Bác sĩ từ Lhasa – 05a – bên kia cửa tử

Chương 5a: Bên kia cửa tử

Ông già Tsong-tai đã chết, nằm cuộn tròn như thể ông đang ngủ. Tất cả chúng tôi đều đau buồn. Phòng bệnh bao trùm sự thương cảm. Chúng ta đều biết về cái chết, chúng ta đang phải đối mặt với cái chết và đau khổ cả ngày dài, đôi khi cả đêm dài nữa. Nhưng ông già Tsong-tai đã chết.

Tôi nhìn xuống khuôn mặt màu nâu sạm, nhăn nheo của ông, nhìn xuống lớp da co rúm bất động giống như giấy da căng trên khuôn, như sợi gân rút chặt trên chiếc diều khi nó ngân nga trong gió. Ông Tsong-tai là một quý ông hào hiệp. Tôi nhìn xuống khuôn mặt gầy gò, cái đầu quý phải của ông, và những sợi râu trắng thưa thớt.

Những năm trước ông từng là một quan chức cao cấp tại Cung điện của Hoàng đế tại Bắc kinh. Sau đó cách mạng đến và ông già đã bị đuổi đi do hậu quả khủng khiếp của chiến tranh và cuộc nội chiến. Ông đã đến Trùng Khánh, và gây dựng lại từ một người trồng rau để bán, bắt đầu lại từ dưới đáy, tằn tiện chỉ vừa đủ tồn tại từ lớp đất cứng nơi đây. Ông là một người có học, một người mà nói chuyện với ông là một niềm vui. Giờ đây giọng nói của ông đã lặng im mãi mãi. Chúng tôi đã cố gắng hết sức để cứu ông.

Cuộc sống khó khăn mà ông đã trải qua, đã thử thách ông quá nhiều. Rồi tới một ngày ông đã ngã gục xuống trong khi đang làm việc trên cánh đồng. Ông đã nằm đó trong nhiều giờ, quá yếu để có thể tự di chuyển, quá yếu để có thể kêu gọi sự trợ giúp. Cuối cùng, khi người ta đưa ông đến cho chúng tôi, thì đã quá muộn. Chúng tôi đưa ông già tới bệnh viện và tôi đã chăm sóc ông, người bạn của tôi. Bây giờ không thể làm gì hơn được nữa, ngoài việc nhìn ông được chôn cất theo kiểu mà ông muốn, và cũng nhìn thấy người vợ già của ông giờ đây đang lâm vào cảnh túng thiếu.

Tôi âu yếm vuốt mắt cho ông, đôi mắt không còn nhìn chằm chằm vào tôi vẻ giễu cợt khi tôi hỏi ông dồn dập. Tôi chắc chắn đã băng chặt chẽ xung quanh hàm răng của ông để miệng của ông không bị chảy xệ, ông đã cho tôi rất nhiều lời động viên, giảng giải cho tôi rất nhiều về lịch sử và đất nước Trung Quốc, tôi có thói quen gọi ông vào buổi tối, mang cho ông những thứ nhỏ nhặt, và nói chuyện với ông như hai người đàn ông với nhau. Tôi kéo tấm vải phủ lên ông và đứng thẳng lên. Ngày đã qua lâu rồi. Đã nhiều giờ trôi qua tôi cần phải rời khỏi nơi đây, vì tôi đã làm việc hơn mười bảy giờ, cố gắng để giúp đỡ, cố gắng để chữa bệnh.

Tôi đi theo con đường lên trên đồi, đi qua các cửa hàng thắp sáng rực rỡ, vì trời đã tối. Tôi đi qua ngôi nhà cuối cùng. Bầu trời nhiều mây. Phía dưới bến cảng, nước đang vỗ vào bờ đê và những con tàu đang lắc lư, va vào phao neo giữ chúng.

Gió rên rỉ và thở dài xuyên qua rừng thông khi tôi đi dọc theo con đường về phía lạt ma viện. Tôi rùng mình vì lý do nào đó. Tôi bị đè nặng bởi nỗi sợ hãi kinh khủng. Tôi không thể gạt bỏ suy nghĩ về cái chết ra khỏi tâm trí. Tại sao người ta phải chết đau đớn như vậy? Những đám mây trên đầu hối hả bay nhanh, giống như những người mải mê làm công việc của mình, che khuất mặt trăng, cuốn đi hết, giúp cho ánh trăng chiếu sáng những cây linh sam đen. Sau đó những đám mây lại cùng nhau kéo đến lần nữa, ánh sáng lại tắt, và tất cả lại ảm đạm, và tăm tối, báo trước điềm gở. Tôi rùng mình.

Khi tôi đi dọc theo con đường, những bước chân của tôi vang vọng trống rỗng trong tĩnh lặng, vang vọng như có ai đó đang theo ngay phía sau tôi. Tôi cảm thấy không thoải mái, rồi tôi lại rùng mình lần nữa và cuốn cái áo choàng quanh người chặt hơn. “Phát ốm vì điều gì đó,” tôi tự nhủ. “Tôi thực sự cảm thấy rất khó chịu. Không thể nghĩ ra đó có thể là chuyện gì.” Ngay sau đó tôi đi đến lối vào con đường mòn nhỏ đi qua rừng cây, con đường nhỏ dẫn lên đồi tới lạt ma viện. Tôi rẽ phải, rời khỏi con đường chính.

Tôi đi dọc theo con đường, trong một lúc, cho tới khi đến một khoảng trống nhỏ bên vệ đường nơi có một cái cây đổ làm cho những cây khác đổ rạp xuống. Lúc này, cái cây nằm sõng soài trên mặt đất còn những cây khác nằm ngả nghiêng. Tôi nghĩ “Mình sẽ ngồi xuống một lát. Không biết có chuyện gì đã xảy ra với mình.” Tôi tự nhủ. Nghĩ thế, tôi liền rẽ vào chỗ đất trống và tìm một chỗ sạch trên thân cây. Tôi ngồi xuống và kéo áo choàng xung quanh chân để che mình khỏi cơn gió lạnh. Thật là kỳ lạ. Tất cả những âm thanh nho nhỏ của màn đêm ùa đến trùm lên tôi, run rẩy khó chịu, những tiếng rít, tiếng xào xạc. Ngay sau đó những đám mây trên đầu tan tác, và ánh trăng sáng rực rỡ tràn ngập khoảng rừng trống, chiếu sáng như thể ban ngày.

Dường như thật lạ lùng với tôi, ánh sáng, ánh trăng sáng rạng rỡ, sáng như ánh nắng mặt trời. Tôi rùng mình, sau đó vụt đứng lên hốt hoảng. Một người đàn ông đang đi xuyên qua rừng cây đến gần, tới bên kia khoảng trống. Tôi nhìn chằm chằm đầy ngờ vực. Đó là một vị Lạt Ma Tây Tạng. Vị Lạt Ma đang tiến về phía tôi, máu đang tuôn chảy từ ngực ông, vấy đầy áo choàng của ông, tay ông cũng bị dính đầy máu, nhỏ giọt màu đỏ. Ông đi về phía tôi, tôi loạng choạng lùi lại và vấp chân vào một thân cây. Tôi sụp xuống và ngồi nhìn khiếp sợ. “Lobsang, Lobsang con, con sợ THẦY hay sao?” một giọng nói thân thiết vang lên, tôi vùng đứng dậy, dụi mắt nhìn, và sau đó vội vã lao về phía người đó.

“Dừng lại!” Người nói. “Con không thể chạm vào ta. Thầy đến để nói lời tạm biệt với con, cho đến ngày này ta đã hoàn thành quãng đời của mình trên trái đất, và đã tới lúc ta lên đường. Chúng ta sẽ ngồi và nói chuyện chứ?” tôi quay lại, lễ phép, đau đớn, choáng váng, và lại ngồi vào chỗ mình trên thân cây đổ. Trên cao những đám mây quay cuồng, lá trên cây xào xạc, một con chim đêm lướt bay phía trên đầu đi săn mồi, tìm thức ăn, không biết gì về chúng tôi, về những việc của chúng tôi. Ở đâu đó phía cuối khúc cây mà chúng tôi đang ngồi trên, một sinh vật nhỏ xào xạc và kêu cọt kẹt khi nó đục khoét thân cây để tìm thức ăn. Nơi đây, trên khoảng đất trống hoang vắng, lộng gió, và ảm đạm này, tôi ngồi và nói chuyện với một hồn ma, hồn ma của Thầy tôi, Đại Đức Lạt Ma Mingyar, người đã trở về từ bên ngoài Cuộc Sống để nói chuyện với tôi.

Người ngồi bên cạnh tôi giống như Người đã từng ngồi bên cạnh tôi rất nhiều lần ở Lhasa, trước khi tôi đi xa. Người ngồi không chạm vào tôi, cách xa tôi khoảng ba yard (1 yard = 0,91m). “Trước khi con rời Lhasa, Lobsang, con đã hỏi thầy khi nào quãng đời của thầy trên trái đất này kết thúc. Bây giờ đã đến lúc kết thúc. Đã đến rồi đây.”

Tôi nhìn Người, người mà tôi biết rõ hơn ai hết. Tôi nhìn Người và thật khó tin – thậm chí với tất cả những kinh nghiệm của tôi về vấn đề này – rằng người đàn ông này không còn là thân xác nữa, mà là linh hồn, rằng sợi chỉ bạc của Người đã bị cắt đứt, và bát vàng đã vỡ tan tành. Với tôi, Người trông vững vàng, bình tĩnh, như tôi vẫn biết về Người. Người mặc áo choàng, chiếc áo thầy tu màu đỏ gạch cùng với áo choàng màu vàng. Người có vẻ mệt mỏi như thể vừa đi một chuyến xa và đau đớn. Tôi có thể thấy rõ rằng trong một thời gian dài đã qua Người đã lãng quên hạnh phúc riêng của mình trong việc phụng sự nhân loại. “Người mệt mỏi biết bao,” tôi nghĩ. Người xoay mình, theo một thói quen mà tôi nhớ rất rõ, và khi Người làm như vậy tôi đã nhìn thấy một con dao cắm trên lưng Người.

Người khẽ nhún vai và ngả người, đối diện với tôi. Tôi đông cứng người vì kinh hoàng khi nhìn thấy đầu lưỡi dao găm nhô ra từ ngực của Người, và máu trào ra từ vết thương, chảy xuống thấm đẫm chiếc áo choàng màu vàng.

Lúc trước nó chỉ mờ mờ không rõ nét, tôi không nhận ra được rõ rệt, tôi chỉ nhìn thấy một vị Lạt ma bị chảy máu trên ngực, trên tay, nhưng bây giờ tôi nhìn chằm chằm không dứt.

Đôi bàn tay tôi nhìn thấy bị nhuốm máu nơi Người đã nắm chặt khi con dao găm đi xuyên qua lồng ngực. Tôi rùng mình và máu chảy lạnh toát bên trong tôi. Người đã nhìn thấy ánh mắt của tôi, Người nhìn thấy nỗi kinh hoàng trên khuôn mặt tôi, và Người nói, “Thầy đến như thế này là cố ý, Lobsang, để con có thể biết được những gì đã xảy ra. Còn bây giờ con sẽ thấy ta như thế nào, hãy nhìn và thấy thầy thực sự là ai.”

Hình ảnh nhuốm máu biến mất trong nháy mắt, một tia chớp vàng, và sau đó nó được thay thế bằng một vẻ đẹp và tinh khiết phi thường. Đó là một Đấng Cao Cả đã tiến xa trên con đường tiến hóa. Người đã đạt được quả vị Phật.

Sau đó, trong như tiếng chuông chùa, giọng nói của Người vọng tới tôi, không phải tới đôi tai của thể vật lý mà tới tâm thức bên trong tôi. Một giọng nói của vẻ đẹp, âm vang, đầy sức mạnh, tràn đầy sức sống, Sự sống Cao quý. “Thời gian của ta rất ngắn, Lobsang con, ta phải tiếp tục lên đường ngay, nhiều người đang chờ đợi ta. Nhưng con, bạn của ta, người bạn đồng hành của ta trong biết bao cuộc phiêu lưu, ta phải đến thăm con trước tiên, để động viên con, để an ủi con, và để nói “Tạm biệt” trong một lát. Lobsang con, trước đây chúng ta đã cùng nói chuyện với nhau rất lâu về những vấn đề này. Ta nói với con một lần nữa, con đường của con sẽ rất dài, rất khó khăn và nguy hiểm, nhưng con sẽ thành công bất chấp tất cả, bất chấp sự phản đối và ghen tị của những người phương Tây.”

Chúng tôi nói chuyện với nhau trong một lúc lâu; nói về những điều rất riêng tư không thể nói ra ở đây. Tôi thật sự ấm áp và thoải mái, khoảng rừng trống quanh chúng tôi tràn ngập ánh sáng vàng, sáng rực rỡ hơn cả ánh sáng mặt trời, và ấm áp như giữa buổi trưa hè. Tôi được đắm mình trong tình yêu thương. Sau đó, đột nhiên, Thầy của tôi, Lạt Ma Mingyar Đại Đức yêu quý của tôi, đứng dậy, nhưng chân của Người không chạm đất.

Người đưa tay lên trên đầu tôi và ban ân huệ cho tôi, và Người nói, “Ta sẽ dõi theo con, Lobsang, để giúp đỡ con nhiều hết mức ta có thể làm, nhưng con đường còn khó khăn, tai họa sẽ còn nhiều và thậm chí trước khi ngày hôm nay kết thúc con sẽ nhận được một điều đau đớn nữa. Hãy chịu đựng, Lobsang con, hãy chịu đựng như con đã từng chịu đựng trong quá khứ. Ân huệ của ta sẽ luôn ở cùng con.” Tôi ngước mắt nhìn, và trước cái nhìn chăm chú của tôi Người mờ dần và biến mất, ánh sáng vàng đã tắt và không còn nữa, và bóng tối tràn về và gió lại lạnh. Phía trên đầu những đám mây bay hỗn loạn. Những sinh vật nhỏ trong đêm kêu xào xạc. Có một tiếng kêu rít kinh hoàng của nạn nhân nào đó của một sinh vật lớn hơn khi trút hơi thở cuối cùng.

Tôi đứng sững sờ trong một lát. Sau đó tôi ngã quỵ xuống đất bên cạnh thân cây, và cào vào rêu, và trong một lúc tôi không còn là người đàn ông bất chấp tất cả những gì tôi đã được đào tạo, bất chấp tất cả những gì tôi đã biết. Sau đó dường như tôi nghe thấy bên trong tôi giọng nói thân yêu đó một lần nữa. “Hãy vững lòng, Lobsang con của ta, hãy vững lòng vì đây chưa phải đã hết, vì tất cả những gì mà chúng ta cố gắng là quan trọng và sẽ đạt được. Đây không phải là kết thúc.” Vì vậy, tôi run rẩy đứng lên, kiềm chế những ý nghĩ của mình, và tôi chùi sạch chiếc áo choàng, lau sạch bùn đất trên tay.

Một cách chậm rãi tôi tiếp tục hành trình của mình đi lên con đường mòn, lên đồi, tới lạt ma viện. “Cái chết,” tôi nghĩ, “tôi đã từng ở phía bên kia của cái chết, nhưng tôi đã trở về. Sư phụ tôi đã không thể sống lại, đã vượt quá tầm tay của tôi. Sư phụ đã ra đi và tôi ở lại một mình, trơ trọi.” Tâm trí suy nghĩ miên man như vậy, tôi về đến lạt ma viện. Tại lối vào có một số nhà sư cũng vừa trở về từ những con đường khác. Tôi mò mẫm gạt họ ra và đi tiếp vào bóng tối của ngôi chùa nơi những hình ảnh linh thiêng đang chăm chú nhìn tôi và dường như có sự thấu hiểu và lòng trắc ẩn trên gương mặt của các Ngài. Tôi nhìn lên những tấm bài vị của Tổ tiên, những băng đỏ với chữ vàng, hương trầm đang cháy, tỏa khói thơm lơ lửng bên trên như một đám mây lững lờ ở cao phía trên đầu.

Tôi đến một góc xa, nơi thực sự bất khả xâm phạm, và tôi lại nghe thấy lần nữa, “Hãy vững lòng, Lobsang con, hãy vững lòng, vì đây không phải là kết thúc và vì những điều chúng đã cố gắng là quan trọng và sẽ thành công. Hãy vững lòng.” Tôi ngồi xuống trong tư thế hoa sen, và tôi đắm chìm lúc trong quá khứ, khi quay về hiện tại. Tôi ngồi như vậy bao lâu cũng không biết. Thế giới đã sụp đổ xung quanh tôi. Những khó khăn đè nặng lên tôi. Người Thầy yêu quý của tôi đã rời khỏi thế giới này, nhưng Người đã dặn tôi, “Đây không phải là kết thúc, tất cả đều là vô giá.” Xung quanh tôi các nhà sư đã đi làm những công việc của họ: lau bụi, dọn dẹp, thắp những nén hương mới, tụng kinh, nhưng không ai đến làm phiền khi tôi ngồi đau buồn một mình.

Màn đêm bao trùm, các nhà sư chuẩn bị cho buổi lễ cầu nguyện. Các nhà sư Trung Quốc trong áo choàng đen, đầu cạo trọc với những đốm hương đốt trên hộp sọ của họ, trông giống như những bóng ma trong ánh sáng của những ngọn đèn bơ nhấp nháy. Các tu sĩ của ngôi chùa đội mũ năm mặt Phật đến tụng kinh khi tiếng kèn của ngôi chùa vang lên và chiếc chuông bạc rung lên. Tôi chậm rãi đứng lên và miễn cưỡng tới gặp vị Hòa thượng trụ trì.

Tôi trao đổi với ông về những gì đã xảy ra, và yêu cầu được miễn buổi lễ cầu nguyện nửa đêm, khi nói rằng tôi đã quá đau buồn, không muốn để mọi người trong lạt ma viện nhìn thấy nỗi buồn của tôi. Ông nói, “Không, người anh em của tôi. Bạn có lý do để vui mừng. Bạn đã từng vượt qua cái chết và trở về, và ngày hôm nay bạn đã nghe thấy từ Người Thầy của bạn, và bạn đã nhìn thấy bằng chứng về quả vị Phật của Người. Người anh em của tôi không nên đau buồn vì sự chia ly chỉ là tạm thời. Hãy làm lễ cầu nguyện nửa đêm, người anh em của tôi, và hãy vui mừng vì bạn thấy rằng điều đó bị từ chối.”

“Đào tạo thật sự rất tốt,” tôi nghĩ. “Tôi cũng biết bất kỳ cái chết nào trên trái đất cũng có nghĩa là sự sinh ra trong Sự sống Cao quý. Tôi biết rằng không có cái chết, rằng đây là thế giới của ảo tưởng, và rằng sự sống thật sự sẽ đến khi mà chúng ta rời khỏi giai đoạn khủng khiếp này, rời khỏi trái đất này, mà đó là trường học nơi chúng ta đến để học những bài học của mình. Cái chết ư? Không có cái gì như vậy cả. Vậy tại sao tôi lại chán nản?” Câu trả lời đến với tôi gần như ngay trước khi tôi tự hỏi mình câu hỏi này.

Tôi chán nản bởi vì tôi ích kỷ, bởi vì tôi đã mất đi điều mà tôi yêu quý, bởi vì người mà tôi yêu quý bây giờ đã vượt quá tầm tay của tôi. Tôi thực sự ích kỷ, vì Người đã đi đến cuộc sống vinh quang, trong khi tôi vẫn còn bị mắc trong cuộc sống cực nhọc trên trái đất, bị bỏ lại để tiếp tục khổ đau, tiếp tục phấn đấu, đểthực hiện nhiệm vụ mà vì nó tôi đã đến theo cùng cách như một người sinh viên đến trường cần phải phấn đấu cho tới khi vượt qua kỳ thi tốt nghiệp của mình. Sau đó, với trình độ mới, ta lại có thể lên đường đến thế gian để lại học hỏi tất cả lần nữa. Tôi ích kỷ, vì tôi muốn giữ người Thầy yêu quý của mình lại nơi đây, trên trái đất khủng khiếp này vì lợi ích ích kỷ của riêng mình.

Cái chết ư? Không có gì phải sợ chết cả. Chính cuộc sống mới là điều chúng ta nên sợ hãi, cuộc sống làm cho chúng ta phạm rất nhiều sai lầm.

Không cần phải sợ cái chết. Không cần phải lo sợ việc kết thúc cuộc đời này để đi tới Sự sống Cao quý. Không cần phải sợ địa ngục, vì không có nơi nào như vậy cả, không có cái gọi là Ngày Phán Xét. Mỗi người chúng ta tự phán xét chính mình, và không có sự phán xét nào nghiêm khắc nào hơn chính bản thân anh ta về sự nhu nhược, yếu đuối của mình khi anh ta trải qua cuộc sống trên trái đất và khi mà những giá trị sai lầm được loại bỏ qua con mắt của anh ta và khi anh ta có thể nhìn thấy Sự thật: Vì vậy, tất cả những ai sợ chết hãy biết điều này từ người đã từng vượt qua cái chết và quay trở lại.

Sợ hãi chỉ vô ích. Không có Ngày Phán Xét ngoại trừ việc chính bạn tự phán xét mình. Không có địa ngục.

Tất cả mọi người, bất kể họ là ai, cũng như bất kể họ đã làm gì, đều được trao cho cơ hội. Không một ai, không bao giờ bị hủy bỏ. Không có ai quá xấu xa để không có được một cơ hội khác. Chúng ta sợ cái chết của những người khác bởi vì nó tước đi những người thân yêu của chúng ta, bởi vì chúng ta ích kỷ, và chúng ta sợ cái chết đến với mình bởi vì đó là một hành trình đi vào nơi xa lạ, và đó chính là cái mà chúng ta không hiểu, là cái mà chúng ta không biết, nên chúng ta sợ.

Nhưng không có cái chết, mà chỉ có sự sinh ra trong Sự sống Cao quý. Trong thủa sơ khai của tất cả các tôn giáo đó là lời dạy; không có cái chết, chỉ có sự sinh ra trong Sự sống Cao qúy. Trải qua thế hệ này đến thế hệ khác của các nhà tu hành, lời dạy đích thực đã bị thay đổi, đã bị sai lạc, cho đến lúc họ đe dọa bằng sự sợ hãi, lưu huỳnh và độc tố, và những câu chuyện về địa ngục. Họ làm tất cả những điều này để đẩy mạnh quyền lực cá nhân của họ, để nói rằng, “Chúng ta là những tu sĩ, chúng ta có chìa khóa vào thiên đường. Hãy tuân theo chúng ta nếu không ngươi sẽ đi xuống địa ngục.” Nhưng tôi đã ở phía bên kia của cái chết và đã quay trở lại, cũng như nhiều vị Lạt Ma khác đã từng như vậy.

Chúng tôi biết sự thật. Chúng tôi biết rằng luôn luôn có hy vọng, bất kể những gì người ta đã làm, cho dù cảm giác tội lỗi như thế nào người ta cũng cần phải tiếp tục phấn đấu để luôn luôn có hy vọng.

Vị Hòa thượng trụ trì của ngôi chùa đã nói với tôi, “Hãy làm lễ cầu nguyện nửa đêm, người anh em của tôi, và nói về những gì bạn đã nhìn thấy ngày hôm nay.” Tôi sợ điều này. Đây thực sự là một thử thách đối với tôi, tôi cảm thấy vô cùng đau đớn. Nỗi niềm nặng trĩu đè nặng lên tôi, và tôi trở về một góc hẻo lánh của ngôi chùa để thiền định. Buổi đêm khủng khiếp đó tiếp tục trùm lên tôi, trong cảm giác mỗi phút mà như hàng giờ, mỗi giờ trôi qua như những ngày dài, và tôi nghĩ rằng tôi không bao giờ sống qua nổi. Các nhà sư đến rồi lại đi. Các hoạt động bên trong ngôi chùa vẫn diễn ra xung quanh tôi, nhưng tôi chỉ có một mình với những suy nghĩ miên man, nghĩ về quá khứ, hãi hùng với tương lai.

Nhưng điều đó đã không xảy ra. Tôi đã không làm lễ nữa đêm nữa. Vì Thầy của tôi, Lạt Ma Mingyar Đại đức đã cảnh báo tôi trước đó, vào buổi tối là sẽ còn một đòn nữa giáng xuống trước khi hết ngày, một đòn khủng khiếp. Tôi đang ngồi thiền trong góc yên tĩnh của mình, nghĩ về quá khứ và tương lai. Vào khoảng mười một giờ đêm, khi tất cả đã trở nên yên tĩnh xung quanh tôi, tôi nhìn thấy một bóng người đang tiến lại gần. Đó là một vị Lạt Ma rất già, một người thuộc tầng lớp tinh hoa của đền thờ ở Lhasa, một vị Phật sống cổ xưa đã không còn sống trên trái đất này từ lâu lắm rồi. Ngài đến từ bóng tối sâu xa nơi ánh sáng của những ngọn đèn bơ nhấp nháy không lọt qua được. Ngài đến gần, và xung quanh Ngài là ánh sáng xanh rực rỡ. Xung quanh đầu Ngài rực rỡ ánh sáng vàng. Ngài đến bên tôi, đưa bàn tay ra, để ngửa lên, và nói, “Con của ta, con trai ta, ta có tin quan trọng cho con. Đấng Thái Tuế, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba, đã đến cuối con đường của Ngài, đang chuẩn bị rời khỏi thế giới này.”

Cụ già, vị Lạt Ma đã đến gặp tôi, nói với tôi rằng sự kết thúc của một chu kỳ đã đến gần, và rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma cần phải ra đi. Ngài nói với tôi rằng tôi cần phải thật nhanh và trở về Lhasa để kịp gặp Người trước khi quá muộn. Sau đó Ngài nói, “Con cần phải nhanh hết sức. Hãy sử dụng bất kỳ phương tiện nào mà con có thể để trở về. Con cần phải lên đường ngay đêm nay.” Ngài nhìn tôi, và tôi đứng lên, khi đó Ngài mờ dần, rồi trở lại vào bóng tối và không còn thấy nữa. Linh hồn Ngài đã trở về với cơ thể của mình mà có lẽ là ở tận Jo Kang tại Lhasa. Các sự việc xảy ra quá nhanh với tôi. Bi kịch tiếp nối bi kịch, sự kiện nối tiếp sự kiện. Tôi cảm thấy choáng váng. Sự huấn luyện của tôi thực sự rất khó khăn. Tôi đã được dạy về sự sống và về cái chết, và không biểu lộ cảm xúc, nhưng người ta có thể làm gì khi những người bạn thân yêu của mình đang liên tiếp chết đi? Người ta phải duy trì được trái tim rắn như đá, vẻ mặt lạnh như băng, và xa cách, hay là người có cảm xúc ấm áp chăng? Tôi yêu quý những người đàn ông này.

Ông già Tsong – tai, Thầy của tôi, Lạt Ma Mingyar Đại Đức, và Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba, bây giờ đây, trong cùng một ngày, trong vòng có vài giờ tôi nghe tin người này tiếp theo người kia lần lượt ra đi.

Hai người đã chết, và người thứ ba … còn bao lâu nữa trước khi Ngài cũng đi nốt? Một vài ngày. Tôi phải gấp rút, tôi nghĩ, và tôi quay lại, theo lối đi từ bên trong đi vào khu vực chính của lạt ma viện. Tôi đi dọc theo hành lang lát đá về phía căn phòng nhỏ của vị Hòa Thượng. Khi tôi đến gần chỗ rẽ vào phòng của ông, tôi nghe thấy tiếng náo động bất ngờ và một tiếng ngã uỵch. Tôi vội vã chạy đến.

Một vị Lạt Ma khác, Jersi, cũng đến từ Tây Tạng, nhưng không phải từ Lhasa mà là từ Chambo, cũng nhận được một thông điệp bằng thần giao cách cảm, từ một vị Lạt ma khác. Anh cũng đang được thúc giục rời khỏi Trùng Khánh và trở về cùng với tôi như một người hộ tống. Anh đã học lái xe ô tô, và những dạng phương tiện đi lại tương tự. Anh đã rất nhanh; khởi hành ngay lập tức khi nhận được thông điệp, nhảy khỏi xe và lao xuống hành lang đá về phía căn phòng của Hòa Thượng. Anh không qua được góc quanh mà trượt chân trên bơ bị đổ từ một ngọn đèn của một nhà sư bất cẩn.

Anh bị trượt chân và ngã xuống nặng nề. Anh bị gãy một chân và tay, và khi tôi rẽ nơi góc hành lang thấy anh nằm đó, thở hổn hển, với một trục xương nhô ra.

Vị Hòa Thượng cũng ra khỏi phòng khi nghe thấy tiếng ồn. Chúng tôi cùng quỳ xuống bên người anh em bị ngã. Hòa Thượng giữ vai trong khi tôi kéo cổ tay của anh để ổn định lại chỗ xương bị gãy.

Sau đó, tôi gọi lấy nẹp và băng, Jersi nhanh chóng được nẹp và băng bó cánh tay và chân. Cái chân là vấn đề khác vì nó bị gãy chồi xương và chúng tôi phải đưa anh tới căn phòng nhỏ và kéo chân. Sau đó tôi để anh lại đó cho người khác chăm sóc.

Hòa Thượng và tôi đi đến căn phòng của ông, ở đó tôi nói với ông về thông điệp mà tôi mới nhận được. Tôi mô tả cho ông về điều mình nhìn thấy, và ông cũng có ấn tượng tương tự như tôi. Vì vậy, chúng tôi cùng thấy rằng tôi nên rời khỏi lạt ma viện ngay. Hòa Thượng nhanh chóng giao cho một người đưa tin ra ngoài lấy một con ngựa, và phi nước đại vào Trùng Khánh cho nhiệm vụ này. Tôi chỉ dừng lại để lấy thực phẩm đã được đóng gói cho tôi. Tôi lấy chăn và áo choàng để thay, sau đó tôi đi bộ xuống con đường mòn, đi qua khoảng rừng trống nơi mà tối hôm đó tôi đã có một kỷ niệm đáng nhớ, nơi tôi đã gặp lần cuối Thầy của tôi, Lạt Ma Mingyar Đại Đức. Tôi bước đi, cảm thấy nhói đau, cố gắng kiểm soát cảm xúc của mình, cố gắng duy trì vẻ mặt điềm tĩnh của một Lạt Ma. Rồi tôi đi đến cuối con đường mòn nơi gặp con đường lớn. Tôi đứng và chờ đợi.

Đằng sau tôi, tôi nghĩ, trong ngôi chùa những tiếng cồng chiêng đồng thâm trầm đang gọi các nhà sư đến dự lễ cầu nguyện. Tiếng kêu leng keng của những chiếc chuông bạc ngân nga xen lẫn vào hòa điệu với tiếng kèn trompet đang ngân vang. Chẳng mấy chốc, không khí màn đêm trở nên rộn ràng với tiếng động cơ mạnh mẽ, và từ phía xa rọi đến các chùm tia sáng bạc của đèn pha. Một chiếc xe ô tô đang lao nhanh về phía tôi và dừng lại với tiếng kêu rít của lốp xe miết trên đường. Một người đàn ông nhảy ra khỏi xe. “Xe của Ngài, thưa Ngài Lobsang Rampa Cao quý. Trước hết, tôi sẽ quay nó lại phải không ạ?” “Không,” tôi trả lời. “Đi xuống đồi, về phía bên trái.” Tôi nhảy vào chỗ bên cạnh người lái xe. Nhà sư được Hòa Thượng giao nhiệm vụ đã gấp rút đến Trùng Khánh để có một người lái xe và chiếc xe có động cơ khỏe.

Đây thực sự là một chiếc xe khỏe, một con quái vật Mỹ màu đen rất tốt. Tôi ngồi bên cạnh tài xế và chúng tôi tăng tốc suốt đêm trên con đường đến Chengtu, cách Trùng Khánh gần ba trăm năm chục cây số. Phía trước chúng tôi là những hố lớn dưới ánh sáng được chiếu ra từ chiếc đèn pha, cho thấy con đường rất gập ghềnh, chiếu sáng những hàng cây bên đường, và tạo ra những bóng hình kỳ quặc như thể để chúng tôi can đảm bắt chúng, như thể thúc giục chúng tôi nhanh hơn và nhanh hơn nữa. Người lái xe, Ejen, là một người lái xe giỏi, được đào tạo tốt, lái xe tốt và an toàn. Chúng tôi lao nhanh không ngừng trên con đường mờ mờ không rõ nét. Tôi ngồi dựa lưng, và miên man suy nghĩ.

Trong đầu tôi tràn ngập ý nghĩ về người Thầy thân yêu của tôi, Lạt Ma Mingyar Đại Đức, về cách mà Thầy đã dạy tôi, về tất cả những gì Thầy đã làm cho tôi. Thầy đối với tôi còn hơn cả cha mẹ đẻ của tôi. Trong suy nghĩ của tôi, còn có cả vị lãnh đạo yêu quý của tôi, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba, đã tới cuối kiếp sống này, vì lời tiên tri trước đây đã xảy ra, và với sự ra đi của Ngài, một trật tự mới sẽ đến với Tây Tạng. Năm 1950 Trung Quốc bắt đầu cuộc xâm lược Tây Tạng, nhưng trước đó họ đã đến Lhasa. Tôi nghĩ về tất cả những điều này mà tôi biết nó sẽ xảy ra, và vào năm 1933, tôi biết về nó trước năm 1933, bởi vì tất cả những sự kiện này xảy ra chính xác với lời tiên tri.

Vậy là chúng tôi đã liên tục chạy suốt đêm hai trăm dặm (1 dặm = 1,61km) đường để đến Chengtu. Tại đó chúng tôi duỗi đôi chân trong mười phút trong lúc lấy thêm xăng và thực phẩm. Sau đó chúng tôi lại tiếp tục lên đường, lái xe điên rồ qua đêm, xuyên qua bóng tối từ Chengtu đến Ya-an, hơn một trăm dặm đường nữa, và đến đó, khi bình minh hừng sáng, khi những vệt nắng đầu tiên chiếu sáng trên bầu trời, con đường kết thúc ở đây, chiếc xe không thể đi xa hơn nữa. Tôi đi đến một lạt ma viện mà ở đó, bằng thần giao cách cảm, đã nhận được thông điệp về việc tôi đang trên đường đến.

Một con ngựa đã sẵn sàng ở đó, một con ngựa sôi nổi, nó hay đá và chồm lên, nhưng trong tình trạng khẩn cấp này tôi không có thời gian để chiều theo nó. Tôi nhảy lên lưng, và ngồi trên đó, và con ngựa vâng lệnh tôi như thể nó biết về nhiệm vụ cấp bách của chúng tôi. Người giữ ngựa thả dây cương và đứng tránh ra, chúng tôi lao vọt lên trên con đường, hướng về phía Tây Tạng. Chiếc xe trở về Trùng Khánh, người lái xe hài lòng về chuyến đi nhanh chóng nhẹ nhàng, trong khi tôi phải ngồi trên yên ngựa gỗ cao, cưỡi nó và lướt đi, thay đổi ngựa sau khi kết thúc mỗi chặng đường, luôn thay đổi những con ngựa nhiệt huyết, tràn đầy sức mạnh vì tôi đang rất vội.

Không cần phải nói về thử thách của hành trình này, những khó khăn gian khổ của một kỵ sĩ đơn độc. Không cần nói về nơi giao nhau của dòng sông Trường Giang, và tiếp đến vùng Thượng sông Salween. Tôi cưỡi ngựa liên tục. Cưỡi ngựa như thế này là một công việc làm kiệt sức, nhưng tôi đã làm điều đó đúng lúc. Tôi rẽ đi xuyên qua chuông núi, và một lần nữa nhìn chăm chú vào những mái vàng của cung điện Potala. Tôi chăm chú nhìn những mái vòm mà nó đang che dấu những thi hài mạ vàng khác của Đức Đạt Lai Lạt Ma khỏi những con mắt của thế gian, và tôi nghĩ giờ sẽ lại sớm có một mái vòm nữa che dấu một thi hài khác.

Tôi tiếp tục cưỡi ngựa, và vượt qua dòng sông Happy một lần nữa. Nó không còn là hạnh phúc đối với tôi lúc này. Tôi vượt qua và đi dọc theo con sông, và tôi đã về đúng lúc. Hành trình khó khăn, gấp gáp đã không vô ích. Tôi đã ở đó, trong tất cả các nghi lễ và tham gia rất tích cực trong đó. Đối với tôi còn có một điều khó chịu nữa. Người nước ngoài đã ở đó, hắn ta muốn tất cả mọi người phải quan tâm đến mình. Hắn nghĩ rằng chúng tôi chỉ là những người bản xứ, còn hắn là ông hoàng của tất cả mọi người mà hắn đang kiểm tra giám sát. Hắn muốn ở phía trước tất cả mọi thứ, được tất cả chú ý, và bởi vì tôi không giúp cho mục đích ích kỷ của hắn ta – hắn đã cố gắng hối lộ một người bạn và tôi những chiếc đồng hồ đeo tay! – hắn ta coi tôi là kẻ thù từ đó, và hắn thực sự phải bỏ cuộc sau khi đã làm những điều quá khích để làm tổn hại tôi và người bạn. Tuy nhiên, điều đó chẳng là gì cả, ngoại trừ việc nó chỉ ra rằng các Thầy đã đúng biết bao khi cảnh báo tôi về tính ghen tị.

Emil Group (emilgroup.net@gmail.com) tổng hợp từ lobsangrampa.org.
Nguồn: minhtrietmoi.org

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *