Bác sĩ từ Lhasa – 05b – chốn xưa

Chương 5b: Chốn xưa

Đây là những ngày thực sự đau buồn đối với chúng tôi, và tôi không có ý định viết về những nghi lễ cũng như về việc xử lý thi hài của Đức Đạt Lai Lạt ma. Chỉ cần nói rằng thi hài của Ngài đã được bảo quản theo phương pháp cổ xưa của chúng tôi, và được đặt ở vị trí nhìn về phía Nam theo phong tục. Không biết bao nhiêu lần đầu quay về hướng Đông. Nhiều người coi đây là lời gợi ý từ bên kia cái chết, nói rằng chúng ta phải nhìn về hướng Đông. Thế đấy, những tên xâm lược Trung Quốc đã đến từ phía Đông để tàn phá Tây Tạng. Quay sang phía Đông thực sự là một dấu hiệu, một lời cảnh báo. Lẽ nào chúng ta lại không chú ý đến nó!

Tôi lại đến nhà của cha mẹ tôi một lần nữa. Ông Tzu đã chết. Nhiều người trong số những người tôi biết đã thay đổi.

Ở đây mọi cái đều xa lạ. Nó không còn là nhà với tôi. Tôi chỉ là một người đến thăm, một người lạ, một Lạt ma cao cấp, một quan chức cao cấp của ngôi chùa, tạm thời trở về từ Trung Quốc. Tôi đã phải chờ đợi để gặp cha mẹ tôi. Cuối cùng thì tôi cũng được dẫn đường đến gặp họ. Câu chuyện gượng gạo, miễn cưỡng. Tôi không còn là con trai của gia đình này nữa, mà là một người lạ. Nhưng không hẳn là một người lạ theo ý nghĩa thông thường, vì cha tôi dẫn tôi vào phòng riêng của ông, và ở đó ông lấy ra từ hộp an toàn Gia phả của dòng họ chúng tôi, và cẩn thận lấy nó ra khỏi hộp mạ vàng.

Không nói một lời, tôi ký tên mình vào mục cuối cùng. Tôi đã ký tên, cấp bậc và trình độ mới của tôi là một bác sĩ và nhà phẫu thuật. Sau đó, Cuốn Gia phả được bọc lại cẩn thận và đặt vào chỗ kín đáo bên dưới sàn nhà. Chúng tôi cùng nhau quay lại căn phòng nơi mẹ và chị gái tôi đang ngồi. Tôi nói lời chào từ biệt và đi ra. Trên sân, những người trông ngựa đang giữ con ngựa của tôi. Tôi trèo lên lưng ngựa và đi qua cái cổng lớn lần cuối cùng. Trái tim tôi nặng trĩu khi tôi trở ra con đường Lingkhor và đi đến Menzekang, bệnh viện chính của Tây Tạng.

Tôi đã từng làm việc ở đây và bây giờ tôi đang đến thăm vị sư già tiền bối người đứng đầu ở đây, Ngài Chinrobnobo, tôi biết rõ về ông, một người rất tốt bụng. Ngài đã dạy tôi nhiều sau khi tôi rời khỏi trường y khoa Iron Hill. Ngài đưa tôi vào phòng và hỏi tôi về y học Trung Quốc. Tôi nói, “Họ cho rằng ở Trung Quốc họ là những người đầu tiên sử dụng phương pháp châm cứu và đắp thuốc, nhưng con biết rõ hơn. Con đã nhìn thấy trong các tài liệu cổ nói về hai phương pháp chữa bệnh này được mang từ Tây Tạng sang sử dụng tại Trung Quốc từ rất, rất nhiều năm về trước.” Ngài quan tâm nhất khi tôi nói với Ngài rằng các chính quyền Trung Quốc và phương Tây cũng đang nghiên cứu tỉ mỉ tại sao hai phương pháp này lại có kết quả, bởi vì chắc chắn chúng rất hiệu quả.

Châm cứu là một phương pháp đặc biệt khi dùng kim thật tốt châm vào những bộ phận khác nhau của cơ thể. Chúng sắc đến mức không cảm thấy đau. Các mũi kim này được châm vào và chúng kích thích các phản ứng chữa bệnh khác nhau. Họ sử dụng những chiếc kim bằng kim loại radium, và tuyên bố nó là phương pháp chữa trị tuyệt vời, nhưng những người phương Đông chúng tôi đã sử dụng châm cứu trong nhiều thế kỷ thành công như vậy. Chúng tôi cũng đã sử dụng phương pháp đắp thuốc. Đây là một phương pháp điều chế các loại thảo dược khác nhau trong một cái ống và đốt cháy một đầu để nó nóng rực màu đỏ. Đầu ống thuốc đã được nung nóng được đưa đến gần vùng da và mô mắc bệnh vì thảo dược sẽ tác động trực tiếp đến các mô tế bào để chữa bệnh rất hiệu quả. Hai phương pháp này đã được chứng tỏ hết lần này đến lần khác, nhưng chúng có hiệu quả chính xác ra sao đã không được xác định.

Tôi nhìn vào nhà kho lớn lần nữa trong đó có chứa vô cùng nhiều loại thảo dược, hơn sáu ngàn loại khác nhau. Hầu hết trong số đó không được biết đến ở Trung Quốc, không được biết đến ở phần còn lại của thế giới. Tatura chằng hạn, là một loại rễ cây, là một chất gây mê mạnh nhất, và nó có thể gây mê hoàn toàn một người trong vòng mười hai giờ liên tục, và, trong tay một thầy thuốc giỏi, sẽ không có bất cứ tác dụng không mong muốn nào. Tôi nhìn quanh, và không thể tìm được điều gì để mà phê phán bất chấp những tiến bộ hiện đại của Trung Quốc và Mỹ. Các phương pháp chữa trị cổ xưa của Tây Tạng vẫn thật tuyệt vời.

Đêm đó tôi ngủ ở chỗ cũ của tôi, và như trong những ngày khi tôi còn là một học trò nhỏ, tôi tham dự các buổi lễ cầu nguyện. Tất cả những điều này đã đưa tôi trở về ngày xưa. Nhớ biết bao những kỷ niệm nơi đó đã in dấu trong từng viên đá! Buổi sáng, khi mặt trời chiếu sáng, tôi leo lên nơi cao nhất của Núi Sắt, và ngắm nhìn cung điện Potala, công viên Serpent, thành phố Lhasa, và những ngọn núi phủ tuyết bao quanh. Tôi ngắm nhìn thật lâu, sau đó tôi trở lại trường Y và nói lời tạm biệt rồi cầm lấy túi đựng tsampa. Sau đó cuốn chăn quanh người và đặt cái áo choàng để thay đổi ở đằng trước, tôi lại leo lên lưng ngựa và đi theocon đường xuống đồi.

Mặt trời ẩn mình phía sau đám mây đen khi tôi đi xuống đến thung lũng cuối con đường và đi ngang qua làng Sô. Khách hành hương ở khắp mọi nơi, đến từ các vùng đất của Tây Tạng, và đến từ những vùng xa xôi, họ đến để thăm viếng cung điện Potala. Những người bán lá số tử vi ở đó đang rao bán các sản phẩm của họ, và những người có thuốc độc và bùa mê phép thuật đang buôn bán náo nhiệt. Những nghi lễ gần đây đã thu hút các thương nhân, nhà buôn, người bán hàng rong và ăn xin đủ các hạng người đổ về Con đường linh thiêng. Gần đó, một đàn bò yak, chất đầy hàng hóa, đang đi vào qua Cổng phía Tây, về các chợ của Lhasa. Tôi dừng lại ngắm nhìn, khi nghĩ rằng có thể tôi sẽ không bao giờ còn nhìn thấy cảnh tượng thân thuộc này nữa, và đau buồn khi nghĩ về việc ra đi.

Có tiếng sột soạt phía sau tôi. “Thưa Ngài Lạt ma y tế tôn kính,” một giọng nói cất lên, và tôi quay lại nhìn thấy một trong những âm công, một trong những người đàn ông đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc nghiên cứu và phẫu thuật cơ thể con người theo lệnh của Đức Đạt Lai Lạt ma thứ mười ba. Khi tôi có thể vượt qua truyền thống lâu đời không được mổ xẻ các tử thi, nhưng tôi, với nhiệm vụ đặc biệt, đã được cung cấp mọi điều kiện thuận lợi để mổ xẻ các tử thi, và đây là một trong những người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công việc đó. Tôi cầu chúc ân huệ cho ông, thực sự cảm thấy vui mừng khi có người từ trong quá khứ đã nhận ra tôi. “Những chỉ dẫn của ông rất tuyệt vời,” tôi nói, “Ông đã dạy tôi nhiều hơn cả trường Đại học y Trùng Khánh.”

Ông có vẻ hài lòng, và thẻ lưỡi ra chào tôi theo cách của người bậc dưới. Ông ta quay đi theo cách truyền thống, và đi vào đám đông tại cổng.

Trong một lúc lâu tôi đứng bên con ngựa của mình lặng ngắm cung điện Potala, ngắm Núi Sắt, và sau đó tôi lên đường, băng qua sông Kyi, và đi qua nhiều công viên tươi đẹp. Mặt đất ở đây bằng phẳng và xanh mướt với màu xanh của cỏ được tưới đủ nước, một thiên đường bốn ngàn mét cao hơn mực nước biển, bao quanh là những dãy núi cao sáu ngàn mét, lốm đốm rất nhiều các lạt ma viện cả lớn và nhỏ, và những am thất biệt lập được xây dựng chênh vênh trên những mỏm núi đá không thể tới gần được. Độ dốc của con đường tăng dần lên, khi trèo lên đèo.

Con ngựa của tôi khỏe khoắn, được chăm sóc cẩn thận và ăn uống đầy đủ. Nó sốt sắng lên đường, còn tôi vẫn nấn ná. Các nhà sư và lái buôn đi qua, một vài người trong số họ nhìn tôi tò mò bởi vì tôi đã không giữ truyền thống và cưỡi ngựa một mình để đi được nhanh hơn. Cha tôi không bao giờ cưỡi ngựa mà không có một đoàn tùy tùng đông đúc phù hợp với chức vị của ông, nhưng tôi là người của thời hiện đại. Vì vậy những người lạ nhìn tôi một cách tò mò, nhưng những người mà tôi biết đều chào thân thiện. Cuối cùng con ngựa và tôi đã lên đến đỉnh núi, và chúng tôi đã đến chỗ biểu tượng lớn bằng những viên đá nơi cuối cùng còn có thể nhìn thấy thành phố Lhasa. Tôi xuống ngựa và buộc con ngựa lại, sau đó ngồi lên một mỏm đá thuận tiện để nhìn xa vào thung lũng.

Bầu trời xanh thẳm, màu xanh mà chỉ nhìn thấy được ở độ cao như vậy. Những đám mây trắng như tuyết trôi uể oải phía trên đầu. Một con quạ đỗ phịch xuống bên cạnh tôi và tò mò mổ vào áo choàng của tôi.  Một cách vô thức, tôi thêm một viên đá vào đống đá lớn bên cạnh tôi theo phong tục, đống đá được đắp dần lên qua nhiều thế kỷ bởi những người hành hương, vì đây là vị trí mà từ đó khách hành hương có thể bắt đầu nhìn thấy hoặc nhìn lần cuối Thành phố Linh thiêng.

Phía trước tôi là cung điện Potala, với những bức tường nghiêng vào bên trong từ chân tường. Các cửa sổ, cũng vậy, nghiêng từ dưới lên trên, để thêm vững chãi. Cung điện trông giống như tòa nhà được các vị thần chạm khắc từ đá thiên nhiên. Lạt ma viện Chakpori của tôi đứng cao hơn cả cung điện Potala mà không lấn át nó. Xa hơn, tôi nhìn thấy những mái nhà vàng của ngôi đền Jo Kang một nghìn ba trăm năm tuổi, bao quanh là các tòa nhà hành chính. Tôi nhìn thấy con đường chính xuyên thẳng qua, những lùm cây liễu, các đầm lầy, đền thờ Rắn, và khu vực đất rất đẹp đó là con đường Norbu Linga và khu vườn của Latma dọc theo bờ sông Kyi Chu.

Những mái nhà vàng của cung điện Potala rực sáng dưới ánh nắng mặt trời, phản chiếu những tia màu đỏ của vàng, với tất cả những mầu sắc của quang phổ. Nơi đây, bên dưới những mái vòm là nơi an nghỉ của các thi hài của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tượng đài bảo quản thi hài của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba ở nơi cao nhất, khoảng hơn hai mươi mét – cao ba tầng nhà – và được bao phủ bởi một tấn vàng nguyên chất tinh khiết nhất. Và bên trong lăng mộ đó có những đồ trang sức quý, đá quý, vàng và bạc, tài sản còn lại đó bên cạnh vỏ ngoài rỗng của chủ nhân trước đây của nó. Và Tây Tạng bây giờ không có Đạt Lai Lạt Ma, vị cuối cùng đã ra đi, và một người khác sẽ đến, theo lời tiên tri, sẽ là một người phục vụ cho chủ ngoại bang, một người sẽ bị bắt làm nô lệ cho những xấu.

Bên sườn thung lũng là các lạt ma viện rộng lớn Drepung, Sera và Ganden. Một nửa bị che khuất trong một bụi cây lấp lánh màu trắng và vàng của Nechung nơi ở của các Thiên Giám Quan của Lhasa, Thiên Giám Quan của Tây Tạng. Drepung thực sự trông giống một núi gạo trắng trải dài xuống sườn núi.

Tôi nhìn xuống Sera, còn được biết với tên Trại hoa hồng, và Ganden, và nhớ về những lần tôi đã ở đó, bên trong những bức tường, bên trong những thị trấn nhỏ có tường bao quanh. Tôi cũng nhìn vào vô số những lạt ma viện nhỏ hơn, xây dựng trên cao ở khắp mọi nơi, trên những sườn núi, trong những khu rừng nhỏ; và tôi cũng nhìn vào các am thất rải rác ở những nơi khó vào nhất, và ý nghĩ của tôi đến với những người bên trong đó, sống đơn độc, có lẽ là cuộc sống trong bóng tối không một chút ánh sáng nào cả, mỗi ngày chỉ ăn một lần, trong bóng tối, không bao giờ trở ra bên ngoài trong thân xác vật lý, nhưng bằng phương pháp tu luyện đặc biệt họ có khả năng di chuyển bằng thể vía, có thể nhìn thấy thế giới bên ngoài khi hồn lìa khỏi xác.

Ánh mắt tôi tha thẩn ngắm nhìn; dòng sông Happy uốn khúc chảy qua các chỗ giao nhau và vùng đầm lầy, ẩn đằng sau rìa những rừng cây, và xuất hiện trở lại vươn mình rộng mở. Tôi ngắm nhìn và thấy ngôi nhà của cha mẹ tôi, một bất động sản lớn mà nó chưa bao giờ là nhà của tôi. Tôi nhìn những người hành hương kéo đến chật ních những con đường, tạo thành những vòng tròn rộng. Sau đó, từ một vài lạt ma viện ở phía xa, tôi nghe trong gió thoảng vang lên tiếng cồng chiêng đền thờ, và cả những tiếng kèn, tôi cảm thấy cổ họng tôi nghẹn lại và cảm giác cay cay nơi sống mũi. Điều đó là quá nhiều đối với tôi. Tôi quay lại và leo lên ngựa, rồi tiếp tục lên đường, đến những vùng đất xa lạ.

Tôi tiếp tục đi qua những vùng đất đang trở nên hoang vu hơn. Tôi đi qua từ những công viên tươi đẹp và những vùng đất phủ cát, và những ngôi nhà với mảnh vườn nhỏ, những vùng đồi lổn nhổn đá, và những đèo núi hoang dã nước đổ qua không ngừng, làm không khí tràn đầy những âm thanh vang dội, văng ra những tia nước làm tôi ướt sũng. Tôi tiếp tục cưỡi ngựa đi, nghỉ qua đêm tại các lạt ma viện như trước đây. Lần này tôi là vị khách được đón chào gấp đôi vì tôi là người đầu tiên có thể cung cấp thông tin về tang lễ đau buồn mới đây tại Lhasa, vì tôi là người của giai đoạn kết thúc kỷ nguyên, một thời kỳ buồn đau sẽ đến trên đất nước chúng tôi. Tôi được cung cấp thực phẩm đầy đủ và những con ngựa mạnh khỏe, và sau vài ngày đi đường tôi lại đến Yan, tôi vui mừng vì ở đó chiếc ô tô to, do Jersi lái, đang đợi tôi. Các báo cáo về việc tôi đang trên đường đã được đưa đến, và vị Hòa thượng già ở Trùng Khánh đã ân cần gửi xe đến đón tôi

Tôi thực sự vui mừng vì người tôi bị đau nhức do cưỡi ngựa, và đầy bụi đất vì đi đường, mệt lử. Vui thích thực sự khi thấy rằng chiếc xe to lớn sáng bóng, sản phẩm của một nền khoa học khác, sản phẩm mà nó sẽ đưa tôi đi nhanh chóng, làm trong vài giờ cái việc mà bình thường tôi phải mất vài ngày để hoàn thành. Vì vậy, tôi vào xe với lòng biết ơn cụ Hòa thượng của ngôi chùa ở Trùng Khánh, cụ như người bạn của tôi và đã dành nhiều quan tâm chăm sóc để tôi được thuận tiện và dễ chịu hơn sau chuyến đi gian khổ, rời xa quê nhà Lhasa của tôi. Ngay sau đó, chúng tôi tăng tốc dọc theo con đường đến Changtu. Chúng tôi đã nghỉ đêm ở đó. Không cần phải vội vã trở về Trùng Khánh tròng vòng vài giờ, nên chúng tôi đã nghỉ lại qua đêm, và sáng hôm sau chúng tôi đi loanh quanh và mua sắm ở đó. Sau đó chúng tôi lại lên xe đi dọc theo con đường đến Trùng Khánh

Cậu bé mặt đỏ vẫn ở bên cái cày của mình, chỉ mặc mỗi chiếc quần ngắn màu xanh. Chiếc cày do những con trâu kéo một cách vụng về. Chúng đầm mình trong bùn cố gắng lật đất lên để trồng lúa. Chúng tôi tiếp tục tăng tốc nhanh hơn nữa, những con chim phía trên đầu đang gọi nhau, và đột ngột sà xuống hoặc đâm bổ xuống như thể cuộc sống hoàn toàn là những niềm vui. Chẳng bao lâu chúng tôi đã đến vùng ngoại ô của Trùng Khánh.  Chúng tôi đi dọc theo con đường, hai bên là những hàng cây bạch đàn màu trắng bạc, những bụi cây xanh có gai, và những cây thông xanh. Chẳng mấy chốc chúng tôi tới con đường nhỏ, tôi xuống xe ở đó và đi bộ theo con đường mòn dẫn tới lạt ma viện. Lại một lần nữa tôi đi qua khoảnh rừng trống có cây đổ nằm ở đó cùng những cây khác nằm nghiêng ngả tôi nhớ biết bao lần mà tôi đã ngồi trên thân cây và nói chuyện với Thầy của tôi, Lạt Ma Mingyar Đại Đức. Tôi dừng lại một lát để thiền, sau đó tôi lại nhặt gói đồ và tiếp tục đi theo con đường lên lạt ma viện.

Vào buổi sáng tôi đến Trùng Khánh, tiết trời nóng nực, oi bức và ngột ngạt. Ngay cả những phu kéo xe lẫn khách ngồi trên đó đều trông vẻ tiều tụy và mệt mỏi, trong cái nóng không thể chịu đựng được. Tôi là người đến từ nơi không khí trong lành ở Tây Tạng, cảm thấy kiệt sức, nhưng vì tôi là một Lạt Ma phải giữ gìn tư thế để làm gương cho những người khác. Trên phố Bảy Ngôi Sao tôi đi ngang qua chỗ Huang đang bận rộn mua sắm, và tôi chào anh. “Huang,” tôi nói, “tất cả những người này đang làm gì ở đây vậy?” “Sao vậy, Lobsang,” anh trả lời, “họ đến từ Thượng Hải. Tình trạng rối loạn do người Nhật gây ra ở đó làm cho các thương nhân phải đóng cửa hiệu của họ và đến Trùng Khánh đây. Tôi hiểu là một vài trường đại học cũng đang nghĩ vậy, và tiện đây,” anh nói tiếp, “tôi có một tin nhắn cho cậu, Tướng quân (nay là Nguyên Soái) Feng Yuhsiang muốn gặp cậu. Ông ấy yêu cầu tôi chuyển cho cậu tin nhắn. Hãy đến gặp ông ấy ngay khi cậu trở lại đây.” “Được rồi,”  tôi nói, “cậu có thể đi cùng mình được không?” anh trả lời là anh sẽ đi cùng với tôi.

Chúng tôi thong thả mua sắm, không quá vội vàng, và sau đó chúng tôi đi trở về lạt ma viện. Khoảng một hay hai giờ sau đó chúng tôi đi lên ngôi chùa, mà gần đó có ngôi nhà của Tướng quân, và tôi đã gặp ông tại đó. Ông nói nhiều với tôi về người Nhật, và những rối loạn họ đang gây ra ở Thượng Hải.

Ông nói với tôi ở Tô giới đã tuyển dụng lực lượng cảnh sát như thế nào, gồm toàn những kẻ tội phạm và lừa đảo, những người không thực sự cố gắng khôi phục lại trật tự. Ông nói, “Chiến tranh đang đến, Rampa, chiến tranh đang đến rồi. Chúng tôi cần tất cả những người bác sĩ đồng thời cũng là phi công. Chúng tôi cần có họ.” Ông đề nghị tôi một nhiệm vụ trong quân đội Trung Quốc, và cho tôi hiểu rằng tôi có thể bay bao nhiêu cũng được tùy ý muốn.

Tướng quân là một người đàn ông cao lớn, phải hơn một mét tám, có bờ vai rộng và một cái đầu rất lớn. Ông đã tham gia nhiều chiến dịch, và cho đến khi những khó khăn do Nhật Bản gây ra, bây giờ ông đã từng nghĩ rằng những ngày làm lính của ông đã qua. Ông còn là một nhà thơ, và ông sống gần đền thờ Ngắm Trăng. Tôi thích ông, ông cũng là một người mà tôi có thể làm việc ăn ý, một người thông minh. Vì vậy, ông nói với tôi, nhìn bên ngoài, có một việc rắc rối, đặc biệt do người Nhật bảo trợ, đã cho họ cái cớ để xâm lược Trung Quốc. Một nhà sư nào đó người Nhật Bản đã bị giết do tai nạn, và các nhà chức trách Nhật Bản đã đòi hỏi thị trưởng thành phố Thượng Hải phải cấm việc tẩy chay hàng hóa Nhật Bản, giải thể Hiệp hội Giải cứu Quốc gia, bắt giữ những nhà lãnh đạo của phong trào tẩy chay, và đảm bảo bồi thường về việc giết chết nhà sư. Ông Thị trưởng, để gìn giữ hòa bình và nghĩ về lực lượng quá mạnh của người Nhật, đã chấp nhận nguyên tắc cơ bản vào ngày 28 tháng Một năm 1932. Nhưng ngay 10:30 đêm hôm đó, sau khi ông Thị trưởng chính thức chấp nhận nguyên tắc cơ bản, thì hải quân Nhật bắt đầu chiếm đóng một số lớn các đường phố trong Tô giới, và như vậy, cũng mở đường cho cuộc chiến tranh thế giới tiếp theo. Đây là toàn bộ tin tức cho tôi. Tôi không biết gì về những điều này bởi vì tôi đang có chuyến đi đến một nơi khác.

Trong khi chúng tôi đang nói chuyện thì có một nhà sư đến, mặc áo choàng màu xám đen, để nói với chúng tôi rằng vị Sư trưởng cao cấp nhất T’ai Shu đang ở đây, và chúng tôi cũng cần phải gặp ông ấy. Tôi phải nói với ông về những sự kiện ở Tây Tạng, về lễ tang cuối cùng của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba thân yêu của tôi. Về phần mình, ông nói với tôi về nỗi sợ hãi nghiêm trọng của ông và những người khác về sự an toàn của Trung Quốc. “Không phải chúng tôi sợ hãi về kết quả cuối cùng,” ông nói, “mà là sự hủy diệt, sự chết chóc và đau khổ sẽ đến trước tiên.”

Vì vậy, một lần nữa, họ thúc ép tôi chấp nhận nhiệm vụ trong quân đội Trung Quốc, để cho họ tùy ý sử dụng việc đào tạo của tôi. Và sau đó đến sự hối thúc. “Anh phải đến Thượng Hải,” Tướng quân nói. “Sự giúp đỡ của anh thực sự rất cần thiết ở đó, và tôi đề nghị là bạn anh, Po Ku, sẽ đi cùng với anh. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng, để anh, và anh ấy, nhận lời.” “Thượng Hải ư?” tôi nói. “Đó là một nơi khủng khiếp. Tôi thực sự không nghĩ nhiều về nó. Tuy nhiên, tôi biết rằng tôi phải đến đó, và vì vậy tôi sẽ nhận lời.”

Chúng tôi tiếp tục nói chuyện mãi, và bóng tối len lỏi dần dần bao trùm lên chúng tôi, và ngày đã mờ tối, cuối cùng chúng tôi phải chia tay. Tôi đứng lên, và đi ra ngoài sân, nơi cây cọ đơn độc đang héo tàn trong cái nóng, với những chiếc lá đang rũ xuống, và ngả màu nâu. Huang đang ngồi kiên nhẫn chờ tôi, ngồi bất động, tự hỏi sao cuộc nói chuyện dài vậy. Anh cũng đứng lên, chúng tôi lặng lẽ đi xuống con đường mòn, vượt qua hẻm núi dốc, và băng qua cây cầu đá nhỏ, đi xuống về phía lạt ma viện của chúng tôi.

Có một tảng đá lớn ngay trước lối vào con đường mòn của chúng tôi và chúng tôi leo lên nó, ở đây chúng tôi có thể nhìn ra khắp con sông. Lúc này đang có nhiều hoạt động. Những con tàu nhỏ chạy bằng hơi nước đang di chuyển thật chậm theo tiếng bình bịch của động cơ dọc theo con sông. Những cuộn khói bốc lên từ ống khói bay đi trong gió thành những dải khói đen. Phải rồi, bây giờ có nhiều tàu chạy hơn trước đây, khi tôi mới rời khỏi Tây Tạng đến đây. Những người tị nạn đang đến mỗi ngày càng nhiều hơn, sự đi lại nhiều hơn, những người có thể nhìn vào tương lai, và thấy được cuộc xâm lược của Trung Quốc thực sự có ý nghĩa gì. Giao thông tắc nghẽn nhiều hơn trong thành phố vốn đã hay bị ách tắc.

Khi nhìn lên bầu trời đêm, chúng tôi có thể nhìn thấy những đám mây bão lớn đang tụ lại, và chúng tôi biết rằng lát nữa, trong đêm nay, sẽ có một cơn bão trút xuống từ trên núi, nước tràn ngập những nơi mưa xối xả và làm điếc tai chúng tôi với tiếng vang và tiếng sấm ầm ầm. Phải chăng, chúng tôi nghĩ, đây là dấu hiệu những khó khăn đang đến trên đất nước Trung Quốc? Dường như chắc chắn là như vậy, không khí rất căng thẳng, náo động. Tôi nghĩ là cả hai chúng tôi cùng thở dài khi nghĩ về tương lai của mảnh đất này, nơi mà cả hai chúng tôi cùng yêu mến. Nhưng màn đêm đã bao trùm lên chúng tôi. Những giọt mưa nặng hạt đầu tiên đang rơi xuống và làm ướt chúng tôi. Chúng tôi cùng nhau quay lại và đi về ngôi chùa, nơi đó vị Hòa thượng đang đợi chúng tôi, nóng lòng để được nghe tất cả những điều đã xảy ra. Tôi thực sự vui mừng được gặp lại ông, và được trao đổi về các vấn đề, và được ông khen ngợi về hướng hành động mà tôi đã đồng ý đảm nhận.

Chúng tôi nói chuyện mãi, rất khuya, thỉnh thoảng lại bị ù tai vì tiếng sấm rền, và tiếng mưa đổ sầm sập trên mái chùa. Cuối cùng, chúng tôi lần về chỗ ngủ trên những tấm đệm trên sàn và chìm vào giấc ngủ. Sáng ra, sau buổi lễ cầu nguyện đầu tiên trong ngày, chúng tôi chuẩn bị để bắt đầu lên đường, khởi đầu giai đoạn khác của cuộc đời, một giai đoạn thậm chí còn xấu hơn nữa.

Emil Group (emilgroup.net@gmail.com) tổng hợp từ lobsangrampa.org.
Nguồn: minhtrietmoi.org

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *