bị xô đẩy một cách thô lỗ sang một bên, vào một chiếc sà lan đã đầy ắp ngươi, và vẫn tiếp tục bổ sung thêm nữa, với một đám thu gom run rẩy mang hình hài của con người, những bù nhìn sống được che phủ dưới những vết tích còn sót lại của quần áo. Một số người hoàn toàn không được che đậy chút nào cả. Cuối cùng, nước đã mấp mé bên mép và sà lan có nguy cơ chìm nếu thêm người nữa, lính gác quyết định không đưa thêm tù nhân lên nữa. Một chiếc xuồng máy di chuyển chậm chạp theo tiếng bình bịnh của động cơ tiến đến và một sợi dây thừng được móc vào đầu sà lan. Chiếc xuồng bắt đầu đi vào bờ kéo theo chiếc sà lan cũ nát chở chúng tôi phía sau.

Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy đất nước Nhật Bản. Chúng tôi cấp bờ và ngay khi bước chân lên đất liền, chúng tôi bị đẩy ngay vào một trại tập trung không mái che, chất đầy rác thải và dây thép gai bao quanh. Chúng tôi bị giam giữ ở đó trong vài ngày, trong thời gian đó lính gác thẩm vấn từng người một, cả đàn ông và phụ nữ, rồi sau đó, cuối cùng một số người trong chúng tôi bị cách ly và phải đi vài dặm nữa sâu vào đất liền nơi có một nhà tù vẫn còn chỗ trống chờ chúng tôi đến.

Một người trong số tù nhân, một người đàn ông da trắng, đã tố giác để thoát đòn tra tấn và nói rằng tôi đã giúp đỡ các tù nhân trốn trại, rằng tôi có thông tin quân sự mà những người tù nhân đã chết tiết lộ với tôi.

Vì vậy, một lần nữa, tôi bị gọi đến để thẩm vấn. Người Nhật Bản là những người hăng hái nhất trong việc cố gắng bắt tôi phải khai báo. Bọn chúng đã thấy trong hồ sơ của tôi là tất cả những nỗ lực trước đó đều đã bị thất bại, vì thế lần này chúng muốn thực sự trội hơn hẳn. Móng tay của tôi, đã mọc lại, bị tách ngược ra và sát muối vào. Vì điều đó vẫn không làm cho tôi nói, nên tôi bị buộc hai ngón cái rồi treo lên xà nhà trong suốt cả ngày. Cách tra tấn này đã làm tôi thực sự đau đớn, nhưng bọn lính Nhật vẫn không hài lòng.

Sợi dây thừng treo tôi buộc lỏng lẻo và tôi rơi xuống nền nhà cứng khiến một cái xương bị gãy, kèm theo đó là một nhát dộng báng súng vào ngực tôi. Tên lính gác tì đầu gối lên bụng, chỗ dạ dày của tôi, hai cánh tay tôi bị kéo ra và ghìm chặt vào chốt vòng tròn – dường như chúng rất chuyên nghiệp trong phương pháp tra tấn này trước đây! Một ống được ép xuống cổ họng tôi và mở nước. Tôi cảm thấy rằng tôi hoặc sẽ chết ngạt do thiếu không khí, hoặc sẽ chết đuối vì quá nhiều nước, nếu không cũng vỡ tung vì áp lực. Dường như mọi lỗ chân lông trên cơ thể tôi đều đang chảy nước; tôi như bị thổi phồng lên giống như một quả bóng. Đau đớn dữ dội. Tôi nhìn thấy ánh sáng rực rỡ. Dường như có một sức ép khủng khiếp lên bộ não tôi, và cuối cùng thì tôi ngất đi.

Tôi đã được làm cho tỉnh lại và nhận thức về xung quanh tôi một lần nữa. Lúc này tôi đã quá yếu và ốm đến không thể tự đứng được, vì thế ba tên lính gác Nhật đã đỡ tôi lên – tôi khá là cồng kềnh – và lại kéo lê tôi đến chỗ cái xà mà lúc trước tôi đã bị treo lên ở đó. Một tên sĩ quan Nhật đến và nói, “Mày trông ướt át quá đấy. Tao nghĩ giờ là lúc mày phải khô ráo. Điều đó có thể giúp mày nói được. Kéo nó lên.” Hai tên lính gác Nhật cúi xuống và kéo giật hai cổ chân tôi lên khỏi sàn nhà một cách đột ngột, bị giật lên quá đột ngột, tôi ngã giập xuống và đập đầu xuống sàn bê tông. Một sợi dây thừng buộc quanh cổ chân tôi ném qua xà ngang một lần nữa, và trong khi chúng căng người như đang làm một công việc nặng nhọc, tôi bị nhấc bổng lên, treo chân ở trên cao, đầu lộn ngược xuống, cách sàn nhà hơn một yard[29].

Sau đó, một cách từ từ, như thể chúng đang thưởng thức từng giây phút của sự việc, những tên lính Nhật trải giấy và một vài thanh gỗ xuống sàn nhà bên dưới tôi. Cười nham hiểm, một tên châm lửa đốt giấy. Dần dần hơi nóng bốc lên tôi. Những thanh gỗ bắt lửa, và tôi cảm thấy da đầu tôi cháy quăn lại, nhăn nheo, trong hơi nóng. Tôi nghe một giọng nói, “Hắn ta đang hấp hối. Đừng có để hắn chết nếu không tôi sẽ bắt anh phải chịu trách nhiệm. Phải làm cho hắn nói.” Sau đó, sợi dây thừng được tháo ra, và tôi rơi đâm đầu xuống than đang cháy hồng. Một lần nữa, tôi lại ngất đi.

Khi tỉnh lại, tôi nhận thấy mình đang ở trong một xà lim nửa chìm dưới mặt đấy, nằm ngửa trong nước ngập sàn nhà. Chuột chạy nhốn nháo xung quanh, khi tôi vừa cựa mình, chúng nhảy ngay ra khỏi người tôi, rít lên ầm ĩ. Nhiều giờ sau đó, lính gác đến và treo tôi lên để đứng trên chân, vì tôi vẫn không thể tự đứng được. Chúng vừa thúc và chửi rủa, vừa lôi tôi đến bên cửa sổ có song sắt cao vừa tầm mặt đất bên ngoài. Ở đây, cổ tay tôi bị còng vào song sắt để mặt tôi bị épvào những thanh sắt đó. Một tên sĩ quan đá tôi và nói, “Mày sẽ phải xem tất cả những gì xảy ra lúc này. Nếu mày quay đi hoặc nhắm mắt lại, mày sẽ nhận một nhát lưỡi lê xuyên vào người.” Tôi quan sát, nhưng không có gì để nhìn, ngoài mặt đất vừa tầm mũi tôi.

Chẳng bao lâu có tiếng náo động ở phía xa và một số tù nhân xuất hiện trong tầm nhìn của tôi, đang bị bọn lính gác đẩy đi một cách tàn bạo quá mức. Nhóm người đến ngày càng gần hơn, sau đó những người tù bị buộc phải quỳ xuống ngay phía trước cửa sổ của tôi. Những cánh tay họ bị trói quặt sau lưng. Lúc này, họ bị uốn cong lưng ra sau, trông như một cánh cung, và sau đó cổ tay họ bị trói cùng với cổ chân. Vô tình tôi nhắm mắt lại, nhưng ngay lập tức tôi buộc phải mở mắt ra vì một cơn đau cực kỳ nóng xuyên qua người tôi. Một tên lính Nhật đã sọc lưỡi lê và tôi có thể cảm thấy máu nhỏ giọt xuống chân tôi.

Tôi nhìn ra ngoài. Đó là một vụ hành hình hàng loạt. Một số người tù bị đâm bằng lưỡi lê, những người khác bị chặt đầu. Một kẻ bất hạnh khốn khổ hình như đã làm một điều khủng khiếp gì đó theo chuẩn mực của lính gác Nhật vì anh ta bị mổ bụng và để máu chảy đến chết. Việc này diễn ra trong nhiều ngày.

Những người tù được đưa đến trước mặt tôi và hành hình bằng cách bắn, đâm lưỡi lê, hoặc chặt đầu. Máu liên tục chảy vào trong xà lim nơi tôi đang bị giam giữ, và những con chuột khổng lồ không ngừng bu vào theo dòng máu.

Từ đêm này sang đêm khác, tôi bị người Nhật thẩm vấn về các thông tin mà chúng hy vọng tôi sẽ khai ra. Nhưng lúc này, tôi đang chìm trong một đám sương mù màu đỏ đầy đau đớn, cả ngày lẫn đêm, và tôi hy vọng rằng chúng sẽ hành hình tôi và lấy đi nỗi đau đớn đó. Sau đó mười ngày, mà tưởng như như cả trăm ngày vậy, tôi được báo rằng tôi sẽ bị bắn nếu không khai ra những thông tin mà quân Nhật muốn biết. Các sĩ quan đã nói với tôi rằng, chúng phát ốm vì tôi, rằng thái độ của tôi xúc phạm tới Hoàng đế. Tôi vẫn từ chối nói bất cứ điều gì.

Vì vậy tôi bị đưa trở về xà lim, và bị ném vào đó, tôi đổ sụp xuống, va vào sàn bê tông, choáng váng. Tên lính gác quay ra cửa và nói, “Không có thức ăn cho mày nữa. Mày không cần bất cứ thứ gì sau ngày mai.”

Khi tia sáng đầu tiên le lói xuất hiện vào sáng ngày hôm sau, cửa xà lim bật mở dữ dội, và một tên sĩ quan Nhật cùng một đội lính mang súng trường bước vào. Tôi bị lôi ra đến nơi hành hình mà tôi đã nhìn thấy rất nhiều tù nhân bị giết. Tên sĩ quan chỉ vào mặt đất sũng máu và nói, “Chỗ của mày cũng sẽ ở đây, sẽ sớm thôi. Nhưng mày sẽ có một ngôi mộ riêng, mày sẽ phải tự đào nó.” Chúng mang đến một cái xẻng, và tôi, liên tục bị lưỡi lê thúc vào người, phải đào một cái mộ nông cho riêng mình. Sau đó, tôi bị trói vào một cái cột để khi bị bắn, chỉ cần cắt sợi dây là tôi sẽ rơi lộn vào trong ngôi mộ mà tôi đã tự đào. Tên sĩ quan làm điệu bộ rất kịch, khi hắn đọc một câu nói rằng tôi bị bắn vì bất hợp tác với những người con của Thiên Hoàng. Hắn nói, “Đây là cơ hội cuối cùng của mày. Hãy khai ra thông tin mà chúng tao muốn nếu không mày sẽ bị gửi tới gặp ông bà tổ tiên bị làm ô danh của mày.”

Tôi không trả lời, dường như không có điều gì phù hợp để nói, nên hắn lặp đi lặp lại lời tuyên bố của mình. Tôi vẫn giữ im lặng. Theo lệnh của hắn, đội lính nâng súng lên. Tên sĩ quan lại đến bên tôi một lần nữa, và nói rằng đây thực sự là cơ hội cuối cùng của tôi, hắn nhấn mạnh bằng cách tát vào bên phải, rồi bên trái mặt tôi sau mỗi lời nói. Tôi vẫn không đáp lời, nên hánh đánh dấu vị trí tim của tôi cho những tên lính cầm súng trường, và sau đó hắn cầm thanh kiếm đập vào mặt tôi, rồi nhổ vào tôi trước khi quay đi ghê tởm, và trở lại với những tên lính của hắn.

Đứng giữa khoảng cách tôi và bọn lính, nhưng rất cẩn thận để không đứng trên đường đi của đạn, hắn nhìn về phía bọn lính, và hạ lệnh ngắm vào đích. Những tên lính nâng súng trường của chúng lên, nòng súng hướng về tôi. Đối với tôi, dường như thế giới đầy những lỗ đen khổng lồ; những lỗ đen của mũi khẩu súng trường. Chúng dường như lớn dần, lớn dần, đáng ngại, và tôi biết rằng vào bất cứ lúc nào, chúng cũng có thể phun ra cái chết. Chậm rãi, tên chỉ huy nâng thanh kiếm lên và chém xuống dữ dội kèm theo mệnh lệnh “BẮN!”

Thế giới dường như hòa tan trong lửa và đau đớn, và những đám mây khói nghẹt thở. Tôi cảm thấy như thể mình bị những con ngựa khổng lồ có móng guốc nóng đỏ đuổi theo. Tất cả mọi thứ quay cuồng xung quanh. Thế giới dường như đang điên dại. Điều cuối cùng tôi nhìn thấy là một đám mây đỏ, máu đang đổ xuống, sau đó là đen tối, bóng tối đang gầm lên. Bấy giờ tôi rũ xuống không còn gì trói buộc.

Sau đó, tôi phục hồi ý thức với sự ngạc nhiên rằng Thiên Đường hay Nơi khác có vẻ rất quen thuộc. Nhưng rồi mọi thứ sụp đổ, tôi vẫn đang úp mặt xuống ngôi mộ. Đột ngột, tôi bị xiên một lưỡi lê. Qua khóe mắt, tôi nhìn thấy tên sĩ quan Nhật. Hắn đang nói rằng những viên đạn của đội lính đã được chuẩn bị một cách đặc biệt. “Chúng tao đã thử nghiệm trên hơn hai trăm tù nhân,” hắn nói. Chúng đã rút ra một số thuốc nạp, và cũng loại bỏ cả đầu chì và thay thế nó bằng cái gì đó khác, vì vậy tôi chỉ bị thương nhưng không chết, chúng vẫn muốn có thông tin. “Và chúng tao sẽ có nó,” tên sĩ quan nói, “chúng tao sẽ phải dùng những phương pháp khác. Cuối cùng rồi chúng tao cũng sẽ lấy được, và còn giữ nó chừng nào, mày sẽ còn phải chịu nhiều đau đớn.”

Cuộc đời tôi thực sự rất khó khăn, những năm tháng đào tạo nghiêm ngặt, đầy những kỷ luật tự giác khắt khe, và sự đào tạo đặc biệt mà tôi đã trải qua ở lạt ma viện là điều duy nhất cho phép tôi tiếp tục tiến bước, tiếp tục trong sáng lành mạnh. Không chắc rằng trong những khó khăn cùng cực, liệu ai đó không có được sự đào tạo như thế có thể tồn tại được.

Những vết thương nặng mà tôi nhận được từ cuộc “hành hình” gây ra bệnh viêm phổi kép. Trong thời gian này, tôi bị bệnh đến mức tuyệt vọng, lơ lửng trên bờ vực của cái chết, bị cấm mọi sự chăm sóc y tế, bị cấm bất cứ tiện nghi nào. Tôi nằm trong xà lim, trên sàn bê tông không một mảnh chăn, không có bất cứ thứ gì, run rẩy và chòng chành, và hy vọng được chết.

Từ từ, tôi hồi phục phần nào, và trong một thời gian tôi đã ý thức được về tiếng kêu đều đều của động cơ máy bay, cũng xuất hiện những tiếng động cơ không quen thuộc. Không một người Nhật Bản nào mà tôi gặp biết rõ, và tôi tự hỏi thực sự điều gì đang xảy ra. Nhà tù ở trong một ngôi làng gần Hiroshima, và tôi hình dung là chiến thắng của người Nhật – người Nhật chiến thắng ở khắp mọi nơi – đang bay trở lại trên chiếc máy bay bị bắt.

Một hôm, khi tôi vẫn thực sự còn rất yếu, lại có âm thanh của động cơ máy bay. Đột nhiên, mặt đất rung chuyển và có một tiếng uỵch, tiếng gầm rung lên. Những đám mây bụi tung lên trên bầu trời, và có mùi cũ, mốc.

Không khí có vẻ căng thẳng. Trong khoảnh khắc, dường như tất cả hoàn toàn bất động. Sau đó lính gác chạy trong sự kinh hoàng, la hét khiếp sợ, cầu xin Hoàng Đế bảo vệ họ khỏi cái mà họ không biết là gì. Đó là vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima ngày 6 tháng 8 năm 1945. Trong một lúc, tôi nằm tự hỏi phải làm gì lúc này. Sau đó dường như rõ ràng là người Nhật quá bận rộn để nghĩ đến tôi, vì thế tôi run rẩy đứng lên và cố gắng lê ra đến cửa, nó đã được mở khóa. Tôi ốm rất nặng đến nỗi không cần phải lo tôi trốn thoát. Bên cạnh đó, thường có những tên linh gác xung quanh, nhưng lúc này, những tên lính gác đó đã biến đâu mất. Khắp nơi hoảng loạn, người Nhật nghĩ rằng Thiên Hoàng của họ đã bỏ mặc họ, và họ đang cuống cuồng chạy quanh giống như bầy kiến rối loạn, chạy loạn quanh quẩn trong tình trạng quẫn bách kinh hoàng. Súng trường đã bị vứt bỏ, quân phục quăng khắp nơi, thực phẩm, … tất cả mọi thứ. Theo hướng từ nơi trú ẩn cuộc không kích của họ có những tiếng la hét bối rối, tiếng la hét đồng thời của rất nhiều người.

Tôi rất yếu, yếu đến mức gần như không thể đứng được. Tôi cúi xuống nhật lên một cái áo và một cái mũ của người Nhật, và suýt nữa ngã bổ nhào vì cơn chóng mặt. Tôi quỳ xuống trên tay và đầu gối, cố gắng mặc áo và đội mũ vào. Ngay gần đó có một đôi dép rất nặng. Tôi cũng đi đôi dép vào, bởi vì tôi đang đi chân đất. Sau đó, từ từ, tôi bò vào bụi cây và tiếp tục bò đi trong đau đớn. Có rất nhiều tiếng rơi uỳnh uỵch và những tiếng đập, tất cả các loại súng bắn máy bay đều đang bắn liên hồi. Bầu trời đỏ rực các mảng khói đen và vàng. Dường như cả thế giới đang vỡ tung và lúc đó tôi tự hỏi tại sao tôi lại nỗ lực để thoát ra như vậykhi mà rõ ràng đây là lúc kết thúc tất cả mọi thứ.

Suốt đêm tôi chậm chạp, đau đớn tiến trên con đường để đến bên bờ biển, nơi tôi biết rõ, cách xa nhà tù vài dặm[30]. Tôi đang ốm rất nặng, hơi thở khò khò trong họng tôi, và toàn thân run rẩy. Tôi tự kiểm soát từng chút một có thể để cố gắng đi tiếp, cuối cùng, trong ánh sáng bình minh, tôi đến được bờ biển, đến tận mép nước. Thận trọng, dở sống dở chết vì mệt mỏi và đau ốm, từ trong bụi rậm, tôi săm soi nhìn ra và thấy trước mặt tôi là một chiếc thuyền đánh cá nhỏ đang dập dềnh tại chỗ phao neo. Nó bị bỏ hoang, rõ ràng là chủ nhân đã hoảng sợ và vội vã rời khỏi bờ biển.

Rón rén, tôi đi đến chiếc thuyền và cố gắng trườn qua mép thuyền trong đau đớn. Chiếc thuyền trống trơn, tôi cố gắng đặt một chân lên dây neo thuyền, và với nỗ lực to lớn, tôi nâng mình lên.

Sau đó, dồn hết sức, tôi lật người rơi vào đáy thuyền, vào trong lớp nước bẩn đọng ở đáy thuyền, có vài mẩu cá cũ chắc được dùng để làm mồi. Tôi mất một thời gian dài, dồn sức để cắt dây neo thuyền bằng một con dao tôi đã tìm được. Sau đó, tôi lại đổ sụp xuống đáy thuyền khi nó rời khỏi bờ, trôi dạt ra khỏi lạch lúc thủy triều đang xuống. Tôi lết về đuôi tàu và nép mình ở đó, hoàn toàn kiệt sức. Nhiều giờ sau đó, tôi cố gắng treo những cánh buồm rách nát khi có gió thuận chiều. Sự nỗ lực đã vượt quá sức chịu đựng, và tôi lại chìm trở lại vào đáy thuyền, ngất đi.

Phía sau tôi, trên đất liền Nhật Bản, bước quyết định đã được thực hiện. Quả bom nguyên tử đã ném xuống và loại bỏ nước Nhật ra khỏi cuộc chiến. Chiến tranh đã chấm dứt, và tôi không biết điều đó. Chiến tranh cũng đã kết thúc đối với tôi, hoặc tôi nghĩ vậy, vì ở đây tôi bị trôi dạt trên vùng biển Nhật Bản, không có thức ăn trừ mấy mẩu cá thối dưới đáy thuyền, và cũng không có nước uống. Tôi đứng lên và bám chặt vào cột buồm, quàng tay ôm lấy nó, tì cằm tôi lên nó, tự giữ mình vững nhất có thể. Khi quay đầu về phía đuôi tàu, tôi có thể nhìn thấy bờ biển nước Nhật đang lùi xa dần. Một đám mây mờ bao phủ nó. Tôi quay về phía mũi thuyền, không có gì ở phía trước cả.

Tôi nghĩ về tất cả những gì đã trải qua. Tôi nghĩ về những lời tiên tri. Như thể từ rất xa, tôi dường như nghe thấy tiếng nói của Thầy tôi, Lạt ma Mingyar Đại Đức, “Con đã làm rất tốt, Lobsang của ta. Con đã làm rất tốt. Đừng buồn, vì đây không phải là kết thúc.”

Phía trên mũi thuyền, tia nắng mặt trời của buổi ban mai sáng lên trong một lúc, và làn gió tươi mát, cùng tiếng róc rách thì thầm của sóng ở mũi thuyền đang rẽ nước tạo ra tiếng xào xạc dễ chịu. Còn tôi? Tôi vẫn đang tiến bước – về đâu? Tất cả những gì tôi biết vào lúc đó là tôi đã tự do, tự do thoát khỏi đòn tra tấn, tự do thoát khỏi ngục tù, tự do thoát khỏi địa ngục trần gian của cuộc sống trong trại tù. Có vẻ như thậm chí tôi được tự do để chết.

Nhưng không, mặc dù tôi ước mong được chết bình an, để tin rằng sẽ được giải thoát khỏi đau khổ, tôi vẫn biết rằng tôi không thể chết, vì Định mệnh của tôi nói rằng tôi sẽ chết ở vùng đất của người da đỏ, nước Mĩ. Và ở đây, tôi đang trôi nổi, một mình, chết đói, trong một chiếc thuyền không mui trên biển Nhật Bản. Những cơn đau đã nhấn chìm tôi. Tôi cảm thấy một lần nữa tôi đang bị tra tấn. Hơi thở xào sạc trong cuống họng, và mắt tôi bị mờ đi. Tôi nghĩ rằng có thể lúc đó người Nhật đã phát hiện ra sự đào thoát của tôi và đang cho tàu đuổi theo. Suy nghĩ là quá nhiều với tôi. Vòng tay ôm cột buồm của tôi tuột ra. Tôi rũ xuống, chìm nghỉm, và ngã xuống, và tôi lại một lần nữa, chìm vào bóng tối, bóng tối của lãng quên. Chiếc thuyền tiếp tục trôi về nơi xa lạ.

Emil Group (emilgroup.net@gmail.com) tổng hợp từ lobsangrampa.org.
Nguồn: minhtrietmoi.org

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *