Bác sĩ từ Lhasa – 03 – học y khoa

Chương 3: Học y khoa

Làn sương mù ẩm ướt, xám xịt tràn xuống từ những ngọn đồi phía trên Trùng Khánh, che phủ kín những ngôi nhà, dòng sông, cột buồm của những chiếc thuyền thấp bên dưới, chuyển  ánh đèn trong các cửa hiệu thành mầu vàng da cam mờ nhạt, làm giảm cả những âm thanh, thậm chí có lẽ còn cải thiện một phần cái vẻ bề ngoài của Trùng Khánh. Tiếng những bước chân lê trên đường và một ông già lưng còng xuất hiện lờ mờ trong tầm mắt qua làn sương mù, rồi nhanh chóng biến mất, không thể nhìn thấy được nữa.

Đó là sự im lặng kỳ lạ ở nơi đây, âm thanh chỉ còn là những tiếng bị bóp nghẹt. Sương mù giống như một tấm chăn dày làm cho tất cả trở nên tẻ nhạt. Huang và tôi vừa kết thúc một ngày học, và bây giờ đã tối muộn. Chúng tôi quyết định đi ra khỏi trường đại học, ra khỏi những phòng mổ xẻ, và để hít thở không khí trong lành. Nhưng thay vào đó, chúng tôi lại gặp phải sương mù. Tôi đã cảm thấy đói. Huang cũng vậy.  Sự ẩm ướt thấm vào tận trong xương và làm cho chúng tôi lạnh cóng. “Chúng ta đi ăn đã, Lobsang. Tôi biết một nơi ăn rất ngon,” Huang nói. “Đồng ý,” tôi trả lời.

“Tôi luôn sẵn sàng thưởng thức món gì đó thật thú vị. Cậu có gì để chỉ cho tôi không?” “Ồ, tôi muốn chỉ cho cậu thấy rằng ở Trùng Khánh chúng ta có thể sống khá tốt mặc cho cậu nói gì.”

Anh quay lại và dẫn đường, hay đúng hơn, anh quay lại và sờ soạng mò mẫm cho đến khi chúng tôi lần bước đến phố và có thể xác định được các cửa hàng. Chúng tôi đi xuống một con đường nhỏ và sau đó đi qua một cái cổng, nó hiện ra một cách kỳ lạ giống như một cái hang động trên vách núi. Ở bên trong, không khí thậm chí còn dày đặc hơn cả bên ngoài. Người ta đang hút thuốc, phun ra những đám khói lớn mùi kinh tởm. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy nhiều người hút thuốc như vậy, cũng khá mới lạ, tởm lợm, khi nhìn người ta với những khúc củi cháy dở trong miệng, và khói tuôn ra qua lỗ mũi họ. Một người đàn ông thu hút ánh nhìn chăm chú của tôi. Ông ta tạo ra khói không phải chỉ từ lỗ mũi mà cả từ tai của ông ta.

Tôi chỉ anh ta cho Huang “Ồ, ông ta ấy hả,” anh nói, “ông ta điếc lòi ra, cậu biết đấy. Màng nhĩ của ông ta đã bị hỏng. Nó là vốn quý đối với ông ta. Không có màng nhĩ để cản trở khói, vì vậy ông ta đẩy nó ra ngoài qua mũi và cả qua tai nữa. Ông ta đến gặp những người nước ngoài và nói, “Hãy cho tôi một điếu thuốc và tôi sẽ cho ông thấy điều mà ông không thể làm được.’ Kệ ông ta với khói thuốc. Chả can hệ gì hết. Hãy xem món ăn đã. Tôi sẽ gọi món,” Huang nói, “tôi là khách quen ở đây và chúng ta sẽ có món ăn ngon nhất với giá thấp nhất.” Điều đó thật tốt, trong mấy ngày gần đây tôi không ăn được, mọi thứ đều mới lạ, và thực phẩm cũng hoàn toàn xa lạ. Huang nói với một trong những người phục vụ đang ghi lên một tập giấy nhỏ, rồi sau đó chúng tôi ngồi xuống và nói chuyện.

Thực phẩm là một trong những khó khăn của tôi. Tôi không thể có được những loại thực phẩm mà tôi quen dùng, và tôi phải ăn thịt và cá, trong số những thứ khác. Đối với tôi, là một Lạt ma Tây Tạng, điều này thực sự ghê tởm, nhưng tôi  đã được các vị Lạt Ma cao cấp ở cung điện Potala tại Lhasa dạy bảo rằng tôi sẽ phải làm cho bản thân mình quen với những thực phẩm xa lạ bên ngoài, và tôi đã được xá tội vì những loại thức ăn mà tôi sẽ phải tiêu thụ. Ở Tây Tạng, chúng tôi là những nhà sư, không ăn thịt nhưng đây không phải là Tây Tạng, và tôi phải tiếp tục sống để thực hiện nhiệm vụ đã được giao phó. Để có thể ăn được những thực phẩm mà tôi cần, tôi sẽ phải ăn món hổ lốn kinh tởm được mang đến cho tôi và làm như tôi thích ăn chúng.

Bữa ăn tối của chúng tôi đã được mang đến. Một nửa con rùa bao quanh là những con ốc biển, và theo sau là một đĩa ếch nấu cà ri với lá bắp cải xếp xung quanh. Chúng khá ngon lành nhưng tôi thích món tsampa của tôi hơn. Vì vậy, điều tốt nhất cần làm là ăn món cà ri ếch cùng với mì và cơm. Chúng tôi uống trà. Một thứ tôi nhất định không bao giờ động đến bất chấp tất cả những lời cổ vũ thúc đẩy của những người bên ngoài Tây Tạng là đồ uống gây say. Không bao giờ, không bao giờ và không bao giờ. Trong niềm tin của chúng tôi không gì tồi tệ hơn là những đồ uống gây say, không có gì xấu xa hơn là say rượu. Say rượu, theo chúng tôi đánh giá, là tội lỗi xấu xa nhất bởi vì khi cơ thể bị u mê vì đồ uống thì thể vía, phần linh hồn cao hơn cả của một người, sẽ bị đưa ra khỏi cơ thể vật lý và phải để thể xác đó nó lại như con mồi cho những kẻ đi rình mò kiếm mồi. Đây không phải là sự sống duy nhất; cơ thể vật lý chỉ là một biểu hiện đặc biệt, sự biểu lộ thấp nhất, và người uống càng nhiều, càng gây nguy hại cho cơ thể người đó trong trong những cảnh giới khác của sự sống.

Rõ ràng là người say rượu nhìn thấy “ảo giác” và những điều kỳ lạ không tồn tại trong thế giới vật chất.

Chúng tôi tin rằng đó là những biểu hiện của kẻ tà ác nào đó, kẻ đang cố gắng chiếm đoạt cơ thể vật lý để thực hiện những điều tệ hại. Cũng cần biết rõ là những người say rượu không thể “làm chủ được ý thức của họ một cách đúng đắn.” Vì thế, Tôi không bao giờ đụng đến đồ uống gây say, thậm chí rượu ngô, ngay cả rượu gạo cũng vậy.

Vịt quay là dạng thực phẩm rất hấp dẫn đối với những người thích ăn thịt. Tôi thích ăn măng, tất nhiên nó rất khó kiếm ở phương Tây. Loại rau thay thế cho nó gần nhất là cần tây, chúng mọc ở một nước châu Âu nào đó. Cần tây Anh là hoàn toàn khác và không phù hợp lắm. Khi thảo luận về thực phẩm Trung Quốc, có thể ai đó quan tâm cho rằng không có món ăn thập cẩm như vậy; đó chỉ là một cái tên, một cái tên chung cho món ăn Trung Quốc, cho BẤT KỲ món ăn Trung Quốc nào.

Nếu ai đó muốn có một bữa ăn Trung Quốc thực sự ngon họ cần phải đi đến nhà hàng Trung Quốc chính thống hạng nhất và ăn món ra gu nấm và măng. Sau đó họ nên ăn canh cá. Tiếp theo là vịt quay. Bạn sẽ không cần đến dao lạng thịt trong nhà hàng Trung Quốc thật sự, người phục vụ sẽ đến cùng với một cái rìu nhỏ và anh ta sẽ chặt nhỏ con vịt ra thành những lát có kích thước phù hợp với bạn. Khi đã vừa ý bạn, chúng sẽ được cuốn với một lát hành non và kẹp vào trong một cái sandwich, loại bánh mì không có men. Người ta sẽ nhặt lên những cái bánh sandwich nhỏ này và ăn ngấu nghiến từng chiếc đầy mồm.

Bữa ăn nên kết thúc với những chiếc lá sen, hoặc, nếu bạn thích thì với ngó sen. Một số người thích hạt sen hơn, nhưng cho dù với bất cứ thứ nào thì bạn cũng sẽ cần trà Trung Quốc. Đây là loại bữa ăn chúng tôi đã dùng trong nhà hàng rất quen thuộc với Huang. Giá cả hợp lý đáng ngạc nhiên và cuối cùng, khi chúng tôi đứng lên để tiếp tục hành trình, chúng tôi hoàn toàn vui vẻ, nhẹ nhàng, và khỏe khoắn nhờ thức ăn ngon, để rồi lại bước ra ngoài và đối mặt với sương giá. Chúng tôi đi lên phố, dọc theo con đường về Gia Linh, được một đoạn chúng tôi rẽ phải đi vào con đường mòn dẫn lên ngôi chùa của chúng tôi.

Chúng tôi trở về đúng giờ của buổi lễ cầu nguyện. Những tấm bài vị treo ủ rũ dựa trên những cây cột. Không có gió và những đám khói hương trầm cũng gần như treo bất động. Những tấm bài vị bằng vật liệu màu đỏ với những chữ viết Trung Quốc vàng trên đó, là những tấm bài vị của Tổ tiên và được sử dụng giống như những tấm bia mộ dùng để tưởng nhớ người đã mất ở các nước phương Tây. Chúng tôi kính cẩn cúi chào Phật Tổ và Quan Thế Âm, vị thần của sự sống lương thiện và nữ thần của lòng từ bi, rồi đi tiếp vào ánh sáng lờ mờ bên trong ngôi chùa để tham gia vào buổi lễ. Sau đó chúng tôi không thể ăn tối được nữa, mà thay vào đó là cuộn tròn trong chăn ấm và ngủ thiếp đi.

Không bao giờ bị thiếu tử thi để giải phẫu. Ở Trùng Khánh vào thời gian đó tử thi luôn có sẵn. Sau này, khi chiến tranh xảy ra, chúng tôi sẽ còn có nhiều xác chết phải xử lý hơn nữa! Nhưng những tử thi ở đây dùng để giải phẫu, chúng tôi bảo quản trong một căn phòng dưới lòng đất, được làm lạnh một cách cẩn thận. Ngay khi chúng tôi nhận được một xác người mới chết từ các đường phố, hoặc từ một bệnh viện, chúng tôi thường tiêm vào háng một chất khử trùng mạnh nhất mà nó sẽ giúp bảo vệ xác chết trong một vài tháng.

Điều đáng chú ý khi đi xuống tầng hầm sẽ nhìn thấy các tử thi được đặt trên những tấm đá mỏng, và điều không thay đổi đáng chú ý là những tử thi rất gầy gò. Chúng tôi thường tranh cãi nóng bỏng khi ai đó cần tử thi gầy nhất. Những tử thi béo rất rắc rối khi cần mổ xẻ tỉ mỉ, mất quá nhiều công sức nhưng kết quả thì lại rất ít. Một tử thi có thể sẽ được cắt ra làm nhiều phần, giải phẫu một dây thần kinh hoặc một động mạch, và phải mổ tách ra hết lớp này đến lớp khác các mô mỡ. Các tử thi được cung cấp đầy đủ. Chúng tôi thường xuyên có nhiều đến mức phải bảo quản chúng trong những bể đầy dung dịch axit, làm của để dành, như chúng tôi thường gọi.

Tất nhiên không phải luôn dễ dàng mang lén một tử thi vào bệnh viện vì một số người thân có quan điểm mạnh mẽ về những điều như vậy. Trong những ngày đó, những trẻ sơ sinh đã chết bị bỏ rơi trên những đường phố, hoặc những người trưởng thành, mà gia đình họ quá nghèo để có thể làm một lễ tang phù hợp, đã phải để tử thi của họ lại trên những đường phố được che phủ bởi bóng đêm. Chúng tôi, những sinh viên y khoa, thường đi ra ngoài vào buổi sáng sớm để nhặt những cái xác nhìn còn tốt nhất, và tất nhiên, gầy còm nhất! Chúng tôi có thể có một tử thi hoàn chỉnh cho chính mình, thường thì cứ hai người chúng tôi làm việc với một tử thi, một người xử lý đầu, người kia xử lý chân. Điều đó làm cho dễ kết bạn hơn.

Chúng tôi thường xuyên ăn trưa trong phòng giải phẫu mỗi khi chúng tôi ôn luyện, chuẩn bị cho bài kiểm tra. Không phải là điều lạ khi nhìn thấy một sinh viên với thức ăn trải ra trên dạ dày của một tử thi trong khi sách cuốn sách anh ta đang đọc được dựng lên dựa vào bắp đùi. Thời đó, chưa bao giờ xảy ra các loại khiếu nại cần tìm hiểu về sự lây nhiễm từ xác chết.

Hiệu trưởng của chúng tôi, Tiến sĩ Lee, đã có tất cả những hiểu biết mới nhất của Mỹ; về một số phương diện, ông là người kỳ quặc trong việc sao chép của Mỹ, nhưng không vấn đề gì, ông là một người tốt, một trong những người Trung Quốc tuyệt vời nhất mà tôi đã gặp, và thật tốt khi được học với ông. Tôi đã học nhiều và trải qua nhiều bài thi; nhưng tôi vẫn cho rằng tôi đã học được xa hơn về giải phẫu bệnh từ những vị Âm Công của Tây Tạng.

Trường đại học của chúng tôi và các bệnh viện trực thuộc nằm ở phía cuối con đường cách xa vũng tàu đậu dọc theo con phố bậc thang. Khi thời tiết đẹp, chúng tôi có một tầm nhìn khá tốt ngang qua sông, ngang qua những ruộng bậc thang, bởi vì nó ở một vị trí nhô cao lên, thực tế là một mốc bờ cao hơn. Về phía bến cảng, tập trung trong khu vực buôn bán của con phố là những cửa hiệu cũ kỹ, tồi tàn trông như thể nó đang trong giai đoạn cuối của sự suy tàn.

Đồ gỗ đã bị mối mọt, và lớp sơn đang bong ra khỏi những tấm bảng. Cánh cửa xiêu vẹo và ọp ẹp. Trên đó có một hình cắt bằng gỗ một con hổ sơn lòe loẹt. Nó được lắp vào để lưng nó uốn cong phía trên cửa ra vào. Hàm mở ngoác ra với những chiếc răng nhìn dữ tợn cùng những chiếc móng vuốt giống như thật để làm cho người ta nhìn vào phải sợ chết khiếp. Con hổ này mang ý nghĩa tượng trưng cho sự tráng dương, nó là một biểu tượng cổ của người Trung Quốc.

Cửa hàng này là một ngọn đèn báo hiệu cho những người đàn ông kiệt sức, và cho những người mong muốn mạnh mẽ hơn để đeo đuổi những trò tiêu khiển của họ. Những người phụ nữ cũng vậy, họ tới đây để kiếm một vài hợp chất, cao hổ, hoặc triết xuất của gốc cây nhân sâm khi họ muốn có con, và vì lý do nào đó. Cao hổ hoặc triết xuất của nhân sâm chứa số lượng lớn chất mà nó giúp những người đàn ông và phụ nữ tại những thời điểm khó khăn như vậy, các chất mà mới đây nó được khoa học phương Tây phát hiện, họ tung hô nó như một thành công vĩ đại về thương mại và nghiên cứu.

Người Trung Quốc và Tây Tạng đã không biết nhiều về nghiên cứu hiện đại, và họ đã có những hợp chất này trong ba hay bốn ngàn năm và không quá khoe khoang về nó. Thực tế là phương Tây có thể học hỏi nhiều từ phương Đông nếu phương Tây sẵn sàng cộng tác. Nhưng hãy trở lại với cửa hiệu cũ kỹ này với con hổ dữ tợn sơn màu, với cửa sổ đầy những bột trông kỳ lạ, những xác ướp và những cái chai chứa những dung dịch màu sắc. Đây là cửa hiệu của một thầy thuốc đang hành nghề y theo phong cách cổ, nơi có thể mua được bột cóc, sừng của con linh dương đất được tán thành bột có tác dụng như thuốc kích thích tình dục, và những thuốc pha chế kỳ lạ khác.

Trong những xóm nghèo hơn, những người bệnh thường không đi phẫu thuật theo cách hiện đại tại các bệnh viện để điều trị. Thay vào đó họ đi đến cửa hiệu cũ bẩn này theo cách mà cha họ đã làm, và có lẽ cũng giống như ông họ đã làm. Ông ta kể về bệnh của mình cho một thầy thuốc, người đó ngồi trông như một con cú với cặp kính dày cộm, đằng sau một hàng rào gỗ màu nâu.

Ông ta sẽ thảo luận về tình trạng và những triệu chứng của mình, và người thầy thuốc già sẽ nghiêm nghị gật đầu và dùng những đầu ngón tay sờ, ấn. Ông kê đơn thuốc một cách chậm rãi những thứ thuốc cần thiết. Một sự thỏa thuận ngầm là thuốc phải được nhuộm màu theo một quy tắc đặc biệt. Đó là một luật bất thành văn bản từ thời lịch sử xa xưa. Đối với bệnh đau dạ dày thuốc sẽ có màu vàng, trong khi người bị bệnh về máu hoặc bệnh tim sẽ có thuốc màu đỏ. Những người bị ảnh hưởng nghiêm trọng với bệnh gan mật hoặc thậm chí tâm trạng quá tệ sẽ có thuốc màu xanh lá cây. Bệnh nhân có rắc rối về mắt sẽ có thuốc rửa màu xanh da trời.

Bên trong cơ thể con người xuất hiện những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến màu sắc được sử dụng. Nếu một người bị đau bên trong và được cho là có nguồn gốc từ ruột thì thuốc sẽ là màu nâu. Một phụ nữ mang thai, cô ấy được chỉ dẫn, lấy thịt rùa đã tán thành bột và em bé sẽ được sinh ra không đau đớn, dễ dàng, gần như trước khi cô ấy nhận biết được điều đó, vì vậy công việc hàng ngày của cô sẽ không bị trở ngại vì việc sinh nở. Mệnh lệnh được đưa ra là “Về nhà, đặt một cái tạp dề xung quanh cô, giữa hai chân, sao cho bé con sẽ không bị ngã và đập xuống sàn, và sau đó nuốt chỗ bột thịt rùa này!”

Người thầy thuốc Trung Quốc già cả, không đăng ký hành nghề có thể quảng cáo. Ông ta đã làm  điều này một cách ngoạn mục nhất. Thường thì ông ta có một biển hiệu thật lớn, một biển hiệu sơn hoành tráng bên trên ngôi nhà của ông ta, để chỉ ra rằng ông ta là một người chữa bệnh tuyệt vời. Không chỉ có thế, trong phòng chờ và phẫu thuật của ông sẽ tìm thấy những chiếc huy chương lớn và những tấm mộc mà những người bệnh giàu có và khiếp đảm đã cho ông ta để xác nhận cách chữa bệnh kỳ diệu mà với những thứ thuốc nhuộm màu, cả thuốc bột lẫn thuốc nước, ông đã chữa khỏi những căn bệnh không được biết đến và cũng không xác định được.

Nha sĩ nghèo không may mắn như vậy, đó là nha sĩ theo phong cách cổ hơn. Hầu hết cuộc đời, ông ta không có nhà riêng để tiếp bệnh nhân, mà ông tiếp họ ở trên phố.

Nạn nhân ngồi lên trên một cái hộp và người nha sĩ tiến hành kiểm tra, chọc và dò, xem xét tổng thể để có được chuẩn đoán chính xác. Sau đó, với nhiều dẫn dắt khéo léo và hoa chân múa tay kỳ quặc khác, ông ta sẽ nhất quyết nhổ chiếc răng bị đau. “nhất quyết” là thuật ngữ phù hợp bởi vì nếu bệnh nhân khiếp sợ hoặc quá ầm ĩ thì không phải luôn dễ dàng để nhổ một chiếc răng và lúc đó vị nha sĩ sẽ không ngần ngại kêu gọi những người đứng xem quanh đó giữ nạn nhân đang vật lộn chống cự. Không có chuyện dùng thuốc tê.

Người nha sĩ không quảng cáo như những thầy thuốc khác đã làm, với những biển hiệu, những tấm mộc và những huy chương, mà thay vào đó quanh cổ ông ta đeo một chuỗi những chiếc răng ông ta đã từng nhổ. Bất cứ khi nào nhổ răng, ông ta liền giữ lại và làm sạch cẩn thận chiếc răng, rồi khoan một lỗ xuyên qua nó. Sau đó nó sẽ được xâu vào chuỗi để thêm một bằng chứng nữa cho kỹ năng của người nha sĩ để thu hút nhiều hơn nữa.

Chúng tôi thường rất phiền lòng khi người bệnh mà chúng tôi đã dành nhiều thời gian và sự chăm sóc, dành cho phép điều trị mới nhất và kê đơn những thứ thuốc đắt tiền, lại bí mật lẻn đến cửa sau cơ sở của bác sĩ Trung Quốc cổ để được điều trị tại đó. Chúng tôi khẳng định rằng chúng tôi đã chữa khỏi cho bệnh nhân. Các lang băm cũng tuyên bố rằng ông ta đã chữa khỏi. Nhưng người bệnh thì không nói gì hết, anh ta quá vui sướng vì đã thoát khỏi bệnh tật.

Khi chúng tôi ngày càng trở nên tiến bộ hơn trong học tập nghiên cứu và đi đến các khu dưỡng bệnh của bệnh viện, chúng tôi thường xuyên có dịp đi với một bác sĩ có đầy đủ hiểu biết chuyên môn để điều trị cho bệnh nhân tại nhà riêng của họ, để tham gia những ca phẫu thuật. Đôi khi chúng tôi phải trèo xuống những vách đá ở những nơi rất khó tiếp cận, có thể đến một số nơi mà những người nghèo khổ không may bị ngã và gãy xương hoặc thân thể bị rách toạc hầu như không thể chữa khỏi. Chúng tôi đến thăm những người sống trong những ngôi nhà nổi trên sông. Trên dòng sông Gia Linh, có những người sống trong những khoang thuyền, hoặc thậm chí những chiếc bè làm bằng tre được phủ bằng những chiếc chiếu để ghép thành những túp lều nhỏ.

Những chiếc bè lắc lư và bập bềnh trên sông, và nếu không cẩn thận, đặc biệt vào ban đêm, rất dễ bị sẩy chân hoặc đứng vững được trên một phần lỏng lẻo của cây tre mà nó chỉ chìm bên dưới một thân tre khác. Sau đó không thể tránh được những tràng cười cổ vũ của đám đông các cậu bé mà chúng luôn luôn bu quanh, trong những tình huống bất hạnh như vậy. Những người nông dân Trung Quốc già cả mắc nhiều bệnh tật đáng kinh ngạc. Họ không bao giờ phàn nàn và luôn biết ơn với những gì mà chúng tôi có thể làm cho họ.

Chúng tôi thường đi ra ngoài để giúp đỡ những người già cả, có thể là giúp làm sạch túp lều nhỏ bé của họ, hoặc chuẩn bị thức ăn cho họ, nhưng đối với thế hệ trẻ hơn thì không dễ chịu như vậy. Họ đang trở nên ngang ngạnh, họ đang tiếp nhận những tư tưởng kỳ lạ. Những người đàn ông đến từ Moscow đang qua lại với họ. Chúng tôi đã biết điều đó, nhưng chúng tôi không thể làm gì được ngoài việc đứng nhìn một cách bất lực.

Nhưng trước khi chúng tôi trở thành những người bác sĩ được đào tạo đầy đủ, chúng tôi có một khối lượng lớn những đề tài nghiên cứu cần phải làm, cần phải nghiên cứu đa dạng toàn bộ các môn học, đến mười bốn giờ mỗi ngày. Từ học cũng như Điện học, chỉ đơn cử hai môn này. Tôi nhớ rất rõ buổi học đầu tiên của tôi về Từ. Nó là một môn học hoàn toàn xa lạ đối với tôi.  Nó có vẻ thú vị theo cách mà tôi đã tham gia khóa học về Điện.

Giảng viên không phải là người thân thiện, và đây là những gì đã xảy ra.

Huang chen qua đám đông đọc thông báo trên bảng để xem nơi chúng tôi phải đến học lớp tiếp theo. Anh bắt đầu đọc, sau đó “Này, Lobsang,” anh gọi với đến tôi, “chúng ta có buổi học về Từ chiều nay đấy.” Chúng tôi vui mừng khi thấy được cùng học một lớp vì chúng tôi có một tình bạn rất chân thành. Chúng tôi bước vào nhà tứ giác, đi ngang qua và vào phòng học bên cạnh lớp học Điện. Chúng tôi bước vào lớp.

Bên trong có nhiều thiết bị rất giống nhau, dường như đối với chúng tôi nó cũng giống như thiết bị điện vậy. Các cuộn dây, những mành kim loại kỳ lạ uốn cong như hình chiếc móng ngựa. Những thanh màu đen, những thanh bằng thủy tinh, và những hộp kính khác nhau có chứa những thứ trông giống như nước, cùng một ít gỗ và chì. Chúng tôi về chỗ của mình và giảng viên đi vào vẻ oai vệ, chậm chạp bước đến bên bàn của ông ta. Đó là một người đàn ông nặng nề, nặng nề cả về cơ thể lẫn trí tuệ.

Chắc chắn ông có đánh giá rất tốt về khả năng của mình, đánh giá về khả năng của ông ta cao hơn nhiều những đồng nghiệp! Ông cũng đã sang Mỹ, và trong khi một vài người trợ lý hướng dẫn khác ngược lại, họ thực sự biết ít chừng nào, người này hoàn toàn bị thuyết phục rằng ông ta biết mọi điều, rằng trí não của ông ta không thể sai lầm được. Người giảng viên đến chỗ của mình và vì lẽ nào đó ông ta nhặt lên một chiếc búa gỗ và gõ dữ dội lên bàn. “Im lặng!” ông ta gầm lên, mặc dù lúc đó không có một âm thanh nào. “Chúng ta sẽ học về Từ học, bài giảng đầu tiên đối với một số em về môn học hấp dẫn này,” ông ta nói, ông nhặt lên một thanh cong hình móng ngựa. “Đây,” ông nói, “có một từ trường xung quanh nó.”

Tôi lập tức nghĩ ngay đến những con ngựa được chăn thả. Ông nói, “Tôi sẽ chỉ cho các em hình dáng bên ngoài của từ trường đối với bụi sắt. Từ,” ông tiếp tục, “sẽ kích hoạt mỗi một hạt nguyên tử của bụi sắt này mà nó sẽ vẽ ra cho mình hình dạng chính xác của lực đã tác động đến nó.” Tôi  nhận xét một cách thiếu thận trọng với Huang lúc đó đang ngồi phía sau tôi, “Nhưng mà bất cứ một kẻ ngốc nào đều có thể nhìn thấy nó lúc này, tại sao lại làm xáo trộn nó?” người giảng viên nhảy dựng lên giận dữ.

“Ồ,” ông nói “thưa Lạt ma đáng kính đến từ Tây Tạng – người không biết điều cơ bản về Từ tính hoặc Điện –  có thể nhìn thấy từ trường, đúng vậy chứ?” Ông ta xỉa ngón tay một cách dữ dằn thẳng vào tôi. “Vậy thì, thưa Lạt ma vĩ đại, anh có thể nhìn thấy từ trường tuyệt vời này, có phải không? Người duy nhất ở đây có thể thấy,” ông ta nói vẻ nhạo báng. Tôi đứng lên. “Vâng, thưa thầy, tôi có thể nhìn thấy nó rất rõ ràng,” tôi nói. “Tôi cũng có thể nhìn thấy những ánh sáng xung quanh các sợi dây dẫn này.” Ông ta lại cầm lấy cái búa gỗ lên, liên tục đập ầm ĩ xuống bàn. “Anh nói dối,” ông ta nói “không ai có thể nhìn thấy nó cả. Nếu anh thông minh như vậy hãy đến đây và vẽ nó ra và sau đó chúng tôi sẽ xem xét tình trạng lộn xộn anh đã gây ra.” Tôi thở dài mệt mỏi khi đi tới chỗ ông ta, nhặt thanh nam châm cùng với một mẩu phấn đi về phía bảng đen.

Thanh nam châm tôi diễn tả là mặt phẳng trên bảng sau đó tôi vẽ xung quanh nó hình dạng chính xác của ánh sáng xanh mà tôi có thể nhìn thấy rõ đi ra từ thanh nam châm. Tôi cũng vẽ những vằn sáng nhạt hơn bên trong từ trường của nó. Đây là vấn đề đơn giản đối với tôi, tôi đã có khả năng này ngay từ khi được sinh ra, và khả năng này được làm cho tăng thêm bằng phẫu thuật. Một sự im lặng chết chóc tuyệt đối khi tôi hoàn thành, và quay lại. Người giảng viên đang nhìn tôi và mắt ông ta lồi ra theo đúng nghĩa. “Anh đã học môn này trước đây,” ông nói, “đó là trò lừa bịp!” “Thưa thầy,” tôi trả lời, “cho tới ngày hôm nay, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một thanh nam châm nào.” Ông nói, “Được rồi, tôi không biết anh làm điều đó như thế nào, nhưng đó chính xác là từ trường. Tôi vẫn cho rằng đó là một trò lừa bịp. Tôi vẫn cho rằng ở Tây Tạng anh chỉ học thủ đoạn gian trá. Tôi không hiểu nó.”

Ông cầm lấy thanh nam châm từ tay tôi, gói nó bằng một tờ báo mỏng, và rắc vụn sắt lên trên tờ báo, dùng ngón tay vỗ nhẹ lên trên tờ báo và những vụn sắt dàn ra thành hình dạng chính xác hình mà tôi đã vẽ trên bảng. Ông ta nhìn nó, rồi nhìn hình vẽ của tôi và ông  nhìn lại hình dáng mà các vụn sắt tạo thành. “Tôi vẫn không tin anh, anh bạn Tây Tạng,” ông nói. “Tôi vẫn nghĩ đây là trò lừa bịp.” Ông ngồi xuống mệt mỏi và tựa đầu vào tay, đột nhiên một cách dữ dằn ông ta nhảy chồm lên và một lần nữa lại chỉ tay thẳng vào tôi. “Anh!” ông ta nói, “anh nói rằng anh có thể nhìn thấy từ trường của thanh nam châm đó. Anh cũng nói rằng, ‘Và tôi có thể nhìn thấy ánh sáng xung quanh những sợi dây đó’.” “Đúng là như vậy,” tôi trả lời, “tôi có thể. Tôi có thể nhìn thấy chúng một cách dễ dàng.”

“Phải!” ông ta hét vào mặt tôi, “bây giờ chúng tôi có thể chứng minh anh sai, chứng minh anh là một kẻ lừa gạt.” Ông ta quay trở lại, đập tay lên chiếc ghế của mình trong cơn giận dữ. Ông ta vội vã đi đến góc phòng, càu nhàu cúi xuống nhặt lên một chiếc hộp, với những sợi dây thò ra từ đỉnh hộp từ một cuộn dây. Ông ta đứng lên và đặt nó lên trên bàn trước mặt tôi. “Bây giờ,” ông nói, “bây giờ, đây là một cái hộp rất thú vị được gọi là hộp tần số cao. Anh vẽ từ trường của nó cho tôi và tôi sẽ tin vào anh; của anh đấy, anh hãy vẽ từ trường đó.” Ông ta nhìn tôi như muốn nói “tôi thách anh đấy.” Tôi nói, “Được rồi. Nó đơn giản thôi. Chúng ta sẽ đặt nó gần bảng hơn, nếu không tôi sẽ vẽ nó bằng trí nhớ.”

Ông nâng lên một đầu bàn và tôi nâng đầu bên kia rồi cùng chuyển nó đến gần bảng đen. Tôi nhặt viên phấn lên, và quay lưng lại chiếc bảng. “Ồ,” tôi nói, “biến mất hết rồi.” Tôi nhìn với vẻ ngạc nhiên bởi vì chỉ còn có những sợi dây, không có gì khác nữa cả, không có từ trường. Tôi quay về phía ông ta, tay ông đang đặt lên công tắc. Ông đã tắt dòng điện, nhưng trên khuôn mặt ông thể hiện vẻ hết sức kinh ngạc.

“Đúng vậy!” ông nói, “anh thực sự có thể nhìn thấy điều đó! Tốt, tốt lắm, đặc biệt làm sao.” Ông lại bật công tắc và nói, “Hãy quay lưng lại phía tôi và nói cho tôi biết khi nào nó bật và khi nào nó tắt.” Tôi quay đi và tôi có thể nói với ông ấy, “Tắt, bật, tắt.” Sau đó ông rời khỏi nơi đó và ngồi xuống ghế của mình với vẻ của người có đức tin vừa bị một đòn chí mạng. Sau đó, bất ngờ, ông nói, “Giải tán.” Quay sang tôi, ông nói “Anh thì không. Tôi muốn nói chuyện một mình với anh.” Những sinh viên khác càu nhàu vẻ phật ý. Họ đến lớp để nghe giảng và họ thấy thú vị, tại sao họ lại phải ra ngoài lúc này? Ông chỉ xua họ ra, đẩy vai một, hai người thúc họ ra nhanh hơn. Lời của giảng viên là luật.

Khi lớp học không còn ai, ông nói; “Bây giờ, hãy nói cho tôi biết thêm về chuyện này. Mánh khóe là loại gì vậy?” Tôi nói, “nó không phải là trò lừa. Nó là khả năng mà ngay từ khi sinh ra tôi đã có và nó được làm mạnh lên nhờ một cuộc giải phẫu đặc biệt. Tôi có thể nhìn thấy hào quang. Tôi có thể có thể nhìn thấy hào quang của ông. Qua đó tôi biết rằng ông không muốn tin, ông không muốn tin rằng một ai đó có khả năng mà ông không có. Ông muốn chứng minh là tôi sai.” “Không,” ông nói, “tôi không muốn chứng minh anh sai. Tôi muốn chứng minh rằng những gì tôi được đào tạo, những kiến thức của tôi là đúng, và nếu anh có thể nhìn thấy hào quang này chắc chắn những gì tôi đã được dạy là sai.” “Không đâu,” tôi đáp. “Tôi nói rằng tất cả những kiến thức anh được dạy đi đến việc chứng minh về sự tồn tại của hào quang, bởi vì từ khi còn rất nhỏ tôi đã nghiên cứu về điện ở trường đại học này, nó chỉ ra cho tôi rằng con người được cung cấp năng lượng bằng điện.” “Hoàn toàn vô nghĩa!” ông nói. “Thật là dị giáo làm sao.”

Và ông ta lại chồm lên. “Hãy đi với tôi đến gặp Hiệu trưởng. Việc này sẽ được giải quyết! “

Tiến sĩ Lee đang ngồi bên bàn làm việc, bận rộn với đống giấy tờ của trường đại học. Ông nhìn lên một cách hòa nhã khi chúng tôi bước vào. Nhìn chăm chú qua phía trên gọng kính. Sau đó ông tháo kính ra để nhìn chúng tôi được rõ ràng hơn. “Thưa ông Hiệu trưởng đáng kính,” người giảng viên nói oang oang, “người đàn ông này, chàng trai trẻ đến từ Tây Tạng nói rằng anh ta có thể nhìn thấy hào quang và tất cả chúng ta đều có hào quang. Anh ta đang cố gắng nói với tôi rằng anh ta biết nhiều hơn tôi, một giáo sư về Điện học và Từ học.”

Tiến sĩ Lee nhẹ nhàng mời chúng tôi ngồi, và sau đó ông nói, “Vâng, chính xác nó là cái gì vậy? Lobsang Rampa có thể nhìn thấy hào quang. Điều đó tôi biết. Ông đang phàn nàn về cái gì?” Người giàng viên há hốc mồm kinh ngạc. “Nhưng thưa ông Hiệu trưởng,” ông ta kêu lên, “ÔNG có tin vào điều vô lý như vậy, dị giáo như vậy, trò lừa đảo như vậy không?” “Hoàn toàn chắc chắn là tôi tin,” Tiến sĩ Lee nói, “vì anh ấy đến từ đẳng cấp cao cấp nhất ở Tây Tạng, và tôi đã được nghe về anh ấy từ người cấp cao nhất.” Po Chu trông rất ngỡ ngàng. Tiến sĩ Lee quay lại tôi và nói, “Lobsang Rampa, tôi muốn yêu cầu bạn nói cho chúng tôi biết theo cách của bạn về hào quang. Hãy nói cho chúng tôi như thể là chúng tôi không biết chút gì về đề tài này. Hãy nói sao cho chúng tôi có thể hiểu và có lẽ chúng tôi sẽ có lợi từ kinh nghiệm chuyên môn của bạn.”

Vâng, đó là một vấn đề hoàn toàn khác. Tôi thích Tiến sĩ Lee, tôi thích cái cách ông xử lý mọi vấn đề. “Thưa Tiến sĩ Lee,” tôi nói, “khi tôi sinh ra tôi đã có khả năng nhìn mọi người đúng với con người thực của họ. Họ có xung quanh mình một vầng hào quang mà nó tiết lộ sự biến động của tư tưởng, mọi thay đổi về sức khỏe, về tinh thần hoặc về các tình trạng linh hồn. Hào quang này là ánh sáng tạo ra bởi linh hồn ở bên trong. Trong hai năm đầu tiên của cuộc đời, tôi cứ nghĩ là mọi người đều có thể nhìn thấy giống như tôi, nhưng tôi sớm nhận ra rằng không phải vậy. Sau đó, như các ngài đã biết, tôi đã vào một lạt ma viện khi tôi lên bảy tuổi và đã trải qua sự huấn luyện đặc biệt.

Trong lạt ma viện tôi đã trải qua một lần phẫu thuật đặc biệt để làm cho tôi nhìn thấy thậm chí còn rõ ràng hơn trước đó, ngoài ra điều đó cũng làm cho tôi có thêm quyền năng. Vào thời kỳ lịch sử trước đây,” tôi tiếp tục, “con người có Con mắt Thứ ba. Vì sự ngu xuẩn mà con người đã mất đi quyền năng sử dụng thị lực này và đó là mục đích của việc huấn luyện của tôi tại lạt ma viện ở Lhasa.” Tôi nhìn họ và thấy rằng họ hiểu câu chuyện của tôi rất rõ.

“Thưa Tiến sĩ Lee,” tôi tiếp tục, “cơ thể con người được bao quanh đầu tiên bởi ánh sáng xanh, ánh sáng có lẽ dày khoảng một, hai inch (1 inch = 2,54 cm). Đi theo và bao phủ toàn bộ cơ thể vật lý, chúng tôi  gọi là thể phách và nó là thể thấp nhất của cơ thể. Nó là kết nối giữa thể vía và cơ thể vật lý. Cường độ của màu xanh khác nhau tùy theo sức khỏe của mỗi người. Sau đó, vượt ra ngoài thân xác, cũng vượt ra ngoài thể phách nữa, có hào quang. Nó khác nhau về kích thước, hoàn toàn phụ thuộc vào tình trạng tiến hoá của người có liên quan, cũng phụ thuộc vào trình độ giáo dục, vào tư tưởng của người đó. Hào quang của một người là độ dài của người bao trùm bên ngoài cơ thể.

Tôi nói với Hiệu trưởng, “hào quang của một người tiến hóa, bất kể kích thước ra sao, bao gồm những dải xoáy của màu sắc, giống như những đám mây màu sắc trôi trên bầu trời đêm. Chúng cũng thay đổi theo tư tưởng của con người. Có những vùng trên cơ thể, những vùng đặc biệt, chúng tạo ra những dải màu sắc nằm ngang của riêng chúng. Hôm qua,” tôi nói, “khi tôi đang làm việc trong thư viện tôi nhìn thấy một số bức tranh trong một cuốn sách nào đó viết về đức tin tôn giáo của phương Tây. Ở đây có những bức tranh vẽ chân dung có hào quang xung quanh đầu họ. Điều này có nghĩa là người dân phương Tây, mà tôi vẫn nghĩ là kém phát triển hơn chúng ta, có thể thấy được hào quang, trong khi người phương Đông chúng ta lại không thể hay sao? Những hình ảnh của người dân phương Tây,” tôi tiếp tục, “có hào quang chỉ xung quanh đầu họ, nhưng tôi nhìn thấy không chỉ xung quanh đầu, mà còn xung quanh toàn bộ cơ thể và xung quanh các bàn tay, các ngón tay và chân nữa. Đó là những điều mà tôi đã luôn luôn nhìn thấy.”

Ông Hiệu trưởng quay sang Po Chu. “Đó, anh thấy đấy, đây là thông tin mà tôi đã có trước đây. Tôi biết Rampa có quyền năng này. Anh ấy đã sử dụng quyền năng này thay mặt cho những nhà lãnh đạo Tây Tạng. Đó là  lý do tại sao anh ấy đang nghiên cứu với chúng ta, vì điều đang được hy vọng, là để anh ấy có thể hỗ trợ trong việc phát triển một thiết bị đặc biệt mà nó sẽ là lợi ích lớn nhất cho nhân loại cho toàn bộ vấn đề phát hiện và chữa bệnh. Điều gì đã khiến các anh tới đây hôm nay vậy?” ông hỏi.

Người giảng viên nhìn có vẻ đang rất nghĩ ngợi. Ông trả lời, “Chúng tôi chỉ mới bắt đầu bài thực hành về từ tính, và trước khi tôi có thể chỉ ra cái gì đó, ngay sau khi tôi nói về từ trường, anh sinh viên này nói rằng anh ta có thể nhìn thấy các trường xung quanh thanh nam châm điều mà tôi biết là hoàn toàn không tưởng. Vì thế tôi mời anh ta chứng minh trên bảng đen. Tôi rất ngạc nhiên,” ông tiếp tục, “anh ấy có thể vẽ từ trường trên bảng đen, và anh ấy cũng có thể vẽ điện trường của một máy biến áp tần số cao, nhưng khi nó bị tắt anh ấy không thấy gì nữa. Tôi chắc chắn đó là một thủ thuật.” Ông ta bướng bình nhìn Hiệu trưởng.

“Không,” Tiến sĩ Lee nói, “thực sự không phải là chuyện lừa gạt. Hoàn toàn không lừa gạt một chút nào cả. Tôi biết điều này là sự thật. Một vài năm trước tôi đã gặp Thầy của anh ấy, Đại đức Lạt ma Mingyar, một trong những người đàn ông thông minh nhất ở Tây Tạng, và ông ấy, với trái tim nhân hậu, đã trải qua một số thử thách, cũng vì tình bạn hữu với tôi, và ông ấy đã chứng minh rằng ông có thể làm được tương tự như Lobsang Rampa đã làm. Chúng tôi, đó là một nhóm đặc biệt của chúng tôi, đã có thể làm được một số nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này. Nhưng không may, thành kiến, bảo thủ và ghen tị đã ngăn cản chúng tôi công bố những phát hiện của mình. Đó làm điều mà tôi đã hối tiếc suốt từ ngày đó.”

Im lặng kéo dài một lúc. Tôi nghĩ thật tốt làm sao khi Hiệu trưởng biểu lộ niềm tin đối với tôi. Người giảng viên trông thực sự rất ảm đạm, như thể ông vừa nhận được một điều không mong đợi, một sự thất bại không ngờ. Ông nói, “Nếu bạn có quyền năng này, tại sao bạn lại học ngành y khoa làm gì?” Tôi trả lời, “Tôi muốn nghiên cứu y học và tôi cũng muốn nghiên cứu khoa học để tôi có thể hỗ trợ việc chuẩn bị một thiết bị tương tự với thiết bị mà tôi đã nhìn thấy trên Cao Nguyên Chang Tang của Tây Tạng.” Ông Hiệu trưởng cắt ngang, “Vâng, tôi biết bạn là một trong những người đã đi thám hiểm trên đó. Tôi muốn biết nhiều hơn về thiết bị đó.” “Thời gian trước đây,” tôi nói, “theo gợi ý của Đức Đạt Lai Lạt Ma, một nhóm nhỏ chúng tôi đi lên những thung lũng ẩn mình trong những dãy núi cao trên Cao Nguyên Chang Tang.

Ở đây, chúng tôi tìm thấy một thành phố có niên đại đã lâu, trước cả thời gian được lịch sử loài người ghi chép lại, thành phố của một giống dân quá khứ, một thành phố bị chôn vùi một phần trong dòng sông băng, nhưng những nơi băng giá đã tan chảy trong thung lũng ẩn kín, nơi mà khí hậu ấm áp, những tòa nhà và các thiết bị trong đó vẫn còn nguyên vẹn. Một trong những thiết bị như thế có dạng hình hộp mà người ta có thể nhìn vào và thấy được hào quang của con người, và từ hào quang đó, từ những màu sắc, từ những biểu hiện tổng thể, họ có thể suy luận được tình trạng sức khỏe của một người. Hơn nữa, họ có thể nhìn thấy một người có vẻ như bị ảnh hưởng về thể chất do một căn bệnh nào đó, bởi vì những điều có thể xảy ra được biểu hiện trong hào quang trước khi nó thể hiện trên thân xác.

Theo cùng cách như vậy, mầm mống của chứng sổ mũi hiển thị trong hào quang một thời gian dài trước khi có biểu hiện trên thân xác như là bệnh cảm lạnh thông thường. Việc điều trị cho một người sẽ trở nên dễ dàng hơn khi họ mới chỉ nhuốm bệnh. Ốm đau, bệnh tật, như thế có thể sẽ được loại trừ trước khi nó có ảnh hưởng. Ông Hiệu trưởng gật đầu và nói, “Đây là điều thú vị nhất. Bạn nói tiếp đi.” Tôi tiếp tục, “Tôi hình dung một phiên bản hiện đại của thiết bị cổ đó. Tôi muốn hỗ trợ trong việc chuẩn bị một thiết bị tương như vậy để ngay cả người bác sĩ hoặc bác sĩ phẫu thuật hoàn toàn không có thần nhãn cũng có thể nhìn qua chiếc hộp này và thấy được màu sắc hào quang của một người. Anh ta cũng sẽ có một biểu đồ đối chiếu và với biểu đồ đó anh ta có thể biết thực sự điều gì đang xảy ra với người đó. Anh ta có thể chuẩn đoán một cách chính xác mà không hề khó khăn gì.” “Nhưng,” người giảng viên nói, “anh quá chậm mất rồi. Chúng tôi đã có X quang!”

“X quang,” Tiến sĩ Lee nói. “Ồ, bạn thân mến của tôi, chúng là vô ích đối với mục đích như thế này. Chúng chỉ đơn thuần cho thấy bóng tối màu xám của xương. Lobsang Rampa không muốn hiển thị xương, anh ấy muốn hiển thị sức sống của chính cơ thể. Tôi hiểu chính xác ý anh ấy là gì và tôi chắc rằng cái khó khăn lớn nhất mà anh sẽ phải đối mặt là sự thành kiến và ghen ghét trong nghề nghiệp.” Ông quay sang tôi lần nữa, “nhưng làm thế nào người ta có thể giúp đỡ những bệnh tâm thần với thiết bị như vậy?” “Thưa ông Hiệu trưởng,” tôi nói, “nếu một người có bệnh đa nhân cách, hào quang thể hiện thực sự rõ ràng bởi vì nó cho thấy một hào quang kép, và tôi cho rằng với thiết bị phù hợp, hai hào quang có thể được đẩy vào thành một có lẽ bằng điện tần số cao.”

Giờ đây, tôi đang viết điều này nơi đất phương Tây và tôi thấy rằng có rất nhiều người quan tâm đến vấn đề này. Nhiều người trong ngành y có địa vị cao trọng nhất đã bày tỏ sự quan tâm nhưng lúc nào cũng vậy, họ nói rằng tôi không được đề cập đến tên của họ vì nó sẽ làm phương hại đến danh tiếng của họ! Một vài nhận xét thêm cũng đáng quan tâm: có bao giờ bạn nhìn thấy dây cáp điện trong một đám mây mong manh? Nếu vậy, đặc biệt ở vùng núi, bạn sẽ nhìn thấy một vòng hào quang quanh sợi dây. Đó là ánh sáng mờ nhạt bao quanh sợi dây. Nếu thị lực của bạn thật tốt, bạn sẽ nhìn thấy ánh sáng nhấp nháy, suy yếu dần rồi tăng lên, suy yếu dần rồi tăng lên, đó là vì dòng điện chạy qua dây dẫn đảo chiều.

Điều đó cũng hoàn toàn tương tự như hào quang của con người. Người cổ xưa, ông bà tổ tiên rất xa xưa của chúng ta rõ ràng là có thể nhìn thấy vầng hào quang, hoặc nhìn thấy những quầng sáng, bởi vì họ đã có thể vẽ chúng trên ảnh của các vị thánh. Điều mà chắc chắn không thể quy cho trí tưởng tượng của một người nào đó, bởi vì nếu nó là chỉ là trí tưởng tượng thì tại sao lại vẽ nó trên đầu, tại sao lại vẽ nó ở đầu nơi mà thực sự có ánh sáng? Khoa học hiện đại đã đo được sóng của bộ não, đo được điện áp của cơ thể con người. Thực tế, có một bệnh viện rất nổi tiếng, ở đó việc nghiên cứu về tia X-quang đã được thực hiện những năm trước đây.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng họ đã thu được ảnh của hào quang con người, nhưng họ không những không hiểu được cái mà họ có là cái gì, mà còn không quan tâm đến nó, bởi vì họ đang cố gắng chụp ảnh xương, chứ không phải những màu sắc ở bên ngoài cơ thể, và khi nhìn  vào bức ảnh hào quang họ chỉ thấy nó như mối phiền toái không có lợi ích gì. Bi kịch là toàn bộ vấn đề liên quan đến ảnh hào quang đã bị hoãn lại, trong khi họ xúc tiến với tia X, mà nó, theo ý kiến khiêm tốn của tôi, là phương pháp sai lầm. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng đối với những người bác sĩ không nghiên cứu chuyên sâu và các bác sĩ giải phẫu có thể được cung cấp sự trợ giúp tuyệt vời nhất đối với tất cả các hướng chữa bệnh.

Tôi hình dung, như tôi đã từng nghĩ đến từ nhiều năm trước đây, một chiếc máy đặc biệt mà bất kỳ bác sĩ nào cũng có thể mang theo trong túi áo của mình, và sau đó ông ta có thể lấy nó ra và nhìn qua nó để xem xét người bệnh theo cách tương tự như đeo kính râm để nhìn lên mặt trời. Với thiết bị này, người bác sĩ có thể nhìn thấy hào quang của bệnh nhân, và qua những tia màu sắc, hoặc qua những bất thường trong đường nét của hào quang, ông ta có thể nhìn thấy chính xác những vấn đề không ổn của người bệnh. Đó không phải là điều quan trọng nhất, bởi vì nó không chỉ đơn thuần là giúp đỡ để biết người bệnh đang mắc những bệnh gì  mà người bác sĩ cần phải biết làm thế nào để chữa cho người bệnh, và ông ta có thể làm điều đó dễ dàng với thiết bị mà tôi đang hình dung ra trong tâm trí, đặc biệt trong trường hợp những người bị đau đớn về mặt tinh thần.

Emil Group (emilgroup.net@gmail.com) tổng hợp từ lobsangrampa.org.
Nguồn: minhtrietmoi.org

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *