Bác sĩ từ Lhasa – 04a – lái máy bay

Chương 4: Lái máy bay

Đó là một buổi tối nóng bức, ngột ngạt, hầu như không có gió. Những đám mây ở khoảng hơn sáu mươi mét phía trên chúng tôi, bên trên những vách đá nơi chúng tôi đang đi dạo, gợi trong tôi nỗi nhớ về Tây Tạng khi chúng cao vượt lên thành những hình dạng tuyệt đẹp như những dãy núi. Huang và tôi đã trải qua một ngày vất vả trong phòng mổ. Vất vả, bởi vì những tử thi ở đó đã được bảo quản trong một thời gian dài, và bốc mùi thật kinh khủng. Mùi của những tử thi đang bị phân hủy, mùi của thuốc khử trùng, và cả những mùi khác đã thực sự làm kiệt sức chúng tôi.

Tôi tự hỏi tại sao tôi rời khỏi Tây Tạng nơi mà không khí luôn tinh khiết, và cả suy nghĩ của con người cũng vậy, cũng thật tinh khiết. Sau khi chúng tôi làm xong việc trong phòng mổ, chúng tôi đã rửa sạch sẽ và đi đến đỉnh vách núi này. Thật là tốt, tôi nghĩ, khi đi dạo buổi tối và ngắm nhìn thiên nhiên. Chúng tôi nhìn xuống những thứ khác cũng bởi vì, khi nhìn qua vách đá, chúng tôi có thể nhìn thấy những hoạt động, đi lại tấp nập trên dòng sông phía dưới.

Chúng tôi có thể nhìn thấy những người phu khuân vác đang chất hàng lên tàu, không ngừng mang theo những kiện hàng nặng với một thanh tre dài trên vai, tại mỗi đầu của thanh tre treo những khối hàng nặng chín mươi pound (1 pound = 0,37 kg), được chất trong những chiếc sọt. Mỗi chiếc sọt nặng năm pound, và như vậy người phu khuân vác phải gánh không ít hơn một trăm chín mươi pound suốt cả ngày dài. Cuộc sống của họ thật cực khổ, họ làm việc tới tận lúc chết, và họ chết khi ở độ tuổi còn khá trẻ, trông có vẻ mệt mỏi và kiệt sức, như loài ngựa, bị đối xử tồi tệ hơn cả những con vật trên cánh đồng. Và khi họ bị kiệt sức rồi gục xuống chết,  đôi khi họ đã kết thúc cuộc đời trong phòng mổ của chúng tôi để tiếp tục làm việc thiện, và thời kỳ này, bằng cách cung cấp các bộ phận cơ thể cho các bác sĩ về phôi người và bác sĩ phẫu thuật, giúp họ thu được những kỹ năng nào đó để điều trị cho các cơ thể còn sống.

Chúng tôi quay lưng lại các vách đá và đưa mặt đón những làn gió nhẹ mang theo hương thơm ngọt ngào của cây cối và của những bông hoa. Có một rừng cây nhỏ ở ngay phía trước, nên chúng tôi đổi hướng bước tới gần. Còn cách vách đá chừng vài mét chúng tôi dừng lại, nhận thức về một cảm giác lạ lùng nào đó của tai họa sắp xảy ra, cảm giác khó chịu và căng thẳng, một cái gì đó không thể giải thích được. Chúng tôi nhìn nhau dò hỏi, không thể xác định đó là cái gì. Huang nói, vẻ ngờ vực, “Đó không phải là sấm.” “Tất nhiên là không phải,” tôi đáp, “Nó là cái gì đó rất lạ, cái gì đó mà chúng ta chưa biết về nó.” Chúng tôi đứng băn khoăn, ngoảnh đầu về cùng một phía, lắng nghe. Chúng tôi nhìn quanh chỗ chúng tôi đứng, nhìn xuống đất, nhìn lên cây, và rồi chúng tôi nhìn lên những đám mây.

Từ đằng kia nơi tiếng ồn đang đến, vang lên đều đều “brum-brum-brum” mỗi lúc một to hơn, gay gắt hơn. Khi chăm chú nhìn lên phía trên qua một lỗ hổng trên đám mây thấp, chúng tôi nhìn thấy một bóng mờ ảo tối tăm bay vụt qua. Nó biến mất vào đám mây đối diện gần như trước khi chúng tôi nhận thức được sự hiện diện của nó. “Ôi chao ôi!” tôi hét lên, “Một trong các vị thần của Thượng Đế đến để đưa chúng tôi đi.” Chẳng có gì để chúng tôi có thể làm. Chúng tôi chỉ đứng tự hỏi điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Tiếng ồn vang như sấm, một loại tiếng ồn mà cả hai chúng tôi chưa từng nghe thấy trước đây.

Sau đó, chúng tôi quan sát, một hình dạng rất lớn xuất hiện, gạt những dải mây ra khỏi nó như thể nóng lòng thoát ra khỏi những trói buộc của những đám mây. Nó lóe sáng trên bầu trời, lướt thẳng phía trên đầu chúng tôi, bên trên các vách đá với tiếng rú kinh người, với sự va đập mạnh của không khí bị tra tấn. Tiếng ồn chấm dứt và im lặng trở lại. Chúng tôi đứng đó nhìn nhau vô cùng kinh hoàng, ớn lạnh sợ hãi. Sau đó, cùng hối hả, chúng tôi quay lại và chạy về phía vách đá để nhìn xem điều gì đã xảy ra với cái vật đến từ bầu trời, cái vật vừa kỳ lạ vừa ồn ào. Bên gờ đá, chúng tôi nép mình và chăm chú nhìn một cách cẩn thận xuống dòng sông lấp lánh.

Nơi đó, trên doi cát là quái vật biết bay kỳ lạ, lúc này đang nghỉ ngơi. Khi chúng tôi nhìn, nó nhả ra những cụm lửa và khói đen. Nó làm cho chúng tôi giật bắn người lên và sợ tái mặt, nhưng đó chưa phải là điều kỳ quái nhất. Trước sự sửng sốt hoài nghi và khiếp sợ của chúng tôi, một mảng cửa mở vào bên trong và hai người đàn ông bước ra. Lúc đó tôi nghĩ đây là điều tuyệt vời nhất mà tôi từng nhìn thấy, nhưng chúng tôi đang lãng phí thời gian ở đó. Chúng tôi như bay trên chân và chạy đua trên con đường dẫn xuống phía dưới. Xuống dưới, chúng tôi lao nhanh dọc theo con phố bậc thang, phớt lờ xe cộ đi lại, bỏ qua cả phép lịch sự, vội vàng đến điên rồ để lao tới mép nước.

Xuống đến bờ sông, chúng tôi đứng sựng lại trong sự tức giận đến tuyệt vọng. Không có một chiếc thuyền nào để đi, không có một người lái đò nào, không có ai hết. Họ đang lũ lượt kéo đến nơi mà chúng tôi cũng đang muốn đến. Nhưng mà, có rồi! Có một chiếc thuyền sau một tảng đá. Chúng tôi quay về nó với ý định kéo nó xuống nước và đi ngang qua bên kia sông, nhưng khi chúng tôi vừa đến đó thì chúng tôi nhìn thấy một ông già đang đi xuống dốc với cái lưới trên tay. “Này, cha ơi,” Huang hét lên, “đưa chúng cháu qua sông với.” “Thế đấy,” ông già nói, “tôi không muốn đi. Nó đáng giá bao nhiêu với các cậu?” ông ném cái lưới vào trong thuyền và ngả người ào cạnh thuyền, với chiếc tẩu méo mó cũ kỹ trong miệng.

Ông ngồi vắt chéo chân và nhìn như thể ông sẽ ở đó cả đêm, chỉ cần trò chuyện. Chúng tôi giận điện lên mất cả bình tĩnh. “Thôi nào, ông ơi, ông tính bao nhiêu tiền?” Ông già ấn định số tiền vô cùng lớn, một số tiền có thể mua được cả chiếc thuyền mục nát cũ kỹ của ông ta, chúng tôi nghĩ. Nhưng chúng tôi đang rất nôn nóng, chúng tôi sẽ cho đi tất cả mọi thứ để chúng tôi sang được bờ bên kia. Huang trả giá. Tôi nói, “Ôi, đừng để lãng phí thời gian nữa. Hãy đưa cho ông ấy một nửa số tiền mà ông ấy đòi.” Ông già nhảy vồ lấy nó. Số tiền gấp khoảng hơn mười lần so với ông ấy mong đợi. Ông vồ lấy nó, vì vậy chúng tôi vội vã đẩy thuyền đi. “Đừng có vội vã, các quý ông trẻ, cẩn thận đấy. Các cậu làm hỏng thuyền của tôi mất thôi,” ông già nói. “Ôi, thôi nào, ông nội,” Huang nói, “Nhanh lên, sắp hết ngày rồi.” Ông già ung dung lên thuyền, cọt kẹt vì căn bệnh thấp khớp, vừa càu nhàu. Một cách chậm rãi, ông ta nhặt mái chèo lên và đưa chúng tôi vào dòng chảy. Chúng tôi đang sốt ruột, cố gắng thầm thúc di chuyển thuyền đi nhanh hơn, nhưng không gì có thể làm cho ông già vội vàng cả.

Ở giữa dòng chảy một vài xoáy nước đã chặn đứng và xoay tròn con thuyền chở chúng tôi, sau đó ông đưa con thuyền về đúng hướng lần nữa, và chúng tôi đi ngang qua sông tới dải đất dài dọc bên bờ sông. Để tiết kiệm thời gian, khi gần đến nơi, tôi đếm tiền và dúi vào ông. Chắc chắn là ông ta đã nhanh chóng cầm lấy. Sau đó, không cần đợi thuyền vào tới bờ, chúng tôi cùng nhảy xuống nước ngập tới đầu gối và chạy vội vào bờ.

Trước mặt chúng tôi là cỗ máy tuyệt vời, một cái máy không thể tin được, nó đến từ bầu trời, và mang theo mình những người đàn ông. Chúng tôi nhìn nó sợ hãi, và ngạc nhiên trước sự táo bạo của mình khi dám tiếp cận như thế này. Những người khác cũng đã ở đó, nhưng họ đứng khá xa. Chúng tôi di chuyển về phía trước, đến gần nó, phía dưới nó, sờ mó lốp cao su trên những chiếc bánh xe, thử lấy tay đấm chúng. Chúng tôi di chuyển đến phần sau của nó và thấy rằng ở đây không có bánh xe, nhưng có một thanh bằng kim loại đàn hồi cùng với một vật giống như chiếc giày ở một đầu. “À,” tôi nói, “đó chắc là cái má phanh để làm nó chậm dần khi hạ cánh. Chúng tôi có một cái giống như vậy trên những chiếc diều.”

Rón rén, vừa sợ hãi, chúng tôi chạm ngón tay lên phía bên thân của cỗ máy, chúng tôi nhìn ngờ vực vì thấy rằng nó là một loại vải, được sơn theo cách nào đó và căng trên khung gỗ. Bây giờ, điều này mới thực sự là vấn đề! Vào khoảng giữa cánh và đuôi cỗ máy, chúng tôi chạm vào một cái ô vải, và chúng tôi suýt ngất vì sốc khi nó bật mở ra, và một người đàn ông nhẹ nhàng nhảy xuống đất. “Hay đấy,” anh ấy nói, “các bạn có vẻ rất quan tâm đến nó.” “Chúng tôi thực sự rất quan tâm,” tôi trả lời. “Tôi đã bay trên một cái giống như cái máy của anh, nhưng nó không kêu, ở Tây Tạng.”” Anh ta nhìn tôi và mắt mở to. “Bạn nói là ở Tây Tạng à?” anh hỏi. “Vâng, tôi đã ở đó,” tôi trả lời.

Huang cắt ngang, “Bạn tôi là một vị Phật sống, một vị Lạt Ma, đang học ở Trùng Khánh. Anh ấy thường bay trên những chiếc diều có người lái,” anh nói. Người đàn ông đến từ chiếc máy bay nhìn vẻ quan tâm, “Điều đó thật tuyệt vời,” anh nói, “Chúng ta vào bên trong ngồi nói chuyện nhé?” anh quay đi và dẫn đường đi vào. Vâng, tôi nghĩ, tôi đã có nhiều kinh nghiệm. Nếu người đàn ông này có thể tự tin vào bên trong máy bay thì tôi cũng vậy. Vì vậy, tôi cũng bước vào, Huang cũng vào theo tôi. Tôi đã nhìn thấy một vật lớn hơn cái máy này ở trên Cao nguyên của Tây Tạng mà trong đó các vị Thần của Bầu Trời đã bay thẳng ra khỏi thế giới. Nhưng cái đó hoàn toàn khác với cái ở đây, nó không đáng sợ, bởi vì cái máy mà họ đã sử dụng ở đó hoàn toàn im lặng, còn cái ở đây thì gầm rú, xé rách cả không khí, và lại còn rung lắc nữa.

Bên trong có những chỗ để ngồi, cũng khá thoải mái. Chúng tôi ngồi xuống. Người đàn ông đó, không ngừng hỏi tôi về Tây Tạng, những câu hỏi mà tôi nghĩ là hoàn toàn ngu ngốc. Tây Tạng là chuyện cũ rích, hoàn toàn bình thường, và anh ta đang ở đây, trong một cái máy tuyệt vời nhất, lại đang nói về Tây Tạng. Cuối cùng, sau khoảng thời gian dài và vô cùng sốt ruột, chúng tôi cũng có được một vài thông tin của anh ta. Đây là một cái máy mà người ta gọi là máy bay, một thiết bị được gắn động cơ để đưa nó lên bầu trời. Chính động cơ đã gây ra tiếng ồn, anh ấy nói. Cái máy đặc biệt này do người Mỹ làm ra và nó đang được một công ty của Trung Quốc ở Thượng Hải mua, công ty này đang tính việc mở một tuyến hàng không từ Thượng Hải đến Trùng Khánh. Ba người đàn ông mà chúng tôi đã nhìn thấy là phi công, hoa tiêu, và kỹ sư đang trong một chuyến bay thử nghiệm. Phi công là người đàn ông mà chúng tôi đang ngồi nói chuyện cùng, “chúng tôi quan tâm đến những người quan trọng và cho họ cơ hội bay để họ có thể chấp nhận liên doanh của chúng tôi.” Chúng tôi gật đầu, nghĩ điều đó thật tuyệt vời biết bao và mong ước biết mấy chúng tôi là những người nổi tiếng và quan trọng và sẽ có cơ hội được bay.

Anh tiếp tục, “Bạn đến từ Tây Tạng, bạn thực sự là người quan trọng. Bạn có muốn thử chiếc máy này cùng chúng tôi không?” Tôi đáp, “May mắn quá, tôi sẽ bay ngay như anh muốn!” Anh ta chỉ Huang, và yêu cầu cậu ta bước ra ngoài, khi nói rằng cậu ấy không thể … “Ồ không,” tôi nói, “Ồ, không. Nếu người này bay, người kia cũng sẽ bay .”

Vì vậy Huang được phép ở lại (Sau này cậu ta còn không buồn cám ơn tôi!). Hai người đàn ông đã đi ra ngoài trước đó, di chuyển về phía trước máy bay và làm nhiều tín hiệu bằng tay. Họ làm cái gì đó ở phía trước, sau đó là một tiếng “bùm” và họ đã làm cái gì đó thêm nữa. Đột nhiên có một tiếng ồn đột ngột, và rung khủng khiếp. Chúng tôi bám chặt, nghĩ rằng đã có một vụ tai nạn nào đó, và chúng tôi đang bị rung, rã ra từng mảnh. “Bám chặt vào,” người đàn ông nói. Chúng tôi không thể bám chặt hơn được nữa, vì vậy yêu cầu đó của anh ta là hoàn toàn vô dụng. “Chúng ta sắp cất cánh,” anh nói.

Tiếng ồn thật kinh hoàng, những cú xóc nẩy người, những cú va mạnh, và những tiếng rơi, tồi tệ hơn cả lần đầu tiên tôi đi trên chiếc diều có người lái. Lần này tệ hơn bởi vì ngoài các chấn động, còn có tiếng ồn, tiếng ồn tồi tệ. Có một tiếng rơi cuối cùng, mà nó gần như xô mạnh vào đầu tôi giữa hai vai, và sau đó có cảm giác như có ai đó ấn tôi chặt xuống dưới và đẩy ra phía sau.

Tôi cố gắng ngẩng đầu lên và nhìn ra ngoài cửa sổ bên cạnh. Chúng tôi đã ở trên không trung, đang lên cao. Chúng tôi nhìn thấy dòng sông kéo dài thành một sợi chỉ bạc, hai con sông gặp nhau, chập lại làm một. Chúng tôi nhìn thấy những con thuyền tam bản và các thuyền buồm, chúng trông như những đồ chơi bé nhỏ, những chiếc vỏ bào gỗ đang nổi trên sông.

Sau đó chúng tôi nhìn xuống Trùng Khánh, nhìn những con phố, những con phố bậc thang mà trên dó chúng tôi đã cặm cụi làm việc siêng năng. Từ trên cao này chúng nhìn có vẻ không dốc, nhưng nhìn sang phía bên kia của vách núi là những mảnh ruộng bậc thang bám chênh vênh với những bậc thang đầy bùn tuyết nhão nhoét kinh khủng. Chúng tôi nhìn thấy những người nông dân đang làm việc cực nhọc phía xa, không biết gì đến chúng tôi. Đột nhiên có một màu trắng toát, hoàn toàn mờ mịt, thậm chí tiếng ồn của động cơ dường như cũng bị bóp nghẹt. Chúng tôi đang ở trong những đám mây. Vài phút trôi qua những dải mây trượt khỏi cửa sổ, và ánh sáng trở nên mạnh mẽ hơn. Chúng tôi thoát ra để bay vào vùng trời màu xanh nhạt, tràn ngập ánh sáng mặt trời vàng rực rỡ.

Khi chúng tôi nhìn xuống, giống như nhìn xuống biển tuyết băng giá, ánh sáng trắng gay gắt, rực rỡ, làm đau mắt vì cường độ ánh sáng quá mạnh. Chúng tôi tiếp tục bay lên cao hơn, và tôi trở lại nhận thức được là người đàn ông phụ trách chiếc máy bay đang nói với tôi. “Bây giờ đã cao hơn bạn đã từng bay trước đây,” anh nói, “cao hơn nhiều so với độ cao bạn đã đạt tới trước đây.” “Không hề,” tôi trả lời, “bởi vì khi tôi bắt đầu bay trên chiếc diều có người lái tôi đã ở trên độ cao mười bảy nghìn feet rồi.” Điều đó làm anh ta ngạc nhiên. Anh quay lại nhìn ra cửa số bên cạnh, hạ dần độ cao, chúng tôi lướt nghiêng sang một bên trong một cú bổ nhào làm chúng tôi cười thét lên.

Mặt Huang đã trở nên xanh nhợt, khủng khiếp, và những điều không nên nhắc đến đã xảy ra với anh. Anh lảo đảo rời khỏi chỗ ngồi, và nằm úp mặt xuống sàn máy bay. Anh trông không dễ chịu chút nào, mà chẳng có gì thú vị với anh cả. Còn tôi, tôi luôn luôn miễn dịch với bệnh say độ cao, và tôi không cảm thấy có vấn đề gì ngoại trừ sự dễ chịu nhẹ nhàng của chuyến bay thử. Nhưng Huang thì không, anh đã hoàn toàn bị ngã gục. Vào thời điểm chúng tôi hạ cánh anh chỉ còn là một khối run rẩy, thình thoảng lại phát ra tiếng rên đau đớn. Huang không phải là một phi công giỏi!

Trước khi chúng tôi hạ cánh, viên phi công tắt động cơ và chúng tôi lướt trên bầu trời, xuống thấp dần, thấp dần. Chỉ còn có tiếng “vù vù” của gió đập lên cánh máy bay, và chỉ có tiếng trống của vải ở bên thân của máy bay cho chúng tôi biết rằng chúng tôi đang ở trong một cái máy do con người tạo ra. Đột nhiên, khi chúng tôi đã xuống gần mặt đất, người phi công bật lại động cơ và chúng tôi lại bị điếc tai một lần nữa vì tiếng gầm rú mạnh hàng trăm sức ngựa. Lượn một vòng tròn, chúng tôi trở lại mặt đất. Một tiếng kêu dữ dội, một tiếng rít từ cái nạng đuôi, và có tiếng loảng xoảng rồi dừng lại. Động cơ được tắt một lần nữa, người phi công và tôi đứng lên để đi ra ngoài. Huang tội nghiệp, anh không đứng dậy nổi. Chúng tôi phải đưa anh ra và đặt nằm xuống cát để hồi phục.

Tôi sợ là tôi là người có lòng dạ sắt đá; Huang đang nằm úp mặt xuống cát vàng của mũi đất mà trên đó chúng tôi đã hạ cánh giữa dòng sông rộng hàng dặm. Anh đang nằm úp mặt xuống, tạo ra những âm thanh và cử động kỳ dị, và tôi lấy làm mừng là anh không thể đứng lên.  Mừng vì nó cho tôi một lý do hợp lý để dừng lại và nói chuyện với người đàn ông vừa bay cùng. Nói chuyện về những việc chúng tôi đã làm. Thật không may là anh ta cứ muốn nói chuyện về Tây Tạng. Quốc gia muốn gì đối với việc bay? Máy bay có thể hạ cánh được không?  Có thể nhảy dù ở vùng đất quân sự được không? Phải, tôi không có khái niệm mơ hồ gì về dù cả, nhưng tôi vẫn nói “Không,” để được an toàn! Chúng tôi đi đến một thỏa thuận. Tôi sẽ nói cho anh ta nghe về Tây Tạng và anh ta sẽ nói cho tôi về máy bay. Sau đó, anh ta nói “Tôi thực sự lấy làm hân hạnh nếu bạn có thể gặp một vài người bạn của tôi những người cũng rất quan tâm đến những điều bí ẩn của người Tây Tạng.” Sao nào, tôi muốn gặp những người bạn của anh ta để làm gì chứ? Tôi chỉ là một sinh viên tại trường đại học, và tôi muốn trở thành một sinh viên hàng không, và tất cả những điều người đàn ông này đang nghĩ đến là khía cạnh xã hội của sự việc.

Ở Tây Tạng, tôi là một trong số rất ít người từng được bay. Tôi đã bay cao bên trên những ngọn núi trên chiếc diều có người lái, nhưng mặc dù cảm giác thật tuyệt vời, và sự im lặng nhẹ nhàng, nhưng chiếc diều vẫn bị buộc vào trái đất. Nó chỉ đơn thuần bay lên trên không trung, nó không thể bay trên khắp xứ sở, bất cứ nơi nào mà người phi công muốn bay. Nó  bị buộc như con yak ở ngoài đồng cỏ. Tôi muốn biết nhiều hơn về cỗ máy gầm rú này mà nó bay như tôi đã từng mơ được bay, nó có thể bay bất cứ nơi đâu, tới mọi miền trên thế giới mà người phi công đã kể cho tôi, thế mà tất cả những gì anh ta quan tâm là nói về Tây Tạng.

Trong một lúc câu chuyện có vẻ như bế tắc. Chúng tôi ngồi trên cát đối diện nhau cùng với Huang tội nghiệp đang rên rỉ bên cạnh, mà không nhận được một chút cảm thông nào từ chúng tôi. Cuối cùng chúng tôi đi đến một thỏa thuận. Tôi đồng ý gặp bạn bè anh ta và nói với họ một vài điều về Tây Tạng và về những điều bí ẩn của Tây Tạng. Tôi đồng ý đưa ra một vài bài nói chuyện về vấn đề đó. Còn anh ta, ngược lại, sẽ đưa tôi vào máy bay một lần nữa và giải thích nó làm việc như thế nào. Trước tiên, chúng tôi đi quanh máy bay, anh ta chỉ ra những bộ phận khác nhau. Những cánh thăng bằng, bánh lái, bánh lái độ cao – tất cả các bộ phận của máy bay.

Sau đó chúng tôi vào trong máy bay và ngồi xuống cạnh nhau ngay phía đằng trước. Phía trước mỗi người có một loại cây gậy có một nửa bánh xe gắn vào nó. Bánh xe có thể xoay,  sang trái hoặc sang phải, trong khi cây gậy có thể kéo được trở về sau hoặc đẩy về phía trước. Anh ta giải thích cho tôi việc kéo trở về sau có thể làm máy bay bay lên như thế nào, và đẩy về phía trước sẽ làm cho nó trúc xuống, và việc xoay nó cũng sẽ làm chuyển hướng máy bay. Anh cũng chỉ những nút bấm và công tắc khác nhau. Sau đó động cơ khởi động và sau lớp kính đồng hồ tôi nhìn thấy các cây kim run rẩy thay đổi vị trí khi tốc độ của động cơ thay đổi. Chúng tôi đã làm việc cùng nhau một khoảng thời gian dài, anh ấy đã làm tốt phần việc của mình, anh giải thích tất cả mọi điều. Sau đó, động cơ đã ngừng lại, chúng tôi ra ngoài và anh tháo những nắp đậy kiểm tra và lưu ý những chi tiết khác nhau. Bộ chế hòa khí, bu-gi, và nhiều bộ phận khác nữa.

Tối hôm đó tôi đã gặp những người bạn anh ta như đã hứa. Tất nhiên họ là những người Trung Quốc. Tất cả bọn họ đều có liên kết với quân đội. Một người trong số họ nói với tôi rằng ông biết Tưởng Giới Thạch rất rõ, và, ông ta nói, Ngài Tổng tư lệnh đang cố gắng khai thác hạt nhân của kỹ thuật quân sự. Đang cố gắng nâng cao trình độ chung của các quân chủng  trong quân đội Trung Quốc. Ông ta nói rằng trong thời gian một vài ngày nữa một hoặc hai máy bay, những máy bay nhỏ hơn, sẽ đến Trùng Khánh. Ông ta nói với tôi, chúng là những chiếc máy bay vốn được mua từ Mỹ. Sau đó tôi nghĩ một chút trong đầu, ngoài lề của việc bay. Tôi có thể làm thế nào để có được một trong những chiếc máy bay này? Tôi sẽ làm thế nào để đưa nó lên không trung? Tôi có thể học bay như thế nào?

Huang và tôi rời khỏi bệnh viện một vài ngày sau đó, khi ra khỏi những đám mây nặng chĩu kéo dài phía trên đầu chúng tôi, hai bóng sáng bạc lao đến, hai chiếc máy bay chiến đấu loại một chỗ ngồi đến từ Thượng Hải như đã hứa. Chúng bay vòng phía trên Trùng Khánh, và bay vòng một lần nữa. Sau đó, có vẻ như họ đã nhận ra chính xác chỗ để hạ cánh, họ lao xuống theo đội hình rất gần. Chúng tôi không lãng phí thời gian, vội vã đi xuống con phố bậc thang, và chạy ngang qua con đường đến bờ cát. Có hai phi công người Trung Quốc đang đứng bên cạnh những chiếc máy bay của họ, bận rộn lau chùi những vết do bay qua những đám mây bẩn. Huang và tôi tiến lại gần, và người chỉ huy của họ đã nhận ra sự có mặt của chúng tôi, đại úy Po Ku.

Huang đã làm rõ với tôi rằng không một điều gì có thể bắt anh bay lên trời một lần nữa. Anh nghĩ rằng: anh đã suýt chết sau chuyến bay đầu tiên và cũng là chuyến bay cuối cùng của anh.

Đại úy Po Ku nói: “À, vâng, tôi đã nghe nói về bạn. Tôi đang thực sự băn khoăn tự hỏi làm thế nào để liên lạc với bạn.” Và tôi đã bị tâng bốc nhiều theo cách đó. Chúng tôi nói chuyện trong một lúc, anh chỉ ra sự khác nhau giữa máy bay này với máy bay chở khách mà chúng tôi đã nhìn thấy hôm trước. Đây là, anh chỉ, chiếc máy bay có một chỗ ngồi duy nhất, có một động cơ, còn máy bay kia là loại ba động cơ. Sau đó, chúng tôi có ít thời gian để ở lại, vì chúng tôi phải giải quyết những công việc của mình, và chúng tôi thực sự miễn cưỡng khi phải rời đi.

Ngày hôm sau chúng tôi có nửa ngày nghỉ và chúng tôi đến chỗ hai chiếc máy bay một lần nữa, sớm nhất có thể. Tôi yêu cầu viên Đại úy dạy tôi lái máy bay như đã hứa. Anh ta nói, “Ồ, tôi không thể làm điều đó. Tôi chỉ ở đây theo lệnh của Tưởng Giới Thạch. Chúng tôi đang phô diễn những chiếc máy bay này.” Tôi vẫn cứ kiên trì bám theo anh trong suốt ngày hôm đó, và khi tôi gặp anh ngày hôm sau, anh nói, “Cậu có thể ngồi vào trong máy bay, nếu cậu thích. Cậu sẽ thấy khá thỏa mãn. Ngồi trong đó và thử điều khiển. Đây là cách chúng làm việc, hãy nhìn đây.”

Và anh đứng lên chỗ cánh máy bay, chỉ cho tôi cách điều khiển, chỉ cho tôi biết chúng làm việc thế nào. Cũng cùng một cách như máy bay ba động cơ, nhưng tất nhiên đơn giản hơn nhiều. Tối hôm đó chúng tôi đưa anh và người bạn đồng hành của anh về chùa và cũng là nhà của chúng tôi, họ để lại một cảnh sát để trông nom chiếc máy bay, và mặc dầu tôi đã làm hết cách, tôi vẫn không nhận được bất kỳ sự thỏa thuận nào về việc họ sẽ dạy tôi bay. Anh ấy nói, “Ồ, bạn có thể phải đợi một thời gian dài, phải mất hàng tháng huấn luyện. Bay không chỉ đơn giản là thẳng một mạch như bạn muốn. Bạn sẽ phải học tại trường dưới  mặt đất, bạn sẽ phải học bay trên máy bay có ghế phụ, và bạn sẽ phải thực hành nhiều giờ trước khi bạn được phép lái chiếc máy bay giống như chiếc này.”

Vào cuối buổi chiều ngày hôm sau, chúng tôi lại đến đó một lần nữa. Huang và tôi vượt qua sông và lên bờ cát. Hai người đàn ông đang ở một mình với những chiếc máy bay  của họ. Hai chiếc máy bay nằm cách nhau một quãng xa. Hình như có chuyện gì đó không ổn với người bạn của Po Ku, bởi vì anh ta đã mở nắp động cơ, và các dụng cụ bày la liệt. Po Ku đang khởi động chiếc máy bay của mình. Anh đang điều chỉnh nó. Anh tắt máy, điều chỉnh và khởi động lại. Nó chạy “phụt, phụt, phụt” không đều chút nào cả.

Anh ta quên cả chúng tôi, khi anh đứng trên cánh máy bay, và làm gì đó cái động cơ. Sau đó, khi động cơ nổ đều, trơn tru, giống như con mèo đang rất hài lòng, anh đứng thẳng lên, lau tay vào mảnh vải lấm dầu. Nhìn anh thật hạnh phúc. Anh đang quay lại để nói với chúng tôi thì người bạn anh gọi gấp gáp từ chiếc máy bay kia. Po Ku chạy tới để tắt động cơ nhưng người phi công kia vẫy tay cuống cuồng, vì thế từ trên cánh máy bay, anh nhảy ngay xuống cát, rồi chạy đi vội vã.

Tôi nhìn Huang và nói, “A ha, anh ấy đã nói là tôi có thể ngồi vào trong, đúng không? Được thôi, tôi sẽ ngồi vào trong.” “Lobsang,” Huang nói, “Cậu không định làm liều đấy chứ?” “Hoàn toàn không,” tôi trả lời. “tôi có thể bay trên chiếc máy bay này, tôi biết tất cả về nó rồi.” “Nhưng, ông bạn,” Huang nói, “cậu sẽ tự giết mình thôi.” “Nhảm nào!” tôi nói. “Tôi chưa từng bay trên diều hay sao? Tôi chưa từng bay lên không trung hay sao, và tôi đâu có bị say?” Huang tội nghiệp nhìn hơi tiu nghỉu khi tôi nói vậy, bởi vì khả năng đi máy bay của anh không tốt chút nào cả.

Tôi nhìn về phía chiếc máy bay kia, nhưng hai người phi công đang ở xa, quá bận rộn để bận tâm về tôi. Họ đang quỳ trên cát làm cái gì đó cho phần động cơ, rõ ràng là họ đang rất mải mê làm việc. Không có ai khác ngoài Huang, vì vậy tôi tiến đến chiếc máy bay. Như tôi đã nhìn thấy những người khác làm, tôi đá văng các vật chèn trước các bánh xe và vội vàng nhảy vào trong khi máy bay bắt đầu lăn bánh. Tôi đã được nghe giải thích vài lần về cách điều khiển, và tôi biết đó là bộ điều chỉnh, tôi biết phải làm gì.

Tôi đẩy nó về phía trước một cách khó khăn, khó khăn để di chuyển, cứng đến nỗi cổ tay trái tôi gần như bị bong gân. Động cơ gầm lên hết sức mạnh mẽ như thể nó đang tự xé mình để được tự do. Sau đó, chúng tôi tăng tốc tối đa lao xuống dải cát vàng. Tôi nhìn thấy ánh sáng lấp loáng nơi nước và dải cát gặp nhau. Trong một khoảnh khắc tôi cảm thấy sợ, sau đó tôi nhớ ra: kéo cần ngược trở lại. Tôi kéo cần điểu khiển ra phía sau một cách khó khăn, mũi máy bay ngóc lên, các bánh xe lướt nhẹ trên sóng, làm tóe lên những tia nước, chúng tôi đã bay lên. Cảm giác mênh mông, một bàn tay mạnh mẽ đẩy phía dưới tôi, đang đẩy tôi lên.

Động cơ gầm lên và tôi nghĩ rằng, “Không được để nó bay quá nhanh, phải giảm ga nếu không nó sẽ rơi ra từng mảnh.” Vì vậy tôi kéo cần điều khiển van tiết lưu xuống một phần tư và động cơ giảm xuống. Tôi nhìn qua phía bên của máy bay, và giật mình. Một chặng đường dài phía dưới là những vách đá trắng của Trùng Khánh. Tôi đang ở trên cao, rất cao, cao đến nỗi tôi khó có thể nhận ra mình đang ở đâu. Tôi vẫn đang bay lên cao hơn. Vách đá trắng của Trùng Khánh ư? Ở đâu vậy? Trời ơi! Nếu tôi bay cao hơn nữa tôi sẽ bay luôn ra khỏi thế giới này, tôi nghĩ.

Ngay sau đó là một cú rung khủng khiếp, và tôi cảm thấy có lẽ tôi đang rơi ra từng mảnh. Cần điều khiển trong tay tôi đang bị giật mạnh ra khỏi bàn tay ghì chặt của tôi. Tôi bị ném vào thành chiếc máy bay đang bị lật nghiêng, tròng trành dữ dội, và nó đang bổ nhào quay tròn, lao xuống đất. Trong một khoảnh khắc tôi vô cùng sợ hãi. Tôi tự nói với mình, “Bạn phải làm điều đó lúc này, Lobsang, cậu bé của tôi. Bạn tự cho mình là quá thông minh. Chỉ giây lát nữa thôi, người ta sẽ phải cạo cậu ra khỏi tảng đá. Ồ, tại sao tôi lại rời khỏi Tây Tạng chứ?” Sau đó suy diễn từ những gì tôi đã được nghe và từ kinh nghiệm bay trên diều của mình:Trạng thái vừa lao xuống vừa xoáy tròn; cần điều khiển không hoạt động, tôi phải mở hết ga để cố gắng lấy lại hướng. Ngay khi nghĩ vậy, tôi đẩy ngay cần điều khiển van tiết lưu về phía trước một lần nữa, và động cơ lại gầm lên.

Tôi vồ lấy cần điều khiển đang đập loạn xạ và dốc hết sức mình dựa lưng vào ghế, dùng tay và đầu gối tôi đẩy mạnh cần điều khiển về phía trước. Mũi máy bay chúc xuống đáng kể, như thể đuôi máy bay đã bị rơi ra ngoài. Tôi không có đai an toàn và nếu tôi không bám thật chặt vào cần điều khiển tôi có thể đã bị bắn ra ngoài. Huyết quản tôi như bị đóng băng lại, như thể ai đó đang đẩy tuyết xuống lưng tôi. Đầu gối tôi trở nên yếu một cách kỳ lạ, động cơ gầm lên, tiếng rền rĩ trở nên ngày càng to lên. Tôi có cảm giác bị hói, mặc dù tôi biết chắc là không phải vậy, tóc tôi chắc hẳn đang dựng đứng hết lên bất chấp luồng không khí.

“Ôi, đủ nhanh rồi,” tôi tự nhủ, và một cách nhẹ nhàng, ồ, thật nhẹ nhàng, để không bị tắt động cơ, tôi nới nhẹ trở lại cần điều khiển. Từ từ, chậm một cách đáng sợ, mũi máy bay ngóc lên, ngóc lên nữa, nhưng đang cơn phấn khích tôi quên mất cách cho bay thẳng lại. Mũi máy bay tiếp tục ngóc lên cho tới khi cảm giác kỳ lạ khiến tôi nhìn xuống, hay là nhìn lên nhỉ? Tôi nhận thấy mặt đất đang ở bên trên đầu tôi! Trong khoảnh khắc tôi hoàn toàn không còn nhận biết được điều gì đang xảy ra. Sau đó, chiếc máy bay lắc lư và lộn ngược bổ nhào một lần nữa, kết quả là trái đất, cái thế giới đau khổ ở bên dưới, ngay thẳng trước cánh quạt. Tôi đã quay lộn nhào. Tôi đã bay lộn ngược, dồn sức lên cánh tay và đầu gối trong buồng lái, bị treo ngược mà không có đai an toàn, và rõ ràng là không có nhiều hy vọng.

Tôi thừa nhận là đã rất sợ nhưng tôi nghĩ, “Được thôi, nếu tôi có thể cưỡi trên lưng một con ngựa, thì tôi cũng có thể lái một chiếc máy bay.” Vì thế tôi để mũi máy bay chúc xuống hơn một chút và sau đó nhẹ nhàng kéo ngược cần điều khiển. Một lần nữa tôi cảm thấy một bàn tay mạnh mẽ đang đẩy tôi; lúc này, tuy nhiên, tôi kéo cần điều khiển một cách từ từ, cẩn thận, luôn luôn quan sát mặt đất, và tôi có thể giữ máy bay thăng bằng trong suốt quá trình bay. Trong một lúc tôi chỉ ngồi đó, lau mồ hôi trên trán, nghĩ chuyện này thật là kinh khủng; đầu tiên lao cắm xuống, sau đó lại lao thẳng lên, rồi bay lộn ngược, và bây giờ tôi không biết mình đang ở đâu.

Tôi nhìn qua bên cạnh, chăm chú quan sát mặt đất, quay nhìn xung quanh, và tôi hoàn toàn mơ hồ về vùng đất tôi đang bay trên đó. Tôi có thể đang ở trên sa mạc Gobi cũng nên. Cuối cùng, khi tôi từ bỏ hy vọng, thì một ý nghĩ chợt đến với tôi –chỉ ở trong buồng lái mới có được mà thôi! – dòng sông, nó ở đâu? Rõ ràng, tôi nghĩ, nếu tôi có thể tìm được dòng sông thì tôi có thể đi sang trái hay sang phải, cuối cùng tôi sẽ đi đến được đâu đó.

Vì vậy tôi lượn một vòng nhẹ nhàng, chăm chú quan sát phía xa. Cuối cùng tôi nhìn thấy một sợi bạc mờ nhạt nơi đường chân trời.

Tôi đổi hướng máy bay, và bay thẳng về phía đó. Tôi đẩy cần điều khiển về phía trước để tới đó nhanh hơn, và sau đó tôi kéo cần ngược trở lại khi có một cái gì đó đổ vỡ. Tôi cảm thấy không ổn lắm lúc đó. Tôi nhận thấy rằng tôi đang làm mọi thao tác đều quá mạnh. Tôi đẩy cần điều khiển về phía trước, tiếng ồn tăng lên với cảnh báo quá nhanh, hay khi tôi kéo cần điều khiển ra sau, mũi máy bay sẽ chúc xuống cũng với mức báo động đột ngột. vì vậy, bây giờ tôi sẽ làm mọi việc thật nhẹ nhàng; đó là một thái độ mới mà tôi đã áp dụng cho dịp này.

Khi tôi bay đến ngay phía trên dòng sông, tôi vòng lại và bay dọc theo con sông, tìm kiếm những vách đá của Trùng Khánh. Nó thật là khó hiểu. Tôi không thể xác định được vị trí. Sau đó tôi quyết định xuống thấp hơn. Tôi bay vòng vòng ngày càng thấp hơn, nhìn chăm chú tìm kiếm những vách đá trắng với những vết rạch dài mà chúng là những bờ dốc bậc thang, tìm kiếm những mảnh ruộng bậc thang. Chúng rất khó tìm. Cuối cùng điều rõ ràng hơn đối với tôi là tất cả những đốm nhỏ trên sông là những chiếc thuyền đều đang hướng về Trùng Khánh. Chiếc tàu hơi nước nhỏ, những con thuyền tam bản, những chiếc thuyền mảng. Vì vậy tôi vẫn tiếp tục xuống thấp hơn. Sau đó tôi chỉ nhìn sợi chỉ bạc của dải cát. Tôi bay xuống hình xoắn ốc giống như con chim lao xuống hình xoắn ốc để bắt con mồi. Mũi cát trở nên lớn dần, lớn dần.

Ba người đàn ông đang nhìn lên, sững sờ khiếp sợ, ba người đàn ông, đó là Po Ku và viên phi công đồng nghiệp, cùng với Huang, đang cảm thấy chắc chắn, như họ nói với tôi sau này, là họ đã bị mất chiếc máy bay. Nhưng bây giờ tôi đang khá tự tin, rất tự tin. Tôi đã bay lên không trung, tôi đã bay lộn ngược, tôi đã tìm thấy Trùng Khánh. Bây giờ, tôi nghĩ tôi là người phi công giỏi nhất thế giới. Ngay sau đó, tôi bị ngứa trên chân trái nơi có một cái sẹo xấu xí từ lần tôi bị bỏng ở lạt ma viện. Một cách vô thức, tôi cho là mình đã giật cái chân; chiếc máy bay rung chuyển mạnh, cơn gió xoáy đập mạnh má bên trái của tôi, mũi máy bay dốc xuống khi cánh lật nghiêng, và ngay lúc đó tôi hét thất thanh khi bay lượn. Một lần nữa tôi đẩy van tiết lưu về phía trước và cẩn thận kéo cần điều khiển về phía sau.

Chiếc máy bay rùng mình và cánh thì rung lên. Tôi nghĩ chúng sắp sửa tung rời ra! Chúng giữ lại được chỉ bằng phép màu. Chiếc máy bay lồng lên như con ngựa bất kham, rồi sau đó bay là là. Tim tôi đập dữ dội do những cố gắng tột cùng và cũng vì sợ hãi nữa. Tôi bay vòng tròn một lần nữa trên doi cát nhỏ. “Được rồi, bây giờ,” tôi tự nghĩ, “mình phải hạ cánh thôi. Mình sẽ làm thế nào đây?” con sông ở đây rộng một dặm. Đối với tôi, nó trông như chỉ vài inch và doi cát mà tôi sẽ hạ cánh trên đó thì vô cùng nhỏ bé. Tôi lượn vòng trong khi tự hỏi phải làm gì. Sau đó tôi nhớ ra họ đã nói với tôi những gì, họ đã giải thích bay như thế nào. Vì thế tôi tìm đám khói nào đó để xem chiều của gió, bởi vì họ bảo tôi cần phải hạ cánh theo chiều gió. Khói đang tỏa trên sông, từ một đống lửa được đốt lên bên bở con sông.

Tôi vòng lại và bay ngược dòng, trong nhiều dặm, và sau đó lặp lại theo bài học của mình, để tôi lại xuôi theo dòng sông và bay theo chiều gió. Khi bay về hướng Trùng Khánh tôi từ từ nới lỏng van tiết lưu để máy bay chậm dần, chậm dần, và hạ xuống thấp dần. Ngay khi tôi nới lỏng quá nhiều, động cơ chết máy và rung mạnh, và rơi xuống như một hòn đá, tim và dạ dày tôi lộn tùng phèo, cảm thấy như đang treo trên một đám mây. Rất nhanh tôi đẩy van tiết lưu về phía trước và kéo cần điều khiển về phía sau, nhưng tôi lại phải quay vòng lại và bay ngược dòng sông một lần nữa, rồi bắt đầu tất cả lại từ đầu. Tôi trở nên mệt mỏi vì chuyến bay này, và ước là mình chưa bao giờ bắt đầu chuyến bay. Tôi nghĩ, đưa nó lên trên không trung là một việc, nhưng rất khác với việc đưa nó xuống còn nguyên vẹn.

Tiếng gầm của động cơ trở nên đơn điệu. Tôi rất biết ơn khi nhìn thấy Trùng Khánh xuất hiện trong tầm nhìn một lần nữa. Tôi đang bay thấp, một cách chậm rãi, ngay phía trên dòng sông, giữa các giữa những núi đá khổng lồ mà thường nhìn là màu trắng, nhưng bây giờ, qua những tia khúc xạ của mặt trời, là một màu xanh đen. Khi tôi đến gần dải cát ở giữa hai dòng sông rất hẹp – tôi có thể thực hiện được với chiều rộng vài dặm! – Tôi nhìn thấy ba bóng người đang hy vọng bồn chồn đi tới đi lui. Tôi mải nhìn họ đến nỗi quên cả hạ cánh. Đúng lúc đó, chợt lóe lên trong tôi rằng đây là nơi tôi phải hạ cánh. Nó lướt qua bên dưới bánh xe của tôi, bên dưới cái nạng đuôi. Vì vậy, với một tiếng thở dài cam chịu, tôi đẩy van tiết lưu về phía trước để tăng tốc một lần nữa. Tôi kéo cần điều khiển về phía sau để đạt được độ cao, và bay qua trong một cái nhún về bên trái đột ngột. Lúc này tôi đang đối mặt ngược dòng sông một lần nữa, chán cả phong cảnh, chán cả Trùng Khánh, chán tất cả mọi thứ.

Tôi vòng lại một lần nữa bay xuống phía dòng sông, và theo chiều gió. Qua bên phải, tôi nhìn thấy một cảnh rất đẹp. Mặt trời đang lặn, đỏ rực rỡ, đỏ và rất lớn. Đang đi xuống. Nó nhắc nhở tôi rằng tôi cũng phải đi xuống, và tôi nghĩ tôi sẽ đi xuống, vỡ tan và chết, và tôi tự cảm thấy rằng tôi vẫn chưa sẵn sàng đến với các vị Thần, còn quá nhiều việc phải làm. Điều này nhắc tôi nhớ lại lời Tiên tri, và tôi biết rằng tôi không có gì phải lo lắng nhiều về điều đó. Lời Tiên tri! Tất nhiên tôi sẽ hạ cánh an toàn và tất cả đều sẽ tốt đẹp.

Suy nghĩ về điều đó làm cho tôi hầu như quên mất Trùng Khánh. Ở đây, nó đang ở ngay bên dưới cánh trái. Tôi nhẹ nhàng nới lỏng bánh lái để đảm bảo rằng doi cát vàng hoàn toàn ở ngay trước động cơ. Tôi xuống chậm dần, chậm dần. Máy bay nhẹ nhàng hạ xuống. Tôi kéo van tiết lưu về phía sau sao cho tôi sẽ ở khoảng ba mét phía trên mặt nước khi ngừng động cơ. Để đảm bảo rằng không có lửa nếu tôi đâm sầm xuống tôi tắt động cơ. Sau đó, rất, rất nhẹ nhàng, tôi đẩy cần điều khiển về phía trước để giảm độ cao. Thẳng phía trước động cơ tôi nhìn thấy cát và nước cứ như là tôi đang lao thẳng vào nó vậy. Vì vậy, rất nhẹ nhàng tôi kéo cần điều khiển lại phía sau.

Có một cú kéo giật, một tiếng kêu chói tai và sau đó giật nảy lên. Lại một lần nữa một tiếng cào, một cú kéo giật, và một tiếng kêu chói tai, và sau đó là một tiếng cọt kẹt ầm ĩ như thể mọi thứ đang rơi ra từng mảnh. Tôi đã ở trên mặt đất. chiếc máy bay vừa tự hạ cánh. Trong một lúc tôi vẫn ngồi yên, thật khó tin rằng tất cả đã qua, rằng tiếng ồn của động cơ không thực sự ở đó, mà nó chỉ là điều tưởng tượng trong tai tôi. Sau đó tôi nhìn xung quanh. Po Ku và người bạn đồng nghiệp của anh và Huang đang đua nhau chạy tới, mặt đỏ tía vì cố gắng, thở gấp. Họ trượt tới để dừng lại ngay bên dưới tôi. Po Ku nhìn tôi, nhìn chiếc máy bay, lại nhìn tôi lần nữa. Mặt anh tái nhợt vì sốc và cũng vì hoàn toàn nhẹ nhõm. Anh nhẹ nhõm đến nỗi anh không thể tức giận được nữa. Sau một lúc lâu, Po Ku nói, “Thế là giải quyết xong. Bạn sẽ phải tham gia vào Không quân hoặc tôi sẽ gặp rắc rối nghiêm trọng.” “Đồng ý,” tôi nói, “rất phù hợp với tôi. Không có vấn đề gì trong việc bay này cả. Nhưng tôi muốn học theo phương pháp bài bản!”

Po Ku lại đỏ mặt một lần nữa, sau đó anh phá lên cười. “Bạn sinh ra đã là một phi công rồi, Lobsang Rampa,” anh nói. “Bạn sẽ có cơ hội để học bay.” Vì vậy, đây là bước đầu tiên hướng đến việc rời khỏi Trùng Khánh. Vì vừa là bác sĩ phẫu thuật và vừa là phi công, công việc phụng sự của tôi sẽ hữu ích ở những nơi khác nữa.

Cuối ngày hôm đó, khi chúng tôi nói chuyện về toàn bộ vấn đề, tôi hỏi Po Ku, nếu anh lo lắng như vậy, tại sao anh lại không bay lên trên một chiếc máy bay khác để chỉ cho tôi cách bay về. Anh nói, “tôi muốn lắm chứ, nhưng anh đã từng bay thử và làm tất cả, vì thế tôi không thể.”

Huang, tất nhiên rồi, truyền đi câu chuyện, cũng như Po Ku và người bạn đồng hành của anh nữa, và trong vài ngày tôi là chủ đề chính của những cuộc trò chuyện ở trường đại học và bệnh viện, nhiều đến mức chán ngán. Tiến sĩ Lee đã gửi cho tôi thông báo chính thức lời khiển trách nghiêm khắc, nhưng cũng để chính thức chúc mừng tôi. Ông nói rằng ông rất thích được tự mình làm như vậy trong những năm tuổi trẻ của mình, nhưng “Không có máy bay thời tôi còn trẻ, Rampa. Chúng tôi phải đi ngựa hoặc đi bộ.” Ông nói rằng giờ đây nó rơi vào số phận của một người Tây Tạng hoang dã để anh ta có sự chiêm nghiệm tuyệt vời nhất mà anh ta có được trong nhiều năm. Ông nói thêm, “Rampa, hào quang của họ trông thế nào khi cậu bay phía trên họ và họ nghĩ rằng cậu sắp sửa rơi xuống và vỡ tan tành trên người họ?” Ông phá lên cười khi tôi nói rằng họ nhìn vô cùng sợ hãi và hào quang của họ co rút lại yếu ớt xanh lợt, bắn ra những tia màu đỏ nâu. Tôi nói, “Tôi rất mừng là không có ai ở đó để nhìn thấy hào quang của tôi như thế nào. Nó phải rất khủng khiếp. Chắc hẳn nó phải là như vậy.”

Không lâu sau đó, tôi được tiếp cận với vị đại diện của Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch và được đề nghị cơ hội học bay, đồng thời được chính thức bổ nhiệm vào lực lượng không quân Trung Quốc. Viên sĩ quan đến gặp tôi đã nói, “Nếu chúng tôi có thời gian trước khi Nhật Bản xâm lược nghiêm trọng, chúng tôi muốn thành lập một đội ngũ đặc biệt để những người bị thương và không thể di chuyển được có thể nhận được sự giúp đỡ từ những người đến từ đường hàng không mà họ đồng thời cũng là bác sĩ phẫu thuật.”

Thế là tôi có những điều khác để học bên cạnh việc nghiên cứu cơ thể con người. Tôi phải học sự lưu thông của dầu cũng như sự lưu thông của máu. Tôi phải nghiên cứu cấu trúc của máy bay cũng như của bộ xương con người. Chúng thú vị như nhau và cũng có nhiều điểm chung.

Vậy là đã nhiều năm trôi qua, và tôi đã trở thành người bác sĩ có đủ trình độ chuyên môn và cũng là một phi công có đủ khả năng, được đào tạo trong cả hai chuyên ngành, làm việc trong bệnh viện và bay vào những thời gian rảnh rỗi. Huang đã từ bỏ nó. Anh không quan tâm đến bay và chỉ cần nghĩ đến máy bay đã khiến anh phát ốm. Po Ku, thay vào đó, ở bên tôi bởi vì có thể thấy tốt đẹp như thế nào khi chúng tôi làm việc cùng nhau và chúng tôi thực sự là một đội ăn ý.

Bay là một cảm xúc tuyệt vời. Hết sức thú vị khi lên trên cao trong chiếc máy bay, và tắt động cơ để lướt đi và bay lượn giống như những con chim. Điều đó cũng rất giống với sự di chuyển của thể vía mà tôi đã làm và bất cứ ai khác cũng có thể làm được nếu trái tim họ khỏe mạnh và họ có tính nhẫn nại bền bỉ.

Emil Group (emilgroup.net@gmail.com) tổng hợp từ lobsangrampa.org.
Nguồn: minhtrietmoi.org

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *