Bác sĩ từ Lhasa – 08 – khi trái đất còn non trẻ

Chương 8: Khi trái đất còn non trẻ

Đầu buổi sáng hôm sau, rất lâu trước khi những tia sáng đầu tiên của ánh bình minh xuất hiện trên bầu trời, cánh cửa phòng giam bật mở một cách thô bạo, bị giật đập vào trường đá kêu ầm ĩ. Những tên lính gác xông vào, tôi bị kéo đứng lên, và ba hay bốn tên lính gác xô lắc dữ tợn. Sau đó, chúng còng tay tôi lại, và tôi bị lôi ra khỏi phòng giam, dường như đó là con đường dài, rất dài. Những tên lính gác không ngừng thúc tôi đi bằng báng súng, cũng không nhẹ nhàng chút nào. Mỗi lần làm như vậy, mà điều đó quá thường xuyên, chúng hét lên, “Hãy trả lời ngay, mày là kẻ thù của hòa bình. Chúng tao sẽ moi được sự thật từ mày.”

Cuối cùng, chúng tôi đã đến Phòng Thẩm vấn. Ở đây có một nhóm các sĩ quan đang ngồi thành hình bán nguyệt, trông dữ tợn, hoặc cố gắng để trông có vẻ dữ tợn. Trên thực tế, đối với tôi, chúng cứ như là một băng đảng của các nam sinh cư xử tàn bạo. Chúng cúi chào kiểu cách khi tôi bị đưa vào phòng.

Sau đó, một sĩ quan cao cấp, một đại tá, thúc tôi nói sự thật. Hắn ta bảo đảm với tôi rằng người dân Nhật Bản rất thân thiện, và yêu chuộng hòa bình. Nhưng tôi, hắn nói, là một kẻ thù của người dân Nhật Bản bởi vì tôi đang cố gắng chống lại quá trình đưa hòa bình đến với Trung Quốc. Trung Quốc, hắn nói với tôi, cần phải là thuộc địa của Nhật Bản, bởi vì đất nước Trung Quốc không văn minh! Hắn tiếp tục, “Nhật bản chúng tôi là những người bạn thực sự của hòa bình. Anh cần phải nói cho chúng tôi mọi điều. Hãy nói cho chúng tôi biết về những sự di chuyển của Trung quốc, và về sức mạnh của họ, và các cuộc trao đổi của anh với Tưởng Giới Thạch, để chúng tôi có thể đè bẹp sự nổi loạn của Trung Quốc mà không mất đi những người lính của chúng tôi.” Tôi nói, “Tôi là một tù binh chiến tranh, và yêu cầu được đối xử như vậy. Tôi không có gì để nói hơn nữa.” Hắn nói, “Chúng tôi phải nhìn thấy mọi người được sống trong hòa bình dưới sự che chở của Thiên Hoàng. Chúng tôi sẽ có một đế chế Nhật Bản mở rộng. Anh sẽ nói sự thật.” Chúng không nhẹ nhàng chút nào cả trong phương pháp thẩm vấn. Chúng cần thông tin, và chúng không quan tâm những gì chúng làm để có được thông tin đó.

Tôi từ chối nói bất cứ điều gì, vì vậy chúng đánh tôi, đập xuống thật mạnh bằng báng súng trường một cách tàn bạo lên ngực, lưng hoặc đầu gối tôi. Sau đó, tôi bị lũ lính kéo chân ra để chúng tiếp tục đánh xuống. Sau nhiều, rất nhiều giờ, trong thời gian đó tôi bị đốt cháy bằng đầu thuốc lá, chúng quyết định sử dụng các biện pháp mạnh hơn nữa. Tôi bị trói tay và chân, rồi kéo lê trở về phòng giam. Ở đây, tôi tiếp tục bị trói tay chân trong vài ngày. Phương pháp của bọn Nhật là hành hạ tù nhân thật đau đớn. Cổ tay tôi bị buộc lại với nhau ở sau gáy. Sau đó cổ chân tôi bị buộc với cổ tay, và chân bị gập lại ở đầu gối, để lòng bàn chân cũng úp vào gáy. Sau đó, một sợi dây thừng đi qua từ cổ chân và cổ tay trái vòng quanh cổ tôi, và đi xuống buộc vào cổ chân và cổ tay phải, để nếu như tôi cố gắng nới lỏng tư thế của mình thì tôi cũng đồng thời chẹn vào cổ mình. Đó thực sự là một quá trình đau đớn, không ngừng như một cánh cung căng thật mạnh. Thường xuyên có một tên lính gác đi vào và đá tôi chỉ để xem có gì xảy ra không.

Trong vài ngày tôi bị giữ như vậy, không cởi trói dù chỉ nửa giờ một ngày; trong vài ngày chúng giữ tôi như vậy, và chúng không ngừng đến và hỏi thông tin. Tôi không kêu một tiếng và trả lời không gì khác hơn, “Tôi là một nhân viên quân đội Trung Quốc, không phải là sĩ quan chiến đấu. Tôi là một bác sĩ và là một tù nhân chiến tranh. Tôi không có gì để nói hơn nữa.”

Cuối cùng, chúng phát mệt vì tra hỏi tôi, vì thế chúng mang tới trong một cái ống, và đổ thật mạnh nước cay vào lỗ mũi tôi. Tôi cảm thấy như thể toàn bộ óc tôi bốc lửa. Cứ như là những con quỷ đang tiếp thêm những ngọn lửa bên trong tôi. Nhưng tôi không nói, và chúng không ngừng gia tăng các biện pháp mạnh dùng trái ớt và nước, và thêm cả mù tạt. Cái đau thật không thể tưởng tượng được. Cuối cùng, máu tươi ộc ra từ miệng tôi. Ớt đốt sạch niêm mạc mũi tôi. Tôi đã cố gắng sống sót trong mười ngày, và tôi nghĩ rằng chúng nhận thấy phương pháp đó sẽ làm tôi không nói được, vì thế, khi nhìn thấy máu tươi, chúng bỏ đi.

Hai hoặc ba ngày sau đó, chúng tôi lại đến chỗ tôi, và mang tôi đến phòng thẩm vấn. Tôi bị khênh đi, bởi vì tôi không thể bước đi được cho dù tôi đã cố gắng, cho dù bị đánh đập bằng báng súng và thúc bằng lưỡi lê. Tay và chân tôi bị trói quá lâu nên không thể cử động được. Bên trong phòng thẩm vấn, tôi vừa bị ném vào, và những tên lính gác, bốn tên trong số chúng, giữ tôi đứng trước những tên sĩ quan đang ngồi thành một vòng tròn bán nguyệt. Lúc này, chúng có trước mặt nhiều dụng cụ lạ mà tôi, từ những nghiên cứu của mình, biết đó là những dụng cụ để tra tấn “Mày sẽ nói cho chúng tao sự thật ngay bây giờ, và đừng có làm lãng phí thời gian của chúng tao,” tên đại tá nói. “Tôi đã nói tôi là một nhân viên của quân đội Trung Quốc.” Đó là tất cả những gì tôi đáp lại.

Những tên người Nhật đỏ mặt lên vì giận dữ, và theo mệnh lệnh, tôi bị trói chặt vào một cái bảng với hai cánh tay dang rộng như thể tôi đang trên thập tự giá. Một mảnh tre dài bị cắm vào dưới những móng tay tôi, sâu đến tận khớp ngón út, sau đó chúng quay những mảnh tre. Thực sự đau đớn, nhưng điều đó cũng vẫn không mang lại cho chúng câu trả lời. Vì thế lũ lính gác nhanh chóng rút các mảnh tre ra, và sau đó một cách từ từ, từng móng tay của tôi lần lượt  bị tách ngược ra sau.

Nỗi đau thực sự tồi tệ. Còn tệ hơn nữa khi lính Nhật nhỏ nước muối vào những đầu ngón tay đang chảy máu. Tôi biết rằng tôi không được nói và không được phản bội những người bạn của mình, và vì thế tôi gọi bằng tư tưởng xin lời khuyên của Thầy tôi, Đại Đức Lạt Ma Mingyar. “Đừng tập trung vào chỗ đau, Lobsang, vì nếu con làm thế tức là con tập trung tất cả năng lượng của con vào chỗ đó, và khi đó sẽ đau không thể chịu được. Thay vào đó hãy nghĩ đến những điều gì đó khác. Hãy kiểm soát tâm trí của con, và hãy nghĩ về những điều khác, bởi vì nếu con làm như vậy con cũng vẫn sẽ có những cơn đau và có những hậu quả của cơn đau, nhưng con sẽ có thể chịu đựng được. Dường như chỉ là điều gì đó âm thầm.” Vì vậy, để giữ cho mình sáng suốt, và tránh đưa ra những cái tên và thông tin tôi đặt tâm trí mình vào những điều khác. Tôi nghĩ về quá khứ, về nhà tôi ở Tây Tạng, và về Thầy của tôi. Tôi nghĩ về sự khởi đầu của những điều tôi đã biết khi còn ở Tây Tạng.

Bên dưới cung điện Potala là những đường hầm bí ẩn bị che dấu, những đường hầm có thể nắm giữ chìa khóa về lịch sử của thế giới. Những điều này làm tôi quan tâm, chúng hấp dẫn tôi, và nó có thể là mối quan tâm để gợi nhớ lại một lần nữa những gì tôi đã nhìn thấy và đã học ở đó, vì đó là kiến thức mà người phương Tây rõ ràng là không thể chiếm giữ.

Tôi nhớ lúc đó tôi còn là một tu sĩ rất trẻ đang được đào tạo. Đấng Thái Tuế, Đức Đạt Lai Lạt Ma, đã sử dụng sự giúp ích bằng khả năng thấu thị của tôi ở cung điện Potala, Ngài rất hài lòng về tôi và đã ban thưởng cho tôi được phép đi thăm quan cung điện. Một hôm, Thầy của tôi, Lạt Ma Mingyar Đại Đức, cho gọi tôi, “Lobsang, ta đã suy nghĩ nhiều về quá trình phát triển của con, và đi đến kết luận rằng con đang ở độ tuổi và đã đạt được một trạng thái phát triển mà con có thể học với ta các tác phẩm trong các hang động bí ẩn. Đi nào!”

Người đứng dậy, và cùng với tôi ở bên Người, chúng tôi cùng đi ra khỏi phòng, xuống hành lang, xuống rất nhiều bậc, đi qua các nhóm các nhà sư đang làm công việc hàng ngày của họ, đang giải quyết các công việc trông nom chăm sóc bên trong cung điện Potala. Cuối cùng, sâu xuống trong bóng tối của núi, chúng tôi đến một căn phòng nhỏ tách ra phía bên phải của hành lang. Ít ánh sáng chiếu qua cửa sổ ở đây. Bên ngoài những lá cờ nghi lễ cầu nguyện bay phần phật trong gió. “Chúng ta sẽ vào đây, Lobsang, để chúng ta có thể khám phá những khu vực mà chỉ có vài vị Lạt Ma có quyền vào.”

Trong căn phòng nhỏ, chúng tôi cầm những chiếc đèn từ trên các kệ, và đổ đầy bơ. Sau đó, mỗi người chúng tôi cầm theo một chiếc để dự phòng. Những chiếc đèn chính đã được thắp sáng, và chúng tôi bước ra ngoài, đi xuống hành lang, Thầy tôi đi trước dẫn đường. Chúng tôi tiếp tục đi xuống, xuống hành lang, cứ đi xuống mãi. Ở cuối quãng đường dài, chúng tôi đến một căn phòng. Đối với tôi, nơi đây dường như kết thúc hành trình. Nơi đó là một kho chứa. Những hình dáng kỳ lạ, những hình ảnh, những đồ vật linh thiêng, và các vị thần ngoại quốc, những quà tặng từ khắp nơi trên thế giới. Đây là nơi mà Đức Đạt Lai Lạt Ma cất những quà tặng mà Ngài chưa sử dụng ngay.

Tôi nhìn quanh một cách tò mò mãnh liệt. Tôi không nhìn thấy điều gì có ý nghĩa ở đây. Tôi nghĩ chúng tôi sẽ khám phá, và nơi đây chỉ là phòng chứa đồ. “Thưa Thầy,” tôi nói, “chắc là chúng ta đã nhầm đường khi đến đây chăng?” Thầy nhìn tôi và mỉm cười nhân từ. “Lobsang, Lobsang, con nghĩ ta nhầm đường thật sao?” Thầy mỉm cười khi quay đi, và bước đến bức tường phía xa.

Trong một lát, Thầy nhìn quanh và sau đó làm một cái gì đó.

Tôi đứng đủ xa để có thể thấy Thầy đang phí thời gian với cái hình mẫu nào đó trên tường, một vài chỗ lồi lên bằng thạch cao như được tạo ra bởi bàn tay thiếu sinh khí lay lắt nào đó. Cuối cùng, một tiếng động ầm ầm như thể đá đang rơi xuống và tôi quay tròn trong hoảng hốt, nghĩ rằng có lẽ trần nhà đang sập xuống hoặc sàn nhà đang sụp đổ. Thầy tôi bật cười. “Ồ, không, Lobsang, chúng ta rất an toàn, hoàn toàn an toàn. Đây là nơi chúng ta sẽ tiếp tục cuộc hành trình của mình. Đây là nơi chúng ta bước vào một thế giới khác. Một thế giới mà ít người đã thấy. Hãy đi theo Thầy.”

Tôi nhìn kinh ngạc. Một phần của bức tường trượt sang một bên để lộ ra một cái hố tối om. Tôi có thể thấy một con đường bụi bặm đi từ căn phòng vào đó, rồi biến mất trong tối tăm u ám. Cảnh tượng làm cho tôi chôn chân tại chỗ trong kinh ngạc, “Nhưng thưa Thầy!” Tôi kêu lên, “không có một dấu hiệu nào của cái cửa ở đó cả. Nó đã xảy ra như thế nào? ” Thầy bật cười và nói, “Đây là một lối vào đã được làm từ nhiều thế kỷ trước. Bí mật của nó đã được giữ gìn cẩn mật. Trừ những người được biết, người ta không thể mở cánh cửa này, và dù tìm kiếm như thế nào đi chăng nữa, cũng không có dấu hiệu của khớp nối hoặc vết nứt nào cả. Nhưng nào, Lobsang, chúng ta sẽ không thảo luận về cách thức xây dựng. Chúng ta đang lãng phí thời gian. Con sẽ còn thấy nơi này thường xuyên.” Cùng lúc đó, Người quay đi và dẫn đường đi vào cái hố đó, đi vào con đường hầm bí ẩn ở xa phía trước. Tôi đi theo sau lo lắng.

Thầy để cho tôi đi qua, sau đó Người quay lại và thao tác cái gì đó. Một lần nữa vang lên tiếng ầm ầm, và tiếng rít kèn kẹt đáng lo ngại, toàn bộ bức từng bằng đá trượt trước mắt tôi và che kín cái hố. Bây giờ chúng tôi ở trong bóng tối, chỉ còn được chiếu sáng bằng những tia sáng nhấp nháy ánh lửa màu vàng của ngọn đèn chúng tôi mang theo. Thầy vượt qua tôi, và đi tiếp. Những bước chân của Người, mặc dù đã được làm cho bớt tiếng kêu, vẫn vang vọng lạ kỳ từ các vách đá, tiếp tục vang mãi. Người tiếp tục đi mà không nói gì. Có lẽ chúng tôi đã đi hơn một dặm (1 dặm = 1,61 km), sau đó đột nhiên mà không báo trước, đột ngột đến nỗi tôi va vào Thầy với tiếng kêu kinh ngạc, vị lạt ma phía trước tôi dừng lại. “Ở đây chúng ta cần đổ thêm bơ vào đèn, Lobsang, và cho vào những cái bấc to hơn. Chúng ta cần ánh sáng bây giờ. Hãy làm như Thầy, và sau đó chúng ta sẽ tiếp tục hành trình.”

Lúc này chúng tôi đã có ngọn lửa sáng hơn để chiếu sáng đường đi, và chúng tôi tiếp tục chặng đường rất dài, dài đến nỗi tôi cảm thấy mệt và sốt ruột. Sau đó tôi để ý và nhận thấy rằng lối đi trở nên rộng hơn và cao hơn. Như thể chúng tôi đang đi dọc theo đoạn cuối hẹp của một cái phễu, đến gần cuối rộng hơn. Chúng tôi đi quanh một cái hành lang và tôi kêu lên kinh ngạc. Tôi thấy trước mắt mình một cái hang động rộng lớn. Từ mái và vách hang có vô số điểm sáng vàng, ánh sáng phản chiều từ những ngọn đèn bơ của chúng tôi. Hang động xuất hiện mênh mông. Ánh sáng yếu ớt của chúng tôi chỉ càng làm nổi bật vẻ rộng lớn bao la và bóng tối của nó.

Thầy đi đến bên một khe hở ở bên trái lối đi, và với một tiếng rít chói tai, Người kéo ra một vật gì đó ống hình trụ lớn bằng kim loại. Nó có lẽ cao bằng nửa chiều cao một người đàn ông, và rộng bằng chỗ lớn nhất của một người. Nó tròn, và có một thiết bị ở trên đỉnh mà tôi không hiểu, có lẽ là một cái lưới trắng, nhỏ. Lạt ma Mingyar Đại Đức làm cái gì đó với vật này, sau đó chạm cây đèn bơ của Người vào đỉnh của nó. Ngay lúc đó, một ngọn lửa trắng vàng sáng bừng lên giúp tôi có thể nhìn thấy được rõ ràng. Có một tiếng xì khe khẽ từ ánh sáng, như là nó đang được thoát ra khỏi sức ép. Thầy tôi tắt những ngọn đèn bơ nhỏ của chúng tôi sau đó. “Chúng ta sẽ có đủ ánh sáng nhờ cái này, Lobsang, chúng ta sẽ mang nó theo cùng. Thầy muốn con được học một vài điều lịch sử từ những thời đại xa xưa.”

Tôi đi về phía trước kéo theo chiếc đèn sáng rực rỡ tuyệt vời này, cái hộp lửa này, trên một vật giống như cái búa nhỏ. Nó di chuyển một cách dễ dàng. Chúng tôi tiếp tục đi xuống con đường một lần nữa, ngày càng đi xuống, cho tới khi tôi nghĩ rằng chắc chúng tôi phải xuống đến lòng trái đất rồi. Cuối cùng thì Thầy cũng dừng bước. Phía trước tôi là bức tường màu đen, lốm đốm những mảng vàng lớn trên đó, và trên vàng là những bức chạm khắc, hàng trăm, hàng nghìn bức. Tôi ngắm nhìn chúng, sau đó tôi nhìn sang phía bên kia. Tôi có thể nhìn thấy ánh sáng lung linh màu đen của nước, như thể trước mắt tôi là một cái hồ nước lớn.

“Lobsang, hãy tập trung vào đây. Con sẽ biết về điều đó sau này. Thầy muốn nói với con một chút về nguồn gốc của Tây Tạng, nguồn gốc của những điều mà trong những năm sau này, con có thể tự mình kiểm tra khi con tham gia một chuyến thám hiểm mà hiện nay ta đang lên kế hoạch.” Thầy nói, “Khi con đi xa xứ sở của chúng ta, con sẽ thấy những người không biết gì về chúng ta nói rằng người Tây Tạng hoang dã dốt nát, những kẻ tôn thờ quỷ dữ và ham mê những nghi lễ không thể tưởng tượng nổi. Nhưng Lobsang, chúng ta có nền văn hóa lâu đời hơn bất cứ dân tộc nào ở phương Tây, chúng ta có hồ sơ được cất giấu cẩn thận và bảo quản từ trước qua nhiều niên đại.”

Thầy đi ngang qua tới bên những chữ khắc và chỉ ra những hình vẽ khác nhau, những biểu tượng khác nhau. Tôi nhìn thấy những bản vẽ của con người, của động vật – những loài động vật không phải như chúng ta biết ngày nay – và sau đó Người chỉ ra bản đồ của bầu trời, nhưng bản đồ mà tôi thậm chí cũng biết không phải của thời đại ngày nay, bởi vì các vì sao được biểu thị khác và ở các vị trí sai. Vị lạt ma dừng lại, và quay sang tôi, “Thầy hiểu điều này, Lobsang, Thầy đã được dạy ngôn ngữ này. Bây giờ Thầy sẽ đọc cho con, đọc cho con câu chuyện lâu đời này, và sau đó, trong những ngày tới đây, Thầy và các vị lạt ma khác sẽ dạy cho con ngôn ngữ bí truyền này để con có thể tới đây và tự ghi chép, hãy giữ những tài liệu nghiên cứu của con, và tự rút ra kết luận cho riêng mình. Nó có nghĩa là học, học và học. Con sẽ phải đến và khám phá những hang động này vì còn có nhiều hang động nữa và chúng còn mở rộng hàng dặm bên dưới chúng ta.”

Trong một lúc, Người đứng nhìn vào nhưng chữ khắc. Sau đó, Người đọc cho tôi nghe một phần của quá khứ. Phần lớn những gì Người nói sau đó, và rất nhiều hơn nữa những gì mà tôi đã nghiên cứu về sau, chỉ đơn giản là không thể đưa ra trong một cuốn sách như thế này. Người đọc thông thường sẽ không tin, và nếu anh ta có tin và anh biết một vài điều bí mật, sau đó anh ta có thể làm như những người khác đã làm trong quá khứ; sử dụng các thiết bị mà tôi đã nhìn thấy vì lợi ích của riêng mình, để giành lấy quyền làm chủ đối với những người khác, và để tiêu diệt những người khác như những quốc gia hiện này đang đe dọa tiêu diệt lẫn nhau bằng bom nguyên tử. Bom nguyên tử không phải là một khám phá mới. Nó đã được phát hiện ra từ hàng ngàn năm trước, và nó đã mang lại thảm họa cho trái đất sau đó, cũng như nó sẽ làm bây giờ nếu con người không chấm dứt sự điên rồ của mình.

Trong từng tôn giáo trên thế giới, trong từng giai đoạn lịch sử của mỗi bộ tộc và quốc gia, đều có câu chuyện về Nạn Hồng Thủy, về thảm họa mà trong đó các dân tộc đã bị chìm ngập, thảm họa mà trong đó những xứ sở bị chìm và những vùng đất dâng lên, và trái đất ở trong tình trạng hỗn loạn. Điều đó có trong lịch sử của người dân Incas, người Ai Cập, các tín đồ Kito giáo, tất cả mọi người. Điều đó, như chúng ta biết, bị gây ra bởi bom; nhưng hãy để tôi nói với các bạn nó đã xảy ra như thế nào, theo những chữ khắc đã kể lại.

Thầy tôi an tọa trong tư thế hoa sen, đối diện với những dòng chữ khắc trên đá, với ánh sáng rực rỡ ở phía sau Người tỏa ánh sáng vàng chói ngời trên những bản khắc lâu đời. Người ra hiệu cho tôi cùng ngồi. Tôi ngồi bên cạnh Người, để tôi có thể nhìn thấy các nét đặc biệt mà Người chỉ. Khi tôi đã an tọa, Người bắt đầu nói, và đây là những gì Người đã nói với tôi.

“Trong những ngày rất, rất xa xưa, trái đất ở một vị trí rất khác. Nó quay tròn rất gần mặt trời, và theo hướng ngược lại, và có một hành tinh khác gần đó, một cặp sinh đôi của trái đất. Ngày ngắn hơn, và do vậy loài người dường như sống lâu hơn, đến hàng trăm năm. Khí hậu nóng hơn, và hệ thực vật nhiệt đới và phong phú. Quần thể động vật có kích thước rất lớn và đa dạng. Lực hấp dẫn yếu hơn nhiều so với ngày nay do tỷ lệ vòng quay của Trái đất khác nhau, và loài người có lẽ to gấp đôi loài người ngày nay, mà thậm chí loài người ngày nay là người lùn khi so sánh với chủng tộc tương tự sống cùng thời. Trên trái đất còn có những chủng tộc khác siêu việt hơn. Họ giám sát trái đất và dạy bảo cho loài người nhiều điều. Loài người mà sau đó giống như một bầy người, một lớp học được một giáo viên tốt bụng dạy dỗ. Những người khổng lồ này đã dạy dỗ loài người rất nhiều. Họ thường nhận được nghề mới về kim loại sáng bóng và có thể di chuyển nhanh chóng trên bầu trời. Loài người, loài người dốt nát đáng thương, vẫn còn trên ngưỡng cửa buổi đầu bình minh, không thể hiểu được gì cả, vì khả năng hiểu biết của loài người không nhiều hơn so với loài khỉ.

“Trong nhiều vô kể niên đại, sự sống trên trái đất diễn biến bình yên. Muôn loài sống trong hòa bình và hòa hợp. Loài người có thể trò chuyện bằng thần giao cách cảm mà không cần lời nói. Họ chỉ sử dụng lời nói trong các cuộc chuyện trò của các cư dân trong vùng. Sau đó những người siêu việt, mà họ đông hơn loài người rất nhiều, mâu thuẫn. Lực lượng chống đối tăng lên trong nội bộ của họ. Họ có thể không nhất trí về một vài quan điểm giống như các chủng tộc ngày nay có thể bất đồng ý kiến.

“Một nhóm đã bỏ đi đến một nơi khác của thế giới, và cố gắng để cai trị. Xung đột xảy ra. Một số siêu nhân giết nhau, và họ tiến hành những cuộc chiến khốc liệt, và cố gắng hủy diệt lẫn nhau. Loài người, mong muốn học hỏi, học được cả nghệ thuật chiến tranh; học giết chóc. Vì thế mà trái đất trước đây là một nơi yên bình, trở thành một nơi rối loạn. Trong một thời gian, trong một vài năm, các siêu nhân làm việc trong bí mật, một nửa trong số họ chống lại một nửa kia. Một ngày nọ, có một vụ nổ rất lớn, toàn bộ trái đất rung chuyển và thay đổi hướng đi của mình. Những ngọn lửa khủng khiếp bắn lên bầu trời, và trái đất bị bao bọc trong khói mịt mù.

“Cuối cùng sự náo loạn cũng lắng xuống, nhưng sau nhiều tháng, những dấu hiệu lạ xuất hiện trên bầu trời, những dấu hiệu làm cho loài người của trái đất kinh hoàng. Một hành tinh đang đến gần, và ngày càng to lên rất nhanh. Rõ ràng là nó sẽ đâm vào trái đất. Xuất hiện thủy triều lớn, và gió đến cùng với nó, rồi ngày và đêm luôn lấp đầy những trận bão tố gào thét đầy giận dữ. Hành tinh xuất hiện bao trùm toàn bộ bầu trời, cho đến khi, cuối cùng, nó dường như sắp sụp đổ thẳng vào trái đất. Khi hành tinh ngày càng gần hơn nữa, sống thần xuất hiện và dìm toàn bộ những vùng đất rộng. Động đất rung chuyển toàn bộ bề mặt của địa cầu, các châu lục bị nuốt gọn trong nháy mắt.

“Các chủng tộc siêu nhân quên cả cãi vã, họ vội vã đến các máy sáng loáng của họ. và bay lên bầu trời, tăng tốc rời khỏi tình trạng rắc rối đang xảy ra trên trái đất. Nhưng trên trái đất, những trận động đất vẫn cứ tiếp diễn; những ngọn núi dâng cao lên, đáy biển cũng nổi lên cùng với chúng; các vùng đất lún xuống và chìm ngập trong nước; loài người lúc đó chạy trốn trong sợ hãi, điên cuồng với nỗi sợ những điều mà họ nghĩ là tận thế, và gió không ngừng mạnh lên khủng khiếp, sự náo động và tiếng la hét khó mà chịu đựng được, tiếng ồn ào và tiếng la hét dường như làm vỡ các dây thần kinh và khiến cho con người phát điên cuồng.

“Hành tinh đang đến ngày càng gần hơn và lớn hơn, cho đến khi, cuối cùng, nó đến trong một khoảng cách nào đó và có một vụ va chạm khủng khiếp, và một tia lửa điện sống động  mạnh mẽ bắn ra từ đó. Bầu trời bốc cháy với những tia lửa bắn ra liên tục, và những đám mây bụi than đen hình thành và biến ngày thành đêm liên tục đáng sợ kinh khủng. Dường như mặt trời tự nó đứng yên vì sự kinh hoàng với tai ương, theo các hồ sơ, trong rất, rất nhiều ngày, quả bóng mặt trời màu đỏ vẫn đứng đó, màu đỏ máu với những lưỡi lửa lớn đang bắn ra từ nó. Sau đó, cuối cùng, những đám mây đen dày đặc và tất cả đều là đêm tối. Những cơn gió trở nên lạnh buốt, sau đó thì nóng; hàng nghìn người chết vì sự thay đổi nhiệt độ và lại thay đổi lần nữa. Thực phẩm của các vị Thần, mà một số người gọi là lương thực trời cho, đã giảm. Không có nó, con người của trái đất, và cả các loài động vật trên thế giới, sẽ bị bỏ đói thông qua sự hủy diệt các loại cây trồng, thông qua việc tước đoạt tất cả các loại thực phẩm khác.

“Những người đàn ông và phụ nữ lang thang đi từ nơi này đến nơi khác tìm kiếm nơi trú ẩn, tìm kiếm bất cứ nơi nào mà cái cơ thể mệt mỏi vì bão tố, vì bị tra tấn bởi tình trạng hỗn loạn của họ có thể nghỉ ngơi; cầu nguyện cho sự thanh bình, hy vọng sẽ được cứu vớt. Nhưng mặt đất rung chuyển và vỡ vụn, những cơn mưa đổ xống, và từ vũ trụ luôn đổ đến những tiếng nước chảy và những tia lửa điện. Thời gian trôi qua, khi những đám mấy đen nặng nề trôi đi, mặt trời hiện ra trở nên nhỏ hơn. Nó dường như lùi xa dần, và loài người trên thế giới kêu khóc vì sợ. Họ nghĩ Thần Mặt Trời, Đấng ban cho Sự Sống, đang rời bỏ họ. Nhưng điều lạ là mặt trời vẫn còn đó bây giờ di chuyển trên bầu trời từ đông sang tây, thay vì từ tây sang đông như trước đây.

“Con người mất dấu vết của thời gian. Với sự che khuất mặt trời, không có phương pháp cho phép họ có thể xác định được thời gian đã qua; ngay cả những người khôn ngoan cũng không biết những sự kiện này đã xảy ra bao lâu rồi. Một điều lạ khác nữa trên bầu trời; xuất hiện một thế giới, một thế giới khá lớn, màu vàng, lồi lõm mà nó dường như sắp sửa rơi xuống trái đất. Hành tinh này chúng ta bây giờ đã biết, vì mặt trăng xuất hiện vào thời gian đó, như dấu tích từ vụ va chạm của hai hành tinh. Những giống dân sau này đã tìm thấy chỗ sụp xuống trên mặt đất, ở Siberia, nơi có lẽ bề mặt trái đất bị hư hại bởi sự cọ sát vào nhau của một thế giới khác, hoặc thậm chí là một vị trí mà từ đó mặt trăng bị bật ra.

“Trước khi va chạm, có những thành phố và các tòa nhà cao ốc thể hiện nhiều kiến thức của Giống dân Vĩ đại hơn. Chúng đã bị sụp đổ trong cuộc khủng hoảng, và chỉ còn là đống đổ nát, che đậy tất cả những tri thức bị giấu kín đó. Những người khôn ngoan của các bộ tộc biết rằng trong những đống đổ nát đó là những chiếc hộp chứa các mẫu vật và sách về chạm khắc kim loại. Họ biết rằng tất cả những kiên thức trên thế giới nằm bên trong những đống rác đó, và vì thế họ quyết tâm đào, và khai thác, để xem những gì có thể được lưu lại trong hồ sơ, để họ có thể tăng thêm sức mạnh của riêng họ bằng cách sử dụng những kiến thức của các Chủng tộc Vĩ đại.

“Trong suốt những năm sau đó, ngày càng trở nên dài hơn, cho đến khi ngày dài gần như gấp đôi so với trước khi thiên tai xảy ra, và sau đó trái đất ổn định trong quỹ đạo mới của nó, kèm theo đó là mặt trăng của nó, mặt trăng, một sản phẩm của vụ va chạm. Nhưng trái đất vẫn còn rung chuyển và tiếng ầm ầm, núi tiếp tục dâng cao và phun ra lửa và đá, và cả sự tàn phá.

“Những dòng sông nham thạch lớn xuất hiện đột ngột đổ xuống sườn những ngọn núi mà không có bất cứ dấu hiệu cảnh báo nào, phá hủy toàn bộ những gì nằm trên đường chúng đi qua, thường cuốn theo các chứng tích và các nguồn kiến thức, đối với kim loại cứng mà trên đó nhiều tài liệu đã được viết không bị tan chảy vì nham thạch, mà còn được nó bảo vệ, được bảo quản trong một vỏ bọc bằng đá xốp, theo dòng thời gian, bị xói mòn dần, do vậy những tài liệu chứa bên trong chúng sẽ bị tiết lộ và rơi vào tay những người mà họ sẽ sử dụng chúng. Nhưng cũng phải thời gian rất lâu sau đó. Dần dần, khi trái đất trở nên ổn định hơn trong quỹ đạo mới của nó, cái lạnh len lỏi khắp nơi trên thế giới, và động vật chết hoặc di chuyển đến những khu vực ấm áp hơn. Voi ma mút và khủng long chết vì chúng không thể thích nghi được với những cách thức mới của sự sống. Băng giá rơi từ trên trời xuống, và gió trở nên rét buốt. Lúc này có nhiều mây, trong khi trước đó gần như không có. Thế giới là một nơi rất khác; biển có sóng; trước đó chúng là những hồ nước yên ả, không gợn sóng ngoại trừ khi có làn gió nhẹ ngang qua.

“Bây giờ, những con sóng lớn quất lên trời, trong nhiều năm thủy triều mênh mông và đe dọa nhấn chìm đất đai và con người. Bầu trời nhìn cũng khác. Vào ban đêm, những ngôi sao lạ xuất hiện tại vị trí của những ngôi sao quen thuộc và mặt trăng rất gần. Các tôn giáo mới phát triển vì các tu sĩ lúc đó cố gắng duy trì quyền lực và lợi ích của họ đối với những gì đang xảy ra. Họ quên nhiều về các giống dân vĩ đại, họ chỉ nghĩ đến quyền lực của họ, đến những điều quan trọng của riêng họ. Nhưng họ không thể nói điều này xuất hiện như thế nào, hay điều khác đã xảy ra ra sao. Họ đổ vấy nó cho cơn thịnh nộ của Chúa Trời, và dạy rằng con người được sinh ra trong tội lỗi.

“Thời gian trôi qua, trái đất ổn định trong quỹ đạo mới của nó, và thời tiết trở nên yên ả hơn, con người nhỏ hơn và ngắn hơn. Nhiều thế kỷ trôi qua, và các vùng đất trở nên ổn định hơn. Nhiều chủng tộc mới xuất hiện như thể qua kinh nghiệm, đấu tranh, thất bại và mất mát, được thay thế bằng những con người khác. Cuối cùng một loài người mạnh mẽ hơn phát triển, và một nền văn minh bắt đầu lại, nền văn minh mà nó mang theo từ những ngày đầu non trẻ của mình ký ức chủng tộc về thiên tai thảm khốc nào đó, và một vài trí tuệ mạnh mẽ hơn đã thực hiện việc nghiên cứu để tìm hiểu về điều gì đã thực sự xảy ra.

“Cho tới lúc này, gió và mưa đã có tác động, các hồ sơ cổ bắt đầu lộ ra từ đá nham thạch đổ nát, và trí tuệ của con ngươi trên trái đất phát triển hơn, bây giờ đã có thể thu thập những hồ sơ này và đặt chúng trước những nhà thông thái của họ, những người sau thời gian rất dài, với vô vàn những nỗ lực lớn lao, đã có thể giải mã một vài tác phẩm. Một số ít trong các hồ sơ đã trở nên rõ ràng, và các nhà khoa học hiện thời đã bắt đầu hiểu được chúng, họ bắt đầu điên cuồng tìm kiếm những hồ sơ khác mà cùng với nó mới có được sự hướng dẫn đầy đủ, và lấp được những khoảng trống. Các cuộc khai thác lớn đã được tiến hành, và nhiều tri thức đã được làm sáng tỏ. Sau đó nền văn minh mới đã thực sự xuất hiện. Các đô thị, thành phố đã được xây dựng, nền khoa học bắt đầu gấp rút đi đến hủy diệt. Luôn nhấn mạnh vào sự hủy diệt, sau khi những nhóm nhỏ đạt được quyền lực. Nhìn thấy hoàn toàn rõ ràng rằng loài người có thể sống trong hòa bình, và rằng trước đây, vì không có hòa bình nên đã gây ra thảm họa.

“Trong nhiều thế kỷ, khoa học đã thống trị. Các tu sĩ cho mình là những nhà khoa học, và họ cấm tất cả các nhà khoa học nào không phải là tu sĩ. Họ gia tăng quyền lực của họ; họ tôn thờ khoa học, họ đã làm tất cả những gì có thể để duy trì quyền lực trong tay mình, và để đè bẹp những người dân bình thường và ngăn chặn họ suy nghĩ. Họ tự xem mình là Chúa tể; không việc gì có thể thực hiện được nếu không được sự cho phép của các tu sĩ. Các tu sĩ chiếm đoạt những gì họ muốn: không có cản trở cũng không có sự chống đối, và họ luôn gia tăng quyền lực của họ cho đến khi họ toàn quyền tuyệt đối trên trái đất, khi quên mất rằng đối với con người quyền lực tuyệt đối sẽ mục nát.

“Những chiếc máy bay lớn lao đi trong không khí mà không có cánh, không có âm thanh, lướt đi trên không trung, hoặc lơ lửng không chuyển động mà ngay cả con chim cũng không thể ở trạng thái lơ lửng. Các nhà khoa học đã phát hiện ra bí mật của việc làm chủ được lực hút của trái đất và khả năng chống trọng lực, và khai thác nó cho quyền năng của họ. Những khối đá khổng lồ được đưa vào vị trí mà người ta muốn và một thiết bị rất nhỏ có thể đặt trong lòng bàn tay.

“Không có việc gì là quá khó khăn, bởi vì con người chỉ đơn thuần thao tác cỗ máy của anh ta mà không cần phải cố gắng. Những động cơ đồ sộ làm huyên náo khắp mặt đất, nhưng không có gì di chuyển trên mặt biển ngoại trừ để vui vẻ vì đi lại trên mặt biển quá chậm trừ khi người ta muốn thưởng thức kết hợp cả gió và sóng. Tất cả mọi vật đều đi lại bằng đường hàng không, hoặc xuyên qua trái đất để hành trình ngắn hơn. Người ta di chuyển ra ngoài tới những vùng đất khác, và dựng lên các thuộc địa. Nhưng lúc này người ta đã mất đi quyền năng về thần giao cách cảm thông qua thảm họa của vụ va chạm. Bây giờ họ không còn nói chung một ngôn ngữ nữa; hình thái ngôn ngữ ngày càng trở nên sắc bén, cho đến khi cuối cùng, chúng là những ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt, và không thể hiểu được nhau,

“Thiếu sự trao đổi thông tin, không hiểu biết lẫn nhau và quan điểm của nhau, các chủng tộc tranh cãi, và bắt đầu chiến tranh. Nhiều loại vũ khí đáng sợ được phát minh. Các trận chiến nổ ra ở khắp mọi nơi. Những người đàn ông và phụ nữ trở thành người tàn phế, và các loại tia khủng khiếp được sản xuất và đã gây ra nhiều đột biến trong loài người. Nhiều năm trôi qua, và cuộc chiến tranh trở nên khốc liệt hơn, các cuộc tàn sát khủng khiếp hơn. Các nhà sáng chế ở khắp mọi nơi, được những kẻ cai trị khuyến khích, phấn đấu để sản xuất ra những loại vũ khí nguy hiểm hơn.

“Các nhà khoa học làm việc để đưa ra thiết bị, thậm chí đưa ra nhiều hơn những thiết bị phạm tội khủng khiếp. Những mầm bệnh được tạo ra, và thả xuống đối phương từ máy bay tầm cao. Những trái bom đổ xuống nước thải và bệnh dịch hoành hành khắp trái đất làm tàn lụi con người, động vật và cây cối. Trái đất lại đứng trước sự hủy diệt.

“Ở một vùng xa xôi, xa tất cả những xung đột, một nhóm các tu sĩ nhìn xa trông rộng không bị việc tìm kiếm quyền lực làm cho suy đồi, đã lấy những tấm vàng mỏng, và khắc lên đó lịch sử của thời đại họ, khắc lên đó bản đồ bầu trời và vùng đất. Trên đó, họ cũng tiết lộ bí mật sâu thẳm nhất của nền khoa học của họ, và đưa ra cảnh báo nghiêm khắc về những nguy hiểm mà nó sẽ xảy đến với những người lạm dụng kiến thức này. Nhiều năm trôi qua, trong thời gian đó những tấm khắc này được chuẩn bị, và sau đó, cùng với những mẫu vật của vũ khí thực tế, các công cụ, sách, và tất cả những gì hữu ích, họ đều giấu trong đá và cất giấu ở nhiều chỗ khác nhau để những thế hệ sau này có thể biết được về quá khứ, và có thể tận dụng được nó, ngươi ta hy vọng vậy. Đối với những tu sĩ đã biết về bài học của nhân loại; họ biết điều gì đã xảy ra, và như đã dự đoán, điều tất yếu đã xảy ra.

“Một loại vũ khí mới đã được sản xuất và thử nghiệm. Một đám mây tuyệt vời xoáy lên trên vào tầng bình lưu, và mặt đất rung chuyển, rồi lại quay cuồng, và dường như đu đưa trên trục của nó. Những bức tường nước khổng lồ trào lên mặt đất, và cuốn trôi nhiều chủng tộc của loài người. Lại một lần nữa những ngọn núi chìm sâu xuống đáy biển, và những ngọn núi khác lại dâng cao tới vị trí mới của mình. Một số những người đàn ông, phụ nữ, và động vật đã được cảnh báo từ các tu sĩ đã được cứu bằng những con thuyền nổi trên nước và chống lại được các loại khí độc hại và vi trùng đã tàn phá trái đất. Những người đàn ông và phụ nữ khác được đưa lên cao trên không trung khi vùng đất mà họ cư ngụ trên đó dâng cao lên; Những người khác, không may mắn như vậy, đã bị đưa xuống dưới, có lẽ là sâu dưới nước, hoặc cũng có thể là bên dưới những ngọn núi bị đóng chặt phía trên đầu họ.

“Lũ lụt và lửa cháy và những loại tia giết người đã giết chết hàng triệu người, và chỉ còn rất ít người sống sót trên trái đất lúc này bị cô lập với nhau vì những thay đổi bất thường của thảm họa. Gần như phát điên vì thảm họa, tiếng ồn khủng khiếp và chấn động đã làm mất đi cảm giác của họ, trong nhiều năm họ trốn trong những hang động và rừng rậm. Họ quên đi tất cả nền văn hóa, và họ trở lại giai đoạn hoang dã, trong những ngày sơ khai của nhân loại, khi phủ lên mình da và nước trái cây, và hình thành những bộ lạc rải rác dùng đá lửa.

“Cuối cùng, các bộ lạc mới hình thành, và họ đi lang thang khắp nơi trên gương mặt mới của thế giới. Một số định cư tại Ai Cập ngày nay, số khác ở Trung Quốc, nhưng những người vốn ưa thích vùng đất thấp ven biển, nơi được nhiều chủng tộc cấp cao ưa chuộng, đột nhiên thấy mình ở trên cao hàng nghìn feet (1 foot = 0,3m) so với mặt nước biển, bao quanh là những dãy núi triền miên, và với mặt đất trở lạnh rất nhanh.

“Hàng nghìn người chết trong không khí loãng rét buốt. Những người khác sống sót trở thành tổ tiên của người Tây Tạng mạnh mẽ, hiện đại của vùng đất mà ngày nay là đất nước Tây Tạng. Đó là nơi mà nhóm các tu sĩ nhìn xa trông rộng đã lấy những tấm vàng mỏng, và khắc lên đó tất cả những bí mật của họ. Những tấm khắc mỏng này, và tất cả những mẫu vật của nền thủ công mỹ nghệ của họ, được cất giấu trong hang động của một ngọn núi để các tu sĩ thế hệ sau này có thể đến được. Những tấm khắc và mẫu vật khác được cất giấu trong thành phố đầy ấn tượng trên cao nguyên Chang Tang ngày nay của Tây Tạng.

“Tất cả các nền văn hóa không hoàn toàn tuyệt chủng, tuy nhiên, mặc dù nhân loại đã trở lại trạng thái hoang dã, trong Thời đại Tối tăm. Nhưng có những điểmbiệt lập ở khắp nơi trên mặt đất nơi mà các nhóm nhỏ những người đàn ông và phụ nữ còn sống đang nỗ lực không ngừng để gìn giữ tri thức, để bảo toàn ngọn lửa lung linh rạng ngời của tri thức nhân loại, một nhóm nhỏ những người đang nỗ lực không ngừng trong cảnh tối tăm ảm đạm của sự hoang dại. Trong suốt nhiều thế kỷ mà theo đó có nhiều hình thái tôn giáo, nhiều nỗ lực để tìm ra sự thật về những gì đã xảy ra, và trong suốt thời gian đó luôn luôn ẩn giấu trong đất nước Tây Tạng, trong các hang động sâu thẳm, là những kiến thức, được khắc trên những tấm kim loại vàng bất diệt, vĩnh viễn, không thể hư hoại, đang chờ những người có thể tìm thấy chúng, và giải mã chúng.

“Dần dần loài người lại phát triển một lần nữa. Bóng tối của vô minh bắt đầu tiêu tan. Thời kỳ dã man đã quay sang nền bán văn minh. Thực tế có sự tiến bộ giả hiệu. Các thành phố lại được xây dựng, và máy móc bay trên bầu trời. Một lần nữa những ngọn núi không còn là sự cản trở, con người đi lại khắp thế giới, vượt qua biển, đi tới khắp các vùng đất. Cũng như trước đây, với sự gia tăng kiến thức và quyền năng, họ trở nên ngạo mạn, và áp bức những người dân tộc yếu hơn. Lại có tình trạng bất ổn, hận thù, đàn áp, và nghiên cứu bí mật. Những kẻ mạnh đàn áp kẻ yếu. Những dân tộc yếu hơn phát triển máy móc, và xảy ra chiến tranh, chiến tranh lại kéo dài nhiều năm. Lại có những loại vũ khí mới và kinh khủng hơn nữa được sản xuất. Mỗi bên đều cố gắng tìm ra những loại vũ khí khủng khiếp nhất, và trong lúc đó, ở Tây Tạng, các kiến thức đang nằm im lìm. Đồng thời, trên cao nguyên Chang Tang, một thành phố kỳ diệu nằm đơn độc, không được bảo vệ, đang chứa đựng kiến thức quý giá nhất trên thế giới, đang đợi chờ những người có thể đến, và nhìn thấy, đang nằm đó, chỉ đợi chờ …

Đang nằm. Tôi đang nằm ngửa trên sàn phòng giam trong nhà tù, nhìn lên qua một đám mây đỏ. Máu đang tuôn trào từ mũi tôi, từ miệng tôi, từ các đầu ngón tay và ngón chân tôi. Tôi đau đớn toàn thân. Tôi cảm thấy như tôi đang bị ngâm mình tắm trong lửa. Lờ mờ, tôi nghe một giọng người Nhật nói, “Các anh đã quá tay rồi. Hắn ta không thể sống. Hắn không thể sống được.” Nhưng tôi đã sống. Tôi nhất định rằng tôi sẽ tiếp tục sống, và chỉ cho người Nhật thấy một người Tây Tạng tự kiểm soát mình ra sao. Tôi sẽ chỉ cho chúng thấy không đòn tra tấn độc ác nào có thể bắt một người Tây Tạng khai báo.

Mũi của tôi đã bị vỡ, bị nghiền nát phẳng lên mặt tôi bằng một cú đánh giận dữ bằng báng súng trường. Miệng của tôi bị rạch một vết cắt dài và sâu, xương hàm tôi bị đập vỡ, răng tôi bị đánh văng ra ngoài. Nhưng tất cả những đòn tra tấn của người Nhật không làm tôi khai báo một lời. Sau một thời gian, bọn chúng từ bỏ nỗ lực, thậm chí người Nhật có thể nhận ra sự vô ích của việc cố gắng ép một người đàn ông nói khi người  đó nhất định không nói. Sau nhiều tuần, tôi phải bắt đầu làm công việc xử lý những cơ thể của những người không còn sống. Người Nhật nghĩ rằng bằng cách bắt tôi làm công việc đó, cuối cùng, chúng có thể phá vỡ dây thần kinh của tôi, và có lẽ sau đó tôi sẽ nói.

Chồng chất các tử thi trong cái nóng gắt của mặt trời, những xác chết hôi thối cồng kềnh, và bị đổi màu, không dễ chịu chút nào. Các xác chết trương lên và nứt ra như bong bóng bị đâm. Một hôm tôi nhìn thấy một người đàn ông bị ngã chết. Tôi biết anh ta đã chết vì tôi đã tự mình khám cho anh ta, nhưng những tên lính gác không chú ý; hắn ta chỉ chọn ra hai người đàn ông, họ cùng đu đưa và quăng vào đống xác chết, rồi bỏ đi, để cái nóng mặt trời và những con chuột có thể làm công việc dọn rác. Nhưng không quan trọng việc một người đàn ông chết hay không, bởi vì nếu người đàn ông quá ốm yếu không thể làm việc được, anh ta sẽ bị lưỡi lê đâm ngay tại chỗ và ném vào đống xác chết, hoặc anh ta sẽ bị ném vào đó trong khi vẫn còn sống.

Tôi quyết định rằng tôi cũng sẽ “chết”, và sẽ được ném vào cùng với các xác chết khác, đến đêm, nhờ bóng tối tôi sẽ trốn thoát. Vì vậy, tôi sắp đặt kế hoạch của mình, và trong ba hay bốn ngày, tôi theo dõi cẩn thận lính Nhật và các hoạt động của chúng, và quyết định tôi sẽ hành động như thế nào. Trong hơn một ngày tôi loạng choạng, và hành động cứ như là tôi tôi yếu hơn so với thực tế. Vào ngày mà tôi dự định sẽ “chết”, tôi loạng choạng khi đi lại, loạng choạng ngay từ khi điểm danh vào lúc bình minh. Suốt buổi sáng, tôi thể hiện các dấu hiệu hoàn toàn mệt mỏi, và sau đó, ngay sau buổi trưa, tôi để mình sụp xuống. Điều đó không khó khăn gì, thực sự không phải giả vờ, tôi có thể sụp đổ vì suy yếu bất cứ lúc nào. Những đòn tra tấn mà tôi đã phải chịu đựng đã làm tôi suy yếu nhiều. Thực phẩm thì tồi tệ, càng làm tôi suy yếu nhiều hơn nữa, và tôi thực sự chết vì kiệt sức.

Lúc này tôi đã sụp xuống, và thực sự thiếp đi vì quá mệt nhọc. Tôi cảm thấy cơ thể tôi đang được nâng lên và đu đưa qua lại một cách thô bạo, rồi tôi bị quăng lên. Tác động khi tôi rơi xuống đống xác chết lổm ngổm đã đánh thức tôi dậy. Tôi cảm thấy đống xác bị rung một chút rồi ổn định. Cú sốc khi rơi xuống làm tôi mở mắt; một lính gác đang lơ đãng nhìn về phía tôi, vì thế tôi mở to mắt còn hơn cả mắt của người đã chết thật, hắn ta nhìn đi chỗ khác, hắn đã quá quen với việc nhìn thấy xác chết, và thêm một xác chết nữa cũng chẳng làm hắn bận tâm. Tôi giữ nguyên tư thế, giữ thật yên, khi nghĩ về những việc đã qua và lên kế hoạch tiếp theo. Tôi tiếp tục giữ nguyên tư thế, cho dù các xác chết khác vẫn đang được ném lên xung quanh tôi, lên phía trên đầu tôi.

Một ngày mà dường như đã hàng năm trôi qua. Tôi nghĩ ánh sáng sẽ không bao giờ nhạt phai. Nhưng lâu mãi rồi cũng phải đến lúc những dấu hiệu đầu tiên của đêm đã tới, quanh tôi mùi hôi thối của những xác chết lâu ngày không chịu nổi. Bên dưới tôi, có thể nghe thấy tiếng sột soạt và tiếng rít của những con chuột đang làm cái công việc khủng khiếp của chúng là ăn xác chết. Lúc này và sau đó đống các xác chết sẽ dần dần sụt xuống dưới sức nặng của những thi thể bên trên. Đống xác chết sẽ sụt xuống, và tôi hy vọng nó sẽ không đến nỗi bị đổ lật nhào, như vẫn thường xảy ra, sau đó các xác chết sẽ bị chất đống lên lần nữa, và ai mà biết được, liệu lúc đó tôi có thể còn sống không, hoặc thậm chí còn tệ hơn nữa, thấy mình ở dưới cùng của đống xác chết, khi đó hoàn cảnh của tôi sẽ là vô vọng.

Cuối cùng, những người tù làm việc xung quanh đã đi vào những túp lều của họ. Lính gác tuần tra bên bờ tường, và không khí lạnh của buổi đêm trùm xuống. Mộc cách chậm rãi, ôi, chậm chạp làm sao, ánh sáng bắt đầu mờ nhạt dần. Từng tia sáng vàng xuất hiện trong các khuôn cửa sổ, trong phòng lính gác. Chậm chạp đến mức hầu như không thể nhận thấy được, màn đêm dần buông xuống.

Trong một thời gian dài, rất dài tôi vẫn nằm yên trong đống xác chết. Nằm im xem xét khi nào tốt nhất để tôi có thể hành động. Sau đó, khi các lính gác ở xa, tôi rón rén đẩy sang một bên xác chết ở phía trên tôi, và đẩy đi một cái ở bên cạnh. Nó đổ nhào, và lăn qua một bên đống xác, và rơi xuống nền đất, kêu lạo xạo. Tôi nín thở hoảng hốt; tôi nghĩ rằng chắc chắn bây giờ lũ lính gác sẽ chạy đến, và tôi sẽ bị tìm thấy. Chắc chắn sẽ bị chết khi đi ra ngoài trong đêm tối, vì đèn pha sẽ rọi đến, và bất cứ ai không may bị lính Nhật tìm thấy sẽ bị lưỡi lê đâm đến chết, hoặc có lẽ bị mổ bụng, hoặc treo lên trên một ngọn lửa thiêu chậm rãi, hoặc bất kỳ kiểu chết độc ác nào mà lính Nhật có thể sáng tạo ra, và tất cả điều này sẽ ở trước một nhóm các tù nhân ốm yếu, để dạy cho họ rằng đó không phải là cách khôn ngoan khi cố gắng tìm cách thoát khỏi các Con trai của Thiên hoàng.

Không có gì xảy ra cả. Rõ ràng là lính Nhật đã quá quen với những tiếng sột soạt và tiếng rơi từ đống xác chết. Tôi vừa di chuyển vừa thăm dò. Toàn bộ đống xác chết kêu cọt kẹt và rung lắc. Mỗi lần tôi di chuyển chỉ một chân, và cuối cùng len lỏi tới rìa của đống xác, và tự để mình tuột xuống, túm lấy các xác chết để tôi có thể trèo xuống mười hay mười hai cái chân, bởi vì tôi quá yếu để nhảy và có nguy cơ bị bong gân hoặc gẫy xương.

Những tiếng động nhỏ tôi gây ra không thu hút sự chú ý. Lính Nhật không có khái niệm chút nào về việc có ai đó sẽ ẩn trốn ở nơi khủng khiếp như vậy. Trên mặt đất, tôi di chuyển lén lút và từ từ vào trong bóng tối của những cây ở gần bức tường của trại giam. Tôi chờ đợi trong một lúc. Phía trên đầu tôi, các lính gác đang đến cùng với nhau. Có tiếng chúng nói chuyện thì thầm, và tiếng bật diêm đốt thuốc lá. Sau đó, các lính gác tách ra, một tên đi khỏi chỗ đó, còn tên khác đi xuống, mỗi tên cầm điếu thuốc giấu trong lòng bàn tay khum lại, và bọn chúng ít nhiều đều bị lóa mắt vì ngọn lửa que diêm trong đêm tối. Tôi đã tận dụng điều đó. Lặng lẽ và từ từ, tôi cố gắng trèo qua tường. Đây là một trại lính được dựng lên tạm thời, và lính Nhật không làm hàng rào điện vây quanh. Tôi trèo qua, và lặng lẽ thoát ra trong đêm tối. Cả đêm đó tôi nằm dọc theo cành của một cái cây, gần như nằm trong tầm nhìn của trại lính. Tôi suy luận rằng nếu tôi bị chậm, nếu tôi bị nhìn thấy, lính Nhật sẽ ập đến ngay, chúng sẽ không nghĩ là tù nhân sẽ ở ngay bên cạnh chúng.

Cả ngày hôm sau tôi ở lại chỗ đó, tôi đã quá yếu, và bị bệnh nên không thể di chuyển. Sau đó, vào cuối ngày, khi bóng đêm lại trùm xuống, tôi trườn xuống thân cây, và lần vào trong vùng lãnh thổ mà tôi đã biết rõ.

Tôi biết một người Trung Quốc già sống gần đó, tôi đã giúp nhiều cho bà vợ ông trước khi bà qua đời, và tôi lần đến nhà ông trong bóng đêm. Tôi gõ cửa nhẹ nhàng. Không khí căng thẳng, một không khí sợ hãi. Cuối cùng tôi thì thầm nói tôi là ai. Bên trong có tiếng di chuyển khe khẽ, và sau đó nhẹ nhàng và lặng lẽ, cánh cửa được mở ra vài phân, và khuôn mặt già nua nhìn ra. “À,” ông nói, “vào nhanh lên”. Ông mở cửa rộng hơn, và tôi trườn vào bên dưới cánh tay đang dang ra của ông. Ông đóng cửa, và há miệng ra kinh hoàng khi ông nhìn thấy tôi. Mắt trái của tôi đã bị hỏng nặng. Mũi tôi bị dập phẳng trên khuôn mặt tôi. Miệng của tôi bị cắt và xẻ vết cắt dài và sâu. Ông đun nước nóng, và rửa các vết thương cho tôi, rồi cho tôi ăn. Đêm đó và ngày hôm sau tôi nghỉ tại túp lều của ông. Ông đi ra ngoài, và thu xếp để chở tôi đến phòng tuyến của Trung Quốc. Tôi phải ở lại trong túp lều đó vài ngày, trong vùng quân Nhật tạm chiếm, trong vài ngày khi tôi bị sốt và đã suýt chết ở đó.

Có lẽ sau khoảng mười ngày, tôi đã hồi phục đủ để có thể đứng dậy và đi ra ngoài, và đi dọc theo con đường đã trù tính, tới trụ sở của Trung Quốc gần Thượng Hải. Họ nhìn tôi trong kinh hoàng khi tôi đi vào với khuôn mặt bị đánh đập và vỡ nát, và trong hơn một tháng, tôi phải ở bệnh viện trong khi họ lấy xương từ chân để dựng lại cái mũi của tôi. Sau đó tôi lại được gửi về Trùng Khánh để bình phục trước khi trở lại như một nhân viên y tế hoạt động cho lực lượng y tế của Trung Quốc. Trùng Khánh! Tôi nghĩ tôi sẽ rất vui mừng khi nhìn thấy nó sau tất cả những chuyến phiêu lưu của mình, sau tất cả những gì tôi đã trải qua. Trùng Khánh! Và cũng là nơi tôi đã bắt đầu cùng với một người bạn mà anh ấy cũng đang ở đó để hổi phục những vết thương do chiến tranh gây ra.

Emil Group (emilgroup.net@gmail.com) tổng hợp từ lobsangrampa.org.
Nguồn: minhtrietmoi.org

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *