Bác sĩ từ Lhasa – 09 – người tù binh của quân Nhật

Chương 9: Người tù binh của quân Nhật

Chúng tôi ngạc nhiên trước sự thay đổi của Trùng Khánh. Đây không còn là Trùng Khánh mà chúng tôi biết. Những tòa nhà mới, mặt tiền mới của những tòa nhà cũ, những cửa hàng bán mọi thứ mọc lên ở khắp mọi nơi. Trùng Khánh! Nơi vô cùng đông đúc! Người ta đổ về từ Thượng Hải, từ các thị trấn ven biển. Những thương gia, cùng với kế sinh nhai của họ trên biển, hay từ những vùng đất sâu trong nội địa xa xôi đến Trùng Khánh, để bắt đầu lại tất cả, có lẽ với một vài tài sản nhỏ mọn còn lại không đáng kể được cứu khỏi sự chiếm đoạt của người Nhật. Nhưng đa phần phải bắt đầu lại từ con số không.

Các trường đại học tìm được những tòa nhà ở Trùng Khánh, hoặc xây dựng những tòa nhà tạm thời của riêng mình, hầu hết là những nhà kho xiêu vẹo. Nhưng nơi đây là chỗ của nền văn hóa của Trung Quốc. Các tòa nhà như thế nào cũng không có vấn đề gì, những bộ não ở đó, một số bộ não tốt nhất trên toàn thế giới.

Chúng tôi đi tới ngôi chùa mà chúng tôi đã ở trước đây; giống như trở về nhà. Nơi đây, trong cảnh tĩnh mịch của ngôi chùa, khói hương trầm gợn sóng những đám mây phía trên đầu, chúng tôi cảm thấy như mình đang đến với hòa bình, cảm thấy như những hình ảnh các vị Thần đang nhân từ nhìn chúng tôi thấu hiểu những nỗ lực của chúng tôi, và có lẽ, thậm chí cả sự cảm thông với những thử thách khắc nghiệt mà chúng tôi đã trải qua. Vâng, chúng tôi đã về nhà trong bình yên, phục hồi những vết thương của mình, trước khi lại ra đi, lao vào trận chiến khốc liệt để rồi lại chịu đựng những đau khổ mới và tồi tệ hơn. Chuông chùa ngân nga, báo hiệu đã lại đến giờ của những buổi lễ cầu nguyện thân thương và quen thuộc. Chúng tôi đã trở về nơi của mình với trái tim tràn đầy niềm vui được trở về nhà.

Đêm đó chúng tôi đi ngủ muộn vì có quá nhiều chuyện để nói, cũng như có quá nhiều chuyện muốn nghe, bởi vì Trùng Khánh đang trong thời kỳ khó khăn, những trận bom dội xuống liên miên. Nhưng chúng tôi vừa trở về từ “thế giới bên ngoài rộng lớn”, như cách chúng tôi ở trong ngôi chùa gọi nó, cổ họng chúng tôi đã khô trước khi được phép cuộn tròn trong chăn ở chỗ ngủ trên nền đất quen thuộc xưa kia ngay gần thánh đường. Cuối cùng thì giấc ngủ cũng đến được với chúng tôi.

Vào buổi sáng, tôi phải đến bệnh viện mà trước đây tôi đã từng là sinh viên, nhà phẫu thuật, và sau đó là nhân viên y tế. Lần này tôi sẽ là một bệnh nhân. Đây là một trải nghiệm mới khi thực sự là một bệnh nhân ở bệnh viện này. Mũi của tôi, tuy vậy, đang có rắc rối vì bị nhiễm trùng, và vì thế không có cách nào khác mà phải mổ nó ra và cạo. Đây là một quá trình rất đau đớn. Chúng tôi không có thuốc gây tê, con đường Burman Road[21] đã bị đóng cửa, toàn bộ nguồn cung cấp của chúng tôi đã bị ngừng lại, không có gì khác ngoài việc cố gắng chịu đựng vui vẻ nhất có thể, điều không thể tránh được. Nhưng ngay sau khi mổ, tôi trở về ngôi chùa ngay, bởi vì giường cho bệnh nhân trong bệnh viện Trùng Khánh rất khan hiếm. Người bị thương đang đổ về, và chỉ những trường hợp cấp cứu, chỉ những ai không thể đi lại mới được phép lưu lại trong viện.

Ngày qua ngày, tôi đi xuống con đường mòn, đi dọc theo con đường lớn tới Trùng Khánh. Cuối cùng, sau hai hay ba tuần, trưởng khoa phẫu thuật gọi tôi đến văn phòng của ông, và nói, “Thế đấy, Lobsang, bạn của tôi, chúng tôi không nên yêu cầu bạn tham gia vào ba mươi hai người bê quan tài sau tất cả những điều đã xảy ra với bạn. Chúng tôi biết chúng ta cần phải làm, bạn biết đấy, điều đó đã được báo và diễn ra!”

Đám tang ở Trung Quốc được thực hiện thực sự rất, rất nghiêm túc.

Điều được coi là quan trọng nhất là phải có con số chính xác của những người hộ tạng tương ứng với địa vị xã hội của họ. Đối với tôi, tất cả điều đó thật ngớ ngẩn; vì tôi biết rõ khi linh hồn rời khỏi cơ thể, không quan trọng chút nào điều xảy ra với thể xác. Người Tây Tạng chúng tôi không thể hiện thái quá tâm trạng vui, buồn về việc loại bỏ thể xác của mình; Các tử thi được các Âm Công thu thập, rồi được chặt nhỏ ra cho chim ăn. Ở Trung Quốc không phải như vậy. Ở đây điều đó hầu như bị họ hàng lên án đến day dứt cả đời. Ở đây người ta phải có quan tài được ba mươi hai người khiêng, nếu đó là lễ tang hạng nhất. Lễ tang hạng hai, mặc dù chỉ có một nửa số người khiêng quan tài, tức là mười sáu người, như thế là mười sáu người đàn ông khênh một cái quan tài! Lễ tang hạng ba – đây là hạng trung bình – có tám người khiêng quan tài bằng gỗ sơn mài. Còn lễ tang hạng bốn, chỉ là tầng lớp lao động bình thường, có bốn người khiêng. Tất nhiên quan tài sẽ nhẹ, khá rẻ. Thấp hơn lễ tang hạng bốn sẽ không có người khiêng. Quan tài chỉ được đẩy trên loại xe cút kít. Và dĩ nhiên, không chỉ có số người khênh quan tài được xem xét đến; còn có những người khóc thuê, đó là những người khóc lóc và than vãn, và làm những công việc để phục vụ sự ra đi của người chết để kiếm sống.

Đám tang ư? Cái chết ư? Thật lạ là làm thế nào mà sự kiện kỳ quặc lại ở trong tâm trí người ta! Đặc biệt có một đám tang đã in đậm trong tâm trí tôi suốt từ đó. Câu chuyện xảy ra gần Trùng Khánh. Điều đáng quan tâm có liên quan với nó ở đây là để đưa ra một hình ảnh nhỏ về chiến tranh—và cái chết.

Đó là một ngày của lễ hội trung thu “Ngày rằm tháng Tám” khi mặt trăng mùa thu tròn vành vạnh. Ở Trung Quốc, đây là một dịp tốt lành. Đó là thời gian mà các gia đình cố gắng hết sức để quây quần cùng về với nhau trong một bữa tiệc lúc cuối ngày. “Bánh Trung thu” sẽ được bày ra ăn để chào mừng mùa trăng bội thu; những chiếc bánh được ăn như lễ vật để bảy tỏ niềm hy vọng năm tới sẽ là một năm hạnh phúc hơn.

Huang bạn của tôi, một nhà sư Trung Quốc, cũng đang ở trong chùa. Anh cũng đã bị thương, và trong cái ngày đặc biệt này, chúng tôi đang đi bộ từ làng Chiaoting đến Trùng Khánh. Khu làng nằm trên bờ dốc cao của sông Dương Tử, ở đây có những người giàu có sinh sống, những người có đủ điều kiện để có cuộc sống tốt nhất. Bên dưới chúng tôi, xuyên qua khe giữa các lùm cây, chúng tôi vừa đi vừa có thể nhìn thấy dòng sông và những con thuyền trên đó. Gần hơn, trên những mảnh vườn bậc thang những người đàn ông và phụ nữ mặc quần áo màu xanh đang làm việc, còng lưng xuống trong công việc làm cỏ và xới đất muôn đời của họ.

Buổi sáng trời đẹp, nắng ấm, tất cả mọi thứ đều có vẻ tươi sáng và vui vẻ. Những suy nghĩ về chiến tranh đã xa khỏi tâm trí của chúng tôi khi chúng tôi tản bộ, thỉnh thoảng dừng lại ngắm nhìn qua khe những lùm cây và chiêm ngưỡng cảnh đẹp. Gần chỗ chúng tôi, trong một bụi cây ngay đó, một con chim đang hót, chào đón một ngày mới. Chúng tôi đi bộ  trên sườn đồi. “Dừng lại một chút, Lobsang, mình mệt,” Huang nói. Vì thế chúng tôi ngồi trên một tảng đã dưới bóng cây. Thật dễ chịu ngồi đó ngắm nhìn cảnh đẹp trên mặt nước, với rêu phong bao phủ con đường mòn bao quanh xuôi xuống sườn đồi, những bông hoa mùa thu bé nhỏ đang lấp ló trên mặt đất những đốm rực rỡ đầy màu sắc. Cây cối cũng bắt đầu ngả màu. Phía trên chúng tôi, những đám mây nhỏ trôi dạt vẩn vơ trên bầu trời.

Từ đằng xa đang lại gần, chúng tôi nhìn thấy một đám đông những người dân. Những đoạn âm thanh vẳng đến theo làn gió nhẹ. “Chúng ta trốn thôi, Lobsang. Đó là đám tang ông Shang, một người buôn vải. Một đám tang hạng nhất. Lẽ ra mình phải tham gia, nhưng mình nói đang bị ốm quá, và mình sẽ mất mặt nếu họ nhìn thấy bây giờ.” Huang đứng lên, và tôi cũng vậy. Chúng tôi cùng nhau rút ra xa một đoạn nhỏ vào chỗ những gốc cây, nơi chúng tôi có thể nhìn được, nhưng sẽ không ai nhìn thấy chúng tôi. Có một mỏm đá, và chúng tôi nằm xuống phía sau nó, Huang nằm phía sau tôi một chút để nếu như tôi có bị nhìn thấy thì anh ấy vẫn không bị ai nhìn thấy. Chúng tôi nằm thoải mái, sắp xếp áo choàng xung quanh mình, những chiếc áo choàng có màu dễ lẫn với màu nâu đỏ của mùa thu.

Đám tang đang chậm chạp tiến đến gần, các nhà sư Trung Quốc mặc áo choàng bằng lụa màu vàng, với khăn choàng màu đỏ nâu nhạt khoác quanh vai. Mặt trời mùa thu nhẹ nhàng chiếu sáng trên đầu mới cạo của họ, hiện ra cả những vết sẹo của lễ điểm đạo; mặt trời lấp lánh trên những chiếc chuông bạc mà họ đang cầm trong tay, lấp lóe phản chiếu ánh sáng khi chúng đung đưa. Các nhà sư đang hát bài thánh ca nhỏ dành cho lễ tang khi họ bước phía trước một chiếc quan tài lớn bóng nhoáng của người Trung Quốc đang được ba mươi hai người khênh. Người đánh cồng chiêng, và đốt pháo để xua đuổi bất cứ loại ma quỷ nào đang rình rập, bởi vì, theo đức tin của người Trung Quốc, các loài ma quỷ sẵn sàng bắt linh hồ của người quá cố, và phải làm cho chúng sợ bằng pháo và tiếng ồn.

Những người khóc thuê, với tấm vải trắng quấn quanh đầu, đi phía sau. Một người phụ nữ, đang có thai, rõ ràng là có mối quan hệ họ hàng gần gũi, đang khóc thảm thiết như là cô ấy đang khóc theo những người khác. Những người khóc mướn chuyên nghiệp kêu khóc rất to khi họ kể lể những ưu điểm của người đã khuất để cho tất cả những người khác nghe thấy. Tiếp đến những người phục vụ mang tiền giấy, và các mô hình bằng giấy những đồ vật mà người quá cố có trong cuộc sống này, và sẽ cần đến sau này. Từ nơi chúng tôi đang quan sát, được che khuất bởi mỏm đá, và những bụi cây đang mọc, chúng tôi có thể ngửi thấy mùi hương trầm và mùi thơm của những bông hoa tươi bị giẫm nát dưới chân của những người trong đoàn tang lễ. Đó thực sự là một đám tang rất lớn. Shang, nhà buôn vải, phải là một trong những công dân hàng đầu, vì sự giàu sang ở đây thật khó tưởng tượng.

Đám đông từ từ đi qua chúng tôi với tiếng than khóc ầm ĩ, và tiếng loảng xoảng của chũm chọe, tiếng kèn và tiếng chuông rung. Đột nhiên có những cái bóng ngang qua mặt trời, và trên cả tiếng ồn ào của đám tang, chúng tôi nghe thấy kêu của động cơ máy bay công suất cao, tiếng kêu ngày càng lớn hơn và đáng ngại hơn. Ba chiếc máy bay Nhật trông hung hãn bay vào tầm nhìn phía trên những lùm cây, giữa chúng tôi và mặt trời. Chúng lượn vòng tròn. Một chiếc tách ra, và bay xuống thấp hơn, và lướt ngay bên trên đám tang. Chúng tôi không lo lắng. Chúng tôi nghĩ rằng ngay cả người Nhật cũng sẽ tôn trọng sự thiêng liêng của cái chết. Nhịp đập tim chúng tôi tăng lên khi chiếc máy bay lao nhanh trở lại cùng với hai chiếc máy bay kia, và chúng cùng nhau bay đi. Tuy nhiên, niềm vui của chúng tôi chỉ được chốc lát; những chiếc máy bay bay vòng quanh, và lại bay đến chỗ chúng tôi lần nữa; những đốm nhỏ màu đen rơi xuống từ bên dưới cánh của chúng, ngày càng lớn dần, những trái bom rít lên khi rơi xuống đất, rơi thẳng vào đám tang.

Phía trước chúng tôi, cây cối vật vã rung chuyển, toàn bộ mặt đất trong tình trạng hỗn loạn, tiếng rít của kim loại xé nát. Gần đến nỗi chúng tôi không nghe thấy tiếng nổ. Khói và bụi, và gỗ cây cối vụn nát văng trong không trung. Những mảng màu đỏ đi loạt xoạt bên cạnh, mảnh đất thật kinh tởm. Trong một lúc, tất cả được che khuất bằng một màn khói màu vàng và đen. Sau đó, gió cuốn đi và để lại chúng tôi phải đối mặt với cuộc tàn sát khủng khiếp.

Trên mặt đất, chiếc quan tài mở toang hoác, và trống rỗng. Những cơ thể đã chết khốn khổ bị ném ngổn ngang, giống như con búp bê bị hỏng, cắt nhỏ, nhếch nhác, đã bị loại bỏ. Chúng tôi nhấc mình khỏi chỗ nằm, bàng hoàng và choáng váng trước sự tàn phá, vì sự ác liệt của vụ nổ, và cũng vì sự thoát chết trong tấc gang của chúng tôi. Tôi đứng lên và nhặt từ thân cây phía sau một mảnh kim loại dài sượt ngay gần đầu tôi. Đầu mảnh kim loại sắc và đang nhỏ máu, và nó rất nóng, nóng đến nỗi tôi buông tay thả nó xuống và kêu lên vì đau khi tôi rầu rĩ nhìn đầu ngón tay cháy xém của mình.

Trên những cành cây bị xé nát là những mảnh vải lay động trong gió nhẹ, dính đầy những máu thịt. Một cánh tay, còn dính với một bên vai, đu đưa trên một cành cây cách tôi khoảng mười lăm mét. Nó bập bênh, trượt xuống và lại vướng vào cành cây dưới thấp hơn, và sau đó rơi xuống đất. Từ nơi nào đó, một cái đầu méo mó đầy máu, nhe răng vẻ sợ hãi và kinh ngạc, rơi qua những cành cây, lăn về phía tôi, để cuối cùng dừng lại ngay bên chân tôi như thể nó đang nhìn tôi trong sự kinh ngạc về nhân tính của kẻ xâm lược người Nhật Bản.

Đây dường như là một thời khắc mà ngay cả thời gian cũng chết đứng lại trong nỗi kinh hoàng. Không khí nồng nặc mùi thuốc nổ, cùng mùi máu, và ruột bị xé nát. Chỉ có âm thanh loạt xoạt và tiếng rơi tõm xuống, cứ như những vật không thể tưởng tượng nổi rơi từ trên trời cao hoặc từ trên cây cối. Chúng tôi vội vã đến bên đống đổ nát khi hy vọng có thể giúp đỡ được ai đó, chắc chắn phải còn ai đó sống sót sau thảm kịch. Đây là một cơ thể, đã bị cắt thành nhiều mảnh và văng đi hết ruột, vì bị cắt nát, và cháy xém đến mức không thể biết đó là một người đàn ông hay phụ nữ; bị cắt nát đến mức chúng tôi thậm chí khó có thể nói rằng đó là một con người. Cạnh đó, ngang qua bên kia, là một cậu bé, chân cậu đã bị thổi bay đến tận đùi. Cậu vừa rên rỉ vừa khóc thút thít vì sợ hãi. Khi tôi quỳ xuống bên cạnh, cậu bé nôn ra một bụm máu tươi, rồi ho và tắt thở. Buồn bã, chúng tôi nhìn quanh, mở rộng phạm vi tìm kiếm. Bên dưới một cái cây bị đổ, chúng tôi tìm thấy người phụ nữ mang thai. Cái cây bị thổi ngang qua người cô. Nó đã làm rách tung bụng cô. Từ tử cung, thai nhi nhô ra ngoài, và đã chết. Xa hơn là một bàn tay mà nó vẫn còn đang nắm chặt chiếc chuông bạc. Chúng tôi tìm tiếm mãi, và không thấy ai còn sống sót.

Từ trên trời vang đến tiếng động cơ máy bay. Những kẻ tấn công đã trở lại để xem công việc khủng khiếp của chúng. Chúng tôi nằm lại trên mặt đất dính đầy máu khi chiếc máy bay Nhật bay vòng ngày càng thấp hơn, để kiểm tra những thiệt hại mà nó đã gây ra, để chắc chắn rằng không ai còn sống sót để có thể kể  lại câu chuyện này. Nó bay vòng uể oải, nghiêng cánh giống như con chim ưng đang sà xuống để giết mồi, sau đó nó bay vòng trở lại, bay thẳng xuống ngày càng thấp hơn. Tiếng nổ lốp bốp khắc nghiệt của súng máy và quất đạn dọc theo rặng cây. Một cái gì đó kéo mạnh vạt áo choàng của tôi và tôi nghe một tiếng kêu thét. Tôi cảm thấy như thể chân tôi bị cháy xém. “Tội nghiệp Huang,” tôi nghĩ, “cậu ấy bị trúng đạn và đang cần mình.” Phía trên chúng tôi, những chiếc máy bay đang lượn vòng tròn vu vơ như thể tên phi công bay nghiêng cho đến lúc có thể nhìn được mặt đất bên dưới.

Hắn chúc mũi máy bay xuống và lại bắn lung tung, rồi bay vòng tròn lần nữa. Rõ ràng là hắn hài lòng vì hắn lắc lư đôi cánh và bay đi. Sau một lúc tôi đứng lên để giúp Huang, nhưng anh đã ở cách tôi một đoạn xa, thực sự an toàn, vẫn còn ẩn nửa người dưới đất. Tôi kéo áo choàng của mình và thấy chân trái tôi có một vết cháy do viên đạn cày dọc một đoạn. Cách tôi vài phân, cái hộp sọ đang cười giờ đã có thêm một lỗ đạn mới xuyên qua, thẳng qua thái dương bên này, và đi ra thái dương bên kia; làm thành một lỗ lớn và thổi não ra ngoài qua đó.

Một lần nữa chúng tôi tìm kiếm trong các bụi cây và giữa những cái cây, nhưng không có dấu hiệu của sự sống. Năm mươi đến một trăm người, có lẽ còn hơn thế nữa, đã ở nơi đây mới chỉ vài phút trước để tỏ lòng ton kính đối với người chết. Lúc này họ cũng đã chết. Lúc này họ chỉ đơn thuần là những tàn tích màu đỏ và những đống không hình thù. Chúng tôi hoàn toàn bất lực. Không còn gì cho chúng tôi làm, không còn gì để cứu. Chỉ thời gian mới có thể làm lành những vết thương này.

Đây là “Ngày Rằm Trung thu” khi mà các gia đình đến bên nhau vào cuối ngày, khi họ đến cùng nhau với trái tim đầm ấm vui vẻ của cuộc hội ngộ. Ít nhất ở đây, vì hành động của quân Nhật, các gia đình “đến cùng nhau” vào lúc kết thúc ngày của họ. Chúng tôi quay lại đi tiếp, khi chúng tôi rời khỏi nơi xảy ra thảm họa, một con chim hót lên khúc nhạc bị gián đoạn của mình như thể không có điều gì xảy ra.

Cuộc sống ở Trùng Khánh lúc đó thực sự khó khăn. Nhiều kẻ hám tiền đổ về đây, những kẻ đang cố gắng khai thác nỗi đau khổ của người nghèo, những kẻ đã cố gắng lợi dụng chiến tranh. Giá cả tăng vọt, điều kiện sống gặp nhiều khó  khăn. Chúng tôi thực sự vui mừng khi lệnh gửi đến để chúng tôi tiếp tục nhiệm vụ của mình. Thương vong gần miền duyên hải thực sự nhiều. Nhân viên y tế là vô cùng cần thiết. Vì vậy, một lần nữa, chúng tôi rời Trùng Khánh, đi xuống miền duyên hải nơi viên Tướng Yo đang đợi để đưa lệnh điều động cho chúng tôi. Những ngày sau đó, tôi được phân bổ làm nhân viên y tế phụ trách bệnh viện, một thuật ngữ thật nực cười. Bệnh viện là ruộng lúa trên đó những bệnh nhân không may mắn nằm trên mặt đất úng nước, vì không có nơi nào khác để nằm, không có giường, không có gì hết. Thiết bị của chúng tôi ư? Băng bằng giấy. Những dụng cụ phẫu thuật lỗi thời, và bất cứ vật gì khác chúng tôi có thể tạo ra, nhưng ít nhất thì chúng tôi cũng có kiến thức và ý chí để mang sự giúp đỡ đến cho những người bị thương nặng, và những người đó thì chúng tôi có thừa. Quân Nhật đang giành chiến thắng ở khắp mọi nơi. Thương vong vô cùng khủng khiếp.

Một hôm, không khí tấn công dường như trở nên mãnh liệt hơn bình thường. Bom dội khắp mọi nơi. Toàn bộ cánh đồng bao quanh đầy những hố bom. Quân đội đang rút lui. Sau đó, vào buổi tối ngày hôm đó, lực lượng quân Nhật đổ đến chỗ chúng tôi, đe dọa chúng tôi bằng lưỡi lê, khi đâm người đầu tiên, sau đó là một người khác, chỉ để thể hiện rằng chúng là những người chủ. Chúng tôi không chống cự, chúng tôi không có vũ khí, không có gì để tự vệ. Quân Nhật  tra hỏi tôi thô lỗ vì tôi là người phụ trách ở đây, rồi sau đó chúng đi ra trên cánh đồng để kiểm tra các bệnh nhân. Tất cả các bệnh nhân được lệnh phải đứng lên. Những người quá yếu để có thể đi lại bị chúng dùng lưỡi lê đâm chết. Những người còn lại bị lùa đi, ngay cả chúng tôi cũng vậy, đến một trại tù vào sâu hơn trong lãnh thổ. Chúng tôi đi hàng dặm[22] mỗi ngày. Bệnh nhân chết bị thả bên đường, và khi họ ngã xuống, lính gác Nhật đổ xô đến kiểm tra họ tìm những vật có giá trị. Hàm răng nghiến chặt khi chết bị cậy mở ra bằng lưỡi lê, và một chút vàng được dùng để hàn răng cũng sẽ bị cậy ra một cách thô bạo.

Một hôm khi chúng tôi đang đi trên đường, tôi nhìn thấy những tên lính gác ở phía trước có vật gì đó kỳ lạ ở đầu lưỡi lê, mà bọn chúng đang vẫy nghịch tôi nghĩ đó là một kiểu chào mừng nào đó. Nó trông như thể họ có những quả bóng ở đầu súng trường. Sau đó, vừa cười vừa la hét, bọn lính gác xông đến xô những người tù xuống đường, và chúng tôi nhìn mà nôn nao trong dạ dày, khi thấy chúng cắm đầu lưỡi lê vào đầu các tù nhân. Những cái đầu với mắt mở to, mồm há ra, cằm sệ xuống. Quân Nhật đang tóm lấy những người tù, chặt đầu họ và đâm vào cổ như một dấu hiệu – lại một lần nữa— rằng chúng là những ông chủ.

Trong bệnh viện của chúng tôi, chúng tôi chữa bệnh cho các bệnh nhân của tất cả các quốc gia. Bây giờ, khi chúng tôi lê bước dọc theo con đường, xác chết của người từ tất cả các quốc gia nằm bên vệ đường. Lúc này, họ đã thuộc về cùng một quốc gia, quốc gia của người chết. Lính Nhật lấy tất cả mọi thứ của họ.

Trong nhiều ngày, chúng tôi đi liên tục, nhận được ngày càng ít dần, ngày càng trở nên mệt mỏi hơn, cho tới khi chỉ còn vài người trong chúng tôi đến được trại giam mới, loạng choạng đi vào mắt mờ màu đỏ vì đau đớn và kiệt sức, với máu rỉ qua giẻ bọc chân, và để lại vệt dài màu đỏ trên đường phía sau chúng tôi. Cuối cùng, chúng tôi cũng đến được trại, cũng là một trại giam hết sức thô thiển. Ở đây cuộc thẩm vấn lại được bắt đầu. Tôi là ai? Tôi là gì? Tại sao tôi là một lạt ma của Tây Tạng lại chiến đấu vì đất nước Trung Quốc? Câu trả lời của tôi là tôi không chiến đấu, mà chỉ cứu chữa những cơ thể bị thương, và giúp đỡ những người bị bệnh, bị ngược đãi và bị đánh đập. “Phải,” chúng nói, “phải, chữa những cơ thể để chúng có thể chiến đấu chống lại chúng tao.”

Cuối cùng, tôi được đưa vào làm công việc chăm sóc cho những người mà phải cố gắng được cứu chữa để làm nô lệ lao động của quân Nhật. Khoảng bốn tháng sau khi chúng tôi tới trại giam đó, có một cuộc thanh tra lớn. Một vài sĩ quan cao cấp sẽ đến để xem các tù nhân được đối xử như thế nào, và liệu có ai có thể lưu ý để sử dụng cho quân Nhật. Tất cả chúng tôi đứng xếp hàng ngay từ đầu bình minh, và bị để đứng đó hàng giờ, và nhiều giờ cho đến cuối buổi chiều, và sau đó trông chúng tôi đúng là một đám đông thiểu não. Những người bị ngã vì quá mệt sẽ bị đâm bằng lưỡi lê và kéo đi quăng vào đống xác chết.

Chúng tôi đứng thẳng hàng phần nào khi chiếc xe ô tô công suất cao lái đến với một tiếng gầm, và những người đàn ông đeo mề đay nhảy ra. Tên thiếu tá Nhật đến thăm tình cờ đi xuống dọc theo hàng tù nhân, nhìn lên khắp các tù nhân. Hắn liếc nhìn tôi, sau đó lại nhìn tôi một cách cẩn thận. Hắn nhìn tôi chằm chằm, và nói điều gì đó với tôi mà tôi không hiểu. Sau đó, khi tôi không trả lời, hắn đánh vào mặt tôi bằng bao kiếm của chính thanh kiếm của hắn, viên thiếu tá nói điều gì đó với hắn. Tên lính trực chạy đến văn phòng lưu giữ hồ sơ, và sau một thơi gian rất ngắn, hắn trở lại với hồ sơ của tôi. Tên thiếu tá giật lấy nó từ tay hắn, và đọc ngấu nghiến. Sau đó, hắn chửi rủa tôi, và ra lệnh cho những tên lính gác.

Một lần nữa tôi bị chúng dùng báng súng trường đánh gục. Lại một lần nữa mũi của tôi –vừa mới được sửa chữa và làm lại – bị đập vỡ và tôi lại bị lôi đến phòng của lính gác. Ở đây, hai bàn tay và chân tôi bị trói quặt ra sau lưng, kéo lên trên và buộc ở gáy, để mỗi lần tôi cố gắng nới tay ra thì lại tự chẹt lấy cổ mình. Trong một thời gian dài, tôi bị đá và bị đánh liên hồi, và bị đốt bằng đầu thuốc lá trong khi các câu hỏi tới tấp đưa ra. Sau đó, tôi bị chúng ấn xuống bắt quỳ, và lính gác nhảy lên gót chân tôi với hy vọng rằng vì đau mà tôi sẽ buộc phải trả lời. Bị giẫm mạnh quá nên xương vòm bàn chân tôi bị gãy.

Những câu chúng tra hỏi tôi! Làm thế nào mà tôi đã trốn thoát được? Tôi đã nói chuyện với những ai trong khi tôi trốn đi? Tôi có biết rằng việc trốn chạy là một sự xúc phạm đến Thiên Hoàng của họ hay không? Họ cũng hỏi chi tiết việc chuyển quân, bởi vì họ nghĩ rằng tôi là một lạt ma của Tây Tạng, sẽ phải biết nhiều về cách sắp đặt quân của Trung Quốc. Tất nhiên tôi không trả lời, và chúng tiếp tục đốt tôi bằng thuốc lá đang cháy, và sử dụng tất cả các ngón đòn tra tấn thông thường. Cuối cùng, chúng ấn tôi vào một loại giá thô bạo, và kéo cái ống hình trụ thật chặt để tôi cảm thấy như thể tay và chân tôi đang bị kéo ra khỏi khớp nối.

Tôi ngất đi và mỗi lần như vậy, chúng dội một xô nước lạnh vào tôi, hoặc dùng đầu lưỡi lê chọc vào người để tôi tỉnh lại. Cuối cùng, nhân viên phụ trách y tế của trại can thiệp. Hắn nói rằng nếu tiếp tục tra tấn tôi thêm dù chỉ một trận đòn nữa, chắc chắn tôi sẽ chết, và chúng không thể có được câu trả lời nào cho các câu hỏi của bọn chúng. Chúng không muốn giết tôi, bởi vì giết tôi sẽ cho phép tôi thoát khỏi sự thẩm vấn của chúng. Tôi lại bị tóm cổ lôi đi, và ném vào xà lim sâu dưới lòng đất có hình dạng như một cái chai, được xây bằng xi măng. Tôi bị giam giữ ở đây trong nhiều ngày, cũng có thể là nhiều tuần.

Tôi mất tất cả ý niệm về thời gian, không còn cảm giác về thời gian. Xà lim đen màu hắc ín. Thức ăn được ném vào hai ngày một lần, và nước được đưa xuống trong một cái hộp. Thường thì nó đã bị đổ, và tôi phải bò trong bóng tôi, và quờ quạng bàn tay để cố gắng tìm nó, hoặc cố gắng tìm bất cứ chỗ ẩm ướt nào có trên sàn. Tâm trí tôi bị vỡ vụn dưới sức ép căng thẳng, dưới bóng tối đậm đặc như vậy, nhưng sự đào tạo đã cứu tôi. Tôi lại nghĩ về quá khứ.

Bóng tối ư? Tôi nghĩ đến những ẩn sĩ ở Tây Tạng, trong am thất đóng chặt của họ được xây dựng trên những đỉnh núi cao ngất, ở những nơi không thể xâm nhập được giữa những đám mây. Những ẩn sĩ sống đơn độc trong am thất của họ, và ở lại đó trong nhiều năm, giải phóng tâm trí khỏi cơ thể, giải phóng linh hồn khỏi tâm trí, để họ có thể nhận thức được sự tự do tinh thần cao quý hơn. Tôi không nghĩ về hiện tại, mà nghĩ về quá khứ, và trong cơn mơ màng, chắc hẳn tôi đã trở lại với trải nghiệm tuyệt vời nhất, chuyến thăm của tôi đến Cao nguyên Chang Tang.

Chúng tôi, gồm có Thầy của tôi, Đại Đức Mingyar, và một vài bạn đồng môn và tôi, bắt đầu lên đường từ dưới mái vàng Cung điện Potala ở Lhasa để tìm kiếm các loại thảo dược quý hiếm. Trong nhiều tuần, chúng tôi đi lên, đến vùng băng giá phía Bắc tới Cao nguyên Chang Tang, hay, như một số người còn gọi nó là Shamballah. Ngày hôm đó, chúng tôi đang tới gần mục tiêu của mình. Đó là một ngày rét buốt, rét buốt nhất trong nhiều ngày băng giá. Băng giá thổi vào chúng tôi cơn gió mạnh đang rít lên không ngừng. Các viên đá đập vào áo choàng của chúng tôi, và làm đông lại lớp da từ bất cứ bề mặt nào bị hở ra. Ở đây, gần hai mươi lăm ngàn feet[23] trên mực nước biển, bầu trời màu tía sống động, một vài đám mây bay ngang qua đang trở thành màu trắng. Trông như những con ngựa trắng của các vị Thần, đang được các Ngài cưỡi trên khắp Tây Tạng.

Chúng tôi tiếp tục trèo, lên cao mãi không ngừng trên địa hình hiểm trở ngày càng trở nên khó khăn hơn sau mỗi bước đi. Những lá phổi rít lên xào xạc trong cổ họng của chúng tôi. Chúng tôi móc chân tạm thời vào đất cứng, cố hết sức giữ chặt những ngón tay vào các vết nứt nhỏ trong đá lạnh cứng. Cuối cùng, chúng tôi lại đến được vành đai sương mù bí ẩn (xem quyển Con Mắt Thứ Ba) và đi xuyên qua nó vào vùng đất đang trở nên ngày càng ấm áp hơn dưới chân chúng tôi, và không khí xung quanh cũng trở nên dịu mát hơn và dễ chịu hơn. Dần dần chúng tôi hiện rõ dần lên từ màn sương mù, tiến vào thiên đường tươi tốt của nơi ẩn dấu thú vị đó. Phía trước chúng tôi lại là vùng đất của một thời đại đã qua.

Đêm đó chúng tôi nghỉ ngơi trong sự ấm áp và dễ chịu của vùng đất ẩn kín đó. Thật tuyệt vời được ngủ trên chiếc giường mềm mại bằng rêu, và hít thở hương thơm ngọt ngào của những bông hoa. Nơi đây, trên mảnh đất này, có những trái cây mà chúng tôi chưa bao giờ được nếm thử trước đó, những trái cây mà chúng tôi đã lấy mẫu và cố gắng lấy lại lần nữa. Cũng rất thú vị khi có thể tắm trong nước ấm, và thơ thẩn thoải mái trên bờ bằng vàng.

Ngày hôm sau chúng tôi sẽ đi tiếp về phía trước, đi lên cao hơn nữa, nhưng lúc này chúng tôi không gặp khó khăn gì cả. Chúng tôi đi bộ xuyên qua những bụi cây đỗ quyên, đi ngang qua những cây óc chó, và cả những cây khác mà chúng tôi không biết tên của chúng. Chúng tôi không gây áp lực cho mình quá mức ngày hôm đó. Đêm lại trùm xuống chúng tôi lần nữa, nhưng lúc này chúng tôi không lạnh. Chúng tôi đang thư giãn, thoải mái. Nhanh chóng, chúng tôi ngồi xuống bên dưới những tán cây, rồi đốt lửa, và chuẩn bị bữa ăn tối của mình. Khi đã xong, chúng tôi quấn áo choàng quanh mình, và nằm xuống tiếp tục nói chuyện. Rồi từng người một, chúng tôi chìm vào giấc ngủ.

Vào ngày hôm sau, chúng tôi lại tiếp tục hành trình của mình, nhưng chúng tôi chỉ đi được hai hoặc ba dặm thì bất ngờ, ngoài dự kiến, chúng tôi đến một nơi không gian mở ra thoáng đãng, nơi đó không còn cây nữa, và phía trước chúng tôi – khi đó chúng tôi đã dừng lại gần như bị tê liệt vì kinh ngạc, run lên khi hiểu rằng chúng tôi đang đến với điều gì đó hoàn toàn vượt quá hiểu biết của chúng tôi. Chúng tôi chăm chú ngắm nhì, rõ ràng phía trước chúng tôi là điều gì đó vô cùng rộng lớn.

Có một vùng đất bằng phẳng trước mặt chúng tôi, trải dài hơn năm dặm[24].

Về phía xa bên cạnh, có một dải băng rộng lớn mở rộng về phía trước, giống như một tấm kính vươn về phía thiên đường, như thể thực sự nó là một cửa sổ dẫn vào thiên đường, một cửa sổ dẫn về quá khứ. Phía bên kia của dải băng đó chúng tôi có thể nhìn thấy, như thể xuyên qua làn nước tinh khiết nhất, một thành phố, còn nguyên vẹn, một thành phố lạ, mà chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy, thậm chí cả trong những quyển sách có những bức ảnh mà chúng tôi đã có ở Potala.

Nhô ra khỏi dòng sông băng là các tòa nhà. Hầu hết đều ở trong trạng thái bảo quản tốt, bởi vì lớp băng đã tan ra nhẹ nhàng trong không khí ấm áp của thung lũng ẩn kín, tan ra nhẹ nhàng, chậm dần đến mức không một hòn đá hay một phần nào cấu trúc bị hư hại. Một số tòa nhà trong số đó, thực sự khá nguyên vẹn, được bảo quản trong suốt nhiều thế kỷ trong không khí khô tinh khiết tuyệt vời của Tây Tạng. Một vài trong số những tòa nhà trên thực tế, có thể được xây dựng có lẽ chỉ một tuần trước đó, chúng trông rất mới.

Thầy của tôi, Đại Đức Mingyar, phá vỡ sự im lặng kinh ngạc của chúng tôi, khi nói, “Những người anh em của tôi, nửa triệu năm về trước, đây là nhà của các vị Thần. Nửa triệu năm về trước, đây là một khu nghỉ mát bên bờ biển thú vị mà các nhà khoa học của những giống dân và chủng tộc khác đã sống ở đây. Họ cùng nhau đến từ một nơi khác, và tôi sẽ nói cho các bạn về lịch sử của họ trong một ngày nào đó; nhưng thông qua những thử nghiệm của họ, họ đã mang tai họa đến khắp trái đất, và họ đã bỏ trốn khỏi nơi xảy ra thảm họa bỏ rơi những người dân thường của trái đất ở phía sau. Họ đã gây ra tai họa, bằng những thử nghiệm của họ, biển đã dâng lên và đóng băng, và nơi đây phía trước chúng ta, chúng ta nhìn thấy một thành phố được bảo quản trong lớp băng vĩnh cửu từ thời kỳ đó, một thành phố đã bị ngập khi mặt đất bị nâng cao lên và nước cũng dâng lên cùng với nó, bị ngập nước và đóng băng.”

Chúng tôi im lặng lắng nghe đầy hứng thú khi Thầy tôi tiếp tục câu chuyện, khi Người nói cho chúng tôi nghe về quá khứ, về những hồ sơ cổ đại ở sâu bên dưới cung điện Potala, những hồ sơ được khắc trên những miếng vàng, cũng giống như bây giờ trong thế giới phương Tây, các hồ sơ được bảo tồn cho hậu thế trong những cái mà họ gọi là “màng bọc thời gian”.

Cùng bị thôi thúc, chúng tôi đứng lên, và sau đó đi khám phá những tòa nhà trong phạm vi xem xét của chúng tôi. Chúng tôi vào những tòa nhà gần hơn, chúng tôi càng trở nên sững sờ ngẩn ngơ hơn nữa. Nó thật lạ lùng biết bao. Trong một lúc chúng tôi không thể hiểu cảm xúc của chính mình. Chúng ta hình dung rằng chúng tôi bỗng nhiên trở thành những chú lùn. Sau đó, lời giải mới ập đến với chúng tôi. Các tòa nhà rất rộng lớn, như thể chúng được xây dựng cho một giống dân cao gấp đôi chúng ta. Vâng, đúng là như vậy. Những con người đó, những siêu nhân đó, cao gấp hai lần người bình thường trên trái đất. Chúng tôi đi vào một vài tòa nhà, và nhìn quanh.

Đặc biệt có một nơi dường như là một phòng thí nghiệm loại nào đó, và có nhiều thiết bị kỳ lạ, và nhiều chiếc trong số đó vẫn còn làm việc được.

Một dòng nước lạnh như đá kéo giật tôi trở về thực tại một cách đột ngột choáng váng, kéo giật tôi trở về với sự khốn khổ và đau đớn của thực tại bên trong nhà tù đá. Bọn Nhật đã quyết định rằng tôi đã ở trong đó đủ lâu, và tôi đã không trở nên đủ “mềm hơn”. Cách dễ nhất để đưa tôi ra ngoài, chúng nghĩ, là đổ đầy nước vào xà lim, để tôi có thể nổi lên mặt nước như một cái nút chai nổi lên bề mặt của một cái bình đầy nước. Khi tôi nổi lên đến đỉnh, tới cổ hẹp của xà lim, một bàn tay thô bạo túm lấy và lôi tôi ra ngoài. Tôi bị lôi ra để đến một xà lim khác, lần này đến một phòng giam trên mặt đất, và bị ném vào.

Ngày hôm sau tôi bị đưa ra làm việc, để chữa trị cho các bệnh nhân lần nữa. Cuối tuần đó, có một cuộc thanh tra khác của các sĩ quan cao cấp Nhật Bản. Có nhiều việc gấp gáp hơn. Việc thanh tra được thực hiện mà không có bất cứ sự cảnh báo trước nào, và bọn lính gác rất hoảng loạn. Tôi nhận thấy mình lúc đó đang ở gần với cổng chính của nhà tù. Không ai chú ý tới tôi, vì vậy tôi nắm lấy cơ hội, tiếp tục đi, không quá nhanh, vì tôi không muốn thu hút sự chú ý nhưng cũng không quá chậm, chần chừ ở đó là không có lợi! Tôi tiếp tục bước đi, như thể tôi hoàn toàn có quyền để ra ngoài. Một tên lính gác gọi tôi, và tôi quay lại phía hắn và vẫy tay, như lời chào. Vì lý do nào đó, hắn cũng vẫy tay với tôi, và quay trở lại với công việc đang làm của hắn.

Tôi tiếp tục đi. Khi tôi đã ra ngoài tầm nhìn của nhà tù, khuất sau những bụi cây, tôi chạy nhanh hết sức mà cơ thể yếu ớt của mình cho phép.

Một vài dặm nữa, tôi nhớ đến ngôi nhà thuộc sở hữu của một người phương Tây mà tôi biết. Thực tế, tôi có thể đã giúp đỡ họ gì đó trước đây. Vì thế, một cách thận trọng, tôi tới nhà họ. Họ đưa tôi vào nhà, thốt lên tiếng kêu ấm áp của sự cảm thông. Họ băng bó những vết thương của tôi, và cho tôi ăn, rồi đặt tôi vào giường, khi hứa rằng họ sẽ làm mọi điều có thể để đưa tôi qua phòng tuyến quân Nhật. Tôi rơi vào giấc ngủ, xoa dịu bằng ý nghĩ rằng một lần nữa, tôi lại được ở trong tay bạn bè.

Tiếng la hét và những cú đánh thô bạo sớm đưa tôi trở lại với thực tế, nhanh chóng kéo giật tôi ra khỏi giấc ngủ. Lính Nhật đang đứng phía trên tôi, kéo tôi ra khỏi giường, thúc giục tôi lần nữa bằng lưỡi lê của chúng. Chủ nhà của tôi, sau tất cả những lời cam đoan đầy sự cảm thông, đã chờ đợi cho đến khi tôi ngủ say, và sau đó đã thông báo cho lính gác Nhật rằng họ có một người tù trốn trại. Lính gác Nhật đã không tốn nhiều thời gian để đến bắt tôi. Trước khi bị đưa đi, tôi đã cố gắng hỏi người phương Tây tại sao họ lại phản bội tôi như vậy. Câu trả lời rõ ràng của họ là, “Anh không phải là người của chúng tôi. Chúng tôi phải chăm sóc những người của mình. Nếu chúng tôi giữ anh, chúng tôi sẽ gây mối thù địch với người Nhật, và gây nguy hiểm cho công việc của chúng tôi.”

Trở lại trại tù, tôi bị đối xử thực sự rất tệ. Trong nhiều giờ, tôi bị treo bằng dây lên những cành cây, treo bằng cách buộc hai ngón tay cái với nhau. Sau đó, có một loại phiên tòa giả hiệu ở phía trước sĩ quan chỉ huy trại. Hắn được cho biết, “Người đàn ông này là một kẻ trốn tù liên tục. Hắn đang gây ra cho chúng ta quá nhiều việc.” Vì vậy hắn đã tuyên án tôi. Tôi bị tháo xuống, và đặt trên mặt đất. Sau đó chúng kê bên dưới chân tôi để chân tôi được đỡ khỏi mặt đất. Mỗi tên lính gác Nhật đứng lên một chân tôi, và nhảy bật lên, để xương bị gãy. Tôi ngất đi vì đau đớn cực độ. Khi tôi phục hồi được ý thức thì thấy mình đã trở lại xà lim ẩm ướt và lạnh, với những con chuột nhung nhúc xung quanh tôi.

Sẽ chết nếu không tham gia điểm danh vào thời gian trước bình minh, và tôi biết điều đó. Một bạn tù mang đến cho tôi một số nẹp tre, và buộc thanh nẹp vào từng chiếc chân để đỡ những cái xương bị gãy. Tôi sử dụng hai thanh tre khác làm nạng, và thanh thứ ba tôi dùng làm một loại giá ba chân để giữ thăng bằng. Bằng cách đó, tôi đã cố gắng để tham gia điểm danh, và vì vậy đã tự cứu mình khỏi cái chết vì bị treo cổ, hoặc lưỡi lên đâm, hoặc bị mổ bụng, hoặc bằng bất cứ cách nào khác trong các hình thức thông thường mà lính Nhật rất quen thuộc.

Ngay khi chân tôi được điều trị và xương đã liền – mặc dù không tốt lắm, vì tôi phải tự mình đặt lại chúng – tên sĩ quan chỉ huy trại đã cho gọi tôi, và nói với tôi rằng tôi sẽ được chuyển đến một trại khác sâu trong lãnh thổ, ở đó tôi sẽ là một nhân viên y tế của trại giam này của tù nhân nữ. Vì vậy, một lần nữa, tôi tiếp tục chuyển đi. Lần này, có một đoàn hộ tống bằng các xe tải sẽ đi tới trại giam, và tôi là tù nhân duy nhất được chuyển đến đó. Vì thế tôi bị bắt lên xe và bị xích lại như một con chó gần cửa phía sau của một xe tải. Cuối cùng, vài ngày sau đó, chúng tôi đến trại giam nơi tôi bị đưa ra và dẫn đến chỗ viên sĩ quan chỉ huy.

Ở đây chúng tôi không có bất cứ loại thiết bị y tế nào, và cũng không có thuốc. Chúng tôi chế tạo ra những thứ mà chúng tôi có thể làm từ những vỏ hộp cũ bằng cách mài trên những hòn đá, làm từ tre đã được tôi cứng qua lửa, và từ những sợi chỉ được tháo ra từ quần áo đã rách nát. Một số phụ nữ không có cái quần áo nào cả, hoặc rất nát. Các ca phẫu thuật được thực hiện khi các bệnh nhân còn tỉnh táo, và các bộ phận cơ thể bị rách được khâu bằng bông luộc. Thường vào ban đêm, lính Nhật sẽ đến và ra lệnh đưa tất cả những người phụ nữ ra để kiểm tra. Bất kỳ người phụ nữ nào mà chúng thấy thích, chúng sẽ đưa đến khu vực đóng quân để cho các sĩ quan hoặc khách của chúng giải trí. Buổi sáng, những người phụ nữ bị trả lại, họ trông vẻ rất hổ thẹn, và ốm yếu, và tôi là tù nhân làm bác sĩ sẽ phải cố gắng vá víu những cơ thể bị đối xử tàn tệ của họ.

Emil Group (emilgroup.net@gmail.com) tổng hợp từ lobsangrampa.org.
Nguồn: minhtrietmoi.org

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *