Bác sĩ từ Lhasa – 02 – Trùng Khánh

Chương 2: Trùng Khánh

Chúng tôi đi dọc phố, qua các cửa hàng có các cửa sổ thắp sáng rực rỡ, và bên trong đó có những vật liệu và hàng hóa mà trước đây chúng tôi chưa từng nhìn thấy. Một vài thứ chúng tôi đã nhìn thấy trong ảnh trên các tạp chí đã được đưa đến Lhasa qua dãy Himalaya từ Ấn Độ, và trước đó, chúng được đưa đến Ấn Độ từ Mĩ, miền đất huyền thoại. Một thanh niên Trung Quốc lao nhanh về phía chúng tôi trên một vật kỳ lạ nhất mà tôi đã từng nhìn thấy, đó là một khung sắt với hai cái bánh xe, một ở phía trước, một ở phía sau. Anh ta nhìn chúng tôi không rời mắt, và vì vậy anh ta đã không kiểm soát được chiếc xe, bánh xe đằng trước lao vào đá, và rẽ ngoặt ra bên đường, người thanh niên lao thẳng lên phía trên bánh xe đằng trước và ngã đập lưng xuống đất.

Một phụ nữ lớn tuổi người Trung Quốc chạy đến bên anh ta, bà ta đi quanh và mắng nhiếc con người đáng thương đó, chắc chắn là anh ta đang rất đau đớn. Anh ta đứng dậy, trông khá ngơ ngác, nhặt lên cái khung sắt còn gắn với bánh xe trước bị vặn méo, và vác lên vai rồi buồn bã đi xuống núi, theo phố bậc thang. Chúng tôi nghĩ là mình đang đến một nơi điên rồ, bởi vì mọi người hành động rất khác thường. Chúng tôi chậm rãi đi dọc trên phố, kinh ngạc về hàng hóa trong các cửa hàng, cố gắng giải nghĩa giá cả là gì và để làm gì, bởi vì mặc dù chúng tôi đã nhìn thấy các tạp chí đến từ Mỹ, nhưng không ai trong chúng tôi hiểu những từ ngữ sơ sài nhất, mà chỉ để giải trí với những bức hình mà thôi.

Đi xa hơn nữa, chúng tôi tìm thấy trường đại học nơi tôi sẽ theo học. Chúng tôi dừng lại và tôi đi vào trong để có thể báo cáo về sự có mặt của mình. Tôi có những người bạn hiện vẫn còn trong tay của những người Trung Quốc, tôi không có ý định đưa ra bất cứ thông tin nào mà vì chúng, họ có thể bị nhận ra bởi vì tôi từng kết nối mật thiết nhất với Phong trào Thanh niên Tây Tạng Kháng chiến. Chúng tôi tích cực chống lại những người Trung Quốc ở Tây Tạng.

Tôi bước vào, chỉ ba bước, là đến nơi và vào một căn phòng. Ở đây có một cái bàn mà tại đó có một thanh niên Trung Quốc đang ngồi trên một cái bục nhỏ kỳ dị bằng gỗ, được đỡ bằng bốn cái cột và có hai cột khác nữa cùng một thanh ngang để đỡ lưng. Thật là một kiểu ngồi lười biếng, tôi nghĩ, tôi không bao giờ có thể xoay xở được giống như vậy! Anh ta có vẻ là một chàng trai trẻ tuổi dễ chịu. Anh mặc quần áo vải lanh màu xanh như hầu hết người Trung Quốc, đeo một chiếc huy hiệu trên ve áo, nó chỉ ra rằng anh ta là nhân viên của trường này.

Ngay khi nhìn thấy tôi, mắt anh ta mở to, miệng anh ta cũng vậy. Sau đó anh ta đứng lên và chắp hai tay vào nhau trong khi cúi thấp xuống, “Tôi là sinh viên mới ở đây”, tôi nói, “Tôi đến từ Lhasa, ở Tây Tạng, với bức thư của Tu viện trưởng Tu viện Potala”. Rồi tôi đưa ra chiếc phong bì mà tôi đã trân trọng gìn giữ cẩn thận trong suốt hành trình, và bảo vệ nó khỏi mọi khó khăn gian khổ của chuyến đi.

Anh ta cầm lấy thư và cúi chào ba lần, và sau đó, “Hòa thượng tôn kính”, anh ta nói, “ngài sẽ ngồi xuống đây cho đến khi tôi trở lại được chứ?” “Được, tôi có nhiều thời gian,” tôi nói và ngồi xuống trong tư thế hoa sen. Anh ta nhìn những ngón tay của mình một cách bối rối và bồn chồn lo lắng, đổi chân liên tục và sau khi nuốt nước miếng, “Hòa thượng tôn kính”, anh ta nói, “với tất cả sự khiêm tốn và với sự tôn trọng sâu sắc nhất, tôi đề nghị ngài vui lòng làm quen với những chiếc ghế bởi vì chúng tôi sử dụng chúng trong trường đại học này.” Tôi đứng lên và thận trọng ngồi lên một trong những vật kỳ cục tồi tệ đó. Tôi nghĩ như tôi vẫn thường nghĩ -Mình sẽ cố gắng bất cứ điều gì như xưa! Dường như đối với tôi, vật này là một công cụ tra tấn.

Người thanh niên đi ra và để lại tôi ngồi đó bồn chồn và sốt ruột. Cơn  đau xuất hiện ngay lúc đó, ngang qua lưng, rồi cứng cổ và tôi cảm thấy hoàn toàn vượt quá sức chịu đựng. Tại sao, tôi nghĩ, ở đất nước bất hạnh này, người ta thậm chí không thể ngồi một cách đúng đắn như chúng tôi vẫn ngồi ở Tây Tạng, nhưng ở đây chúng tôi phải được đỡ cao lên khỏi mặt đất. Tôi cố gắng nhích người sang một bên và cái ghế run rẩy kêu kẽo kẹt, nên sau đó tôi không dám động đậy nữa vì sợ rằng cái ghế sẽ gãy sụp xuống.

Người thanh niên đã trở lại, cúi trước tôi lần nữa và nói: “Ông Hiệu trưởng muốn gặp ngài, thưa Hòa thượng tôn kính. Mời ngài đi lối này” Anh ta đưa tay ra mời tôi đi trước, “Không,” tôi nói, “anh phải dẫn đường chứ. Tôi không biết đi lối nào cả.” Anh ta cúi đầu lần nữa và vượt lên dẫn trước. Tất cả đều có vẻ rất ngớ ngần đối với tôi, những người nước ngoài này nói là họ sẽ chỉ đường cho bạn nhưng rồi họ lại đợi bạn dẫn họ đi. Làm thế nào bạn có thể chỉ dẫn trong khi bạn không biết đường? Đấy là quan điểm của tôi và bây giờ vẫn vậy.

Người thanh niên mặc quần áo màu xanh đưa tôi đi dọc theo hành lang và sau đó gõ cửa căn phòng gần cuối hành lang đó. Anh ta cúi đầu rồi mở cửa cho tôi và nói, “Hòa thượng tôn kính, ngài Lobsang Rampa.” Anh ta khép cửa sau lưng tôi và để tôi ở lại trong căn phòng. Có một người đàn ông có tuổi đang đứng  bên cửa sổ, một ông già trông rất dễ chịu, một người đàn ông Trung Quốc, râu ngắn và hói đầu.

Kỳ lạ thay, ông ta cũng mặc bộ trang phục kinh khủng mà tôi đã từng nhìn thấy trước đây, kiểu trang phục mà người ta gọi là theo phong cách phương Tây. Ông ta mặc một chiếc áo khoác màu xanh, quần cũng màu xanh, và có một sọc màu trắng mỏng. Trên cổ áo ông ta đeo một cái cà vạt màu, và tôi nghĩ rằng bộ trang phục trông buồn thảm như vậy thế mà ông ta lại muốn dựng lên để gây ấn tượng. “Vậy anh là Lobsang Rampa,” ông ta nói, “tôi đã nghe nói rất nhiều về anh và tôi rất vinh dự nhận anh vào trường làm sinh viên của chúng tôi.”

Tôi đã có một lá thư về anh, ngoài lá thư anh đã mang đến và tôi đảm bảo với anh rằng việc đào tạo trước đây mà anh đã trải qua sẽ có ích cho anh rất nhiều. Thầy của anh, Đức Lạt Ma Mingyar Dondup, đã viết thư cho tôi. Tôi biết ông ấy rất rõ, từ vài năm trước đây ở Thượng Hải, trước khi tôi đi sang Mỹ. Tên tôi là Lee, và tôi là Hiệu trưởng của trường này.”

Tôi phải ngồi xuống và trả lời một loạt các câu hỏi để kiểm tra kiến thức của tôi về các môn học và về giải phẫu học. Những điều quan trọng, hoặc có vẻ là chỉ quan trọng đối với tôi, là Giáo lý thì ông ta đã không kiểm tra tí nào.

“Tôi rất hài lòng về trình độ của anh,” ông ta nói, “nhưng anh sẽ phải học khá vất vả bởi vì ở đây, ngoài hệ thống của Trung Quốc, chúng tôi dạy theo phương pháp của Mỹ về y học và giải phẫu, và anh sẽ phải học nhiều môn học chưa có trong chương trình học của anh trước đây. Tôi đạt được tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, và tôi đã được ủy thác của Hội đồng quản trị về việc đào tạo một số thanh niên theo các phương pháp mới nhất của Mỹ và kết hợp các phương pháp này phù hợp với điều kiện của Trung Quốc.”

Ông ta tiếp tục nói chuyện một lúc lâu, ông nói với tôi về những điều kỳ diệu của nền y học và giải phẫu học của Mỹ, về những phương pháp được sử dụng để chuẩn đoán bệnh. Ông nói tiếp, “Điện, Từ, Nhiệt, Ánh sáng và Âm thanh, tất cả các môn học này anh sẽ cần phải nắm vững thêm vào kiến thức rất hoàn hảo mà Thầy của anh đã dạy cho anh.” Tôi nhìn ông ta trong nỗi kinh hoàng. Hai môn học đầu tiên, Điện và Từ, không có ý nghĩa gì với tôi. Tôi không có một chút ý tưởng mơ hồ nào về những gì ông ta nói. Nhưng Nhiệt, Ánh sáng và Âm thanh, phải, tôi nghĩ, bất kỳ kẻ ngu ngốc nào cũng biết về chúng; người ta phải sử dụng nhiệt để đun trà, sử dụng ánh sáng để nhìn, và sử dụng âm thanh khi nói.

Vậy thì có gì khác để nghiên cứu về chúng? Ông nói thêm, “Tôi đề nghị rằng vì bạn đã quen làm việc vất vả, bạn nên cố tích cực học gấp hai người khác, và hãy theo hai khóa học cùng một lúc, hãy học các khóa về tiền y tế cùng lúc với khóa Đào tạo y tế. Với nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu, bạn sẽ có thể làm được điều này. Hai ngày nữa chúng tôi có một lớp y tế mới khai giảng.” Ông quay đi và lục lọi những giấy tờ của mình, rồi ông cầm lên một vật mà tôi đã từng nhìn thấy trong hình vẽ, tôi nhận ra là cái bút mực – lần đầu tiên tôi nhìn thấy – ông ta tự lẩm bẩm với chình mình, “Lobsang Rampa, đào tạo đặc biệt về Điện và Từ. Hãy gặp ông Wu. Lưu ý ông ta đặc biệt chú ý.”

Ông ta đặt bút xuống, cẩn thận thấm những gì đã viết, và đứng dậy. Tôi quan tâm nhất đến việc ông ta sử dụng giấy để thấm, chúng tôi sử dụng cát khô một cách cẩn thận. Nhưng ông ta đang đứng nhìn tôi. “Anh tiến bộ nhiều trong việc nghiên cứu,” ông nói, “từ cuộc thảo luận của chúng ta, tôi cần nói rằng anh thậm chí còn đi trước một số bác sĩ của chúng tôi, nhưng anh sẽ phải nghiên cứu hai môn học này, mà hiện nay, anh không có kiến thức về chúng.” Ông ta cầm cái chuông và nói, “Tôi sẽ chỉ cho anh xem xung quanh đây và đưa anh đến các phòng ban khác để anh có ấn tượng nào đó về ngày hôm nay. Nếu anh có điều gì băn khoăn, có điều gì không chắc chắn thì hãy đến gặp tôi, vì tôi đã hứa với Đức Lạt Ma Mingyar Dondup là sẽ giúp đỡ anh hết sức mình.” Ông ta cúi đầu chào tôi, và tôi đặt tay lên nơi trái tim mình cũng cúi đầu chào lại.

Người thanh niên trong trang phục màu xanh bước vào. Ông Hiệu trưởng nói chuyện với anh ta bằng tiếng phổ thông. Sau đó ông quay sang tôi và nói, “có lẽ anh sẽ đi cùng Ah Fu, anh ấy sẽ chỉ cho anh xung quanh trường của chúng ta, và trả lời các câu hỏi của anh.” Lúc này người thanh niên quay lại và dẫn đường, cẩn thận đóng cửa phòng Hiệu trưởng. Trong hành lang, anh ta nói, “Trước tiên chúng ta cần phải đi đăng ký bởi vì ngài cần phải ký tên vào sổ.” Chúng tôi đi xuống hành lang và đi ngang qua một hội trường lớn có sàn được đánh bóng.

Phía bên kia là một hành lang khác. Chúng tôi đi dọc theo đó vài bước và sau đó vào một căn phòng, trong đó đang rất nhộn nhịp. Các thư ký dường như đang rất bận rộn ghi tên vào danh sách, trong khi những người thanh niên khác đang đứng trước một cái  bàn nhỏ ghi tên mình vào một cuốn sách lớn.  Người thư ký đang hướng dẫn tôi nói điều gì đó với một người đàn ông khác, ông ta biến mất vào văn phòng lớn hơn kế bên.

Ngay sau đó, một người đàn ông Trung Quốc béo, lùn đi ra,  với vẻ mặt tươi cười rạng rỡ. Ông ta đeo cặp kính dày cộm, và cũng ăn mặc theo phong cách phương Tây. “À”, ông nói, “Lobsang Rampa, tôi đã được nghe nhiều về anh.” ông ta giơ bàn tay cho tôi. Tôi nhìn và không biết ông ta muốn tôi đưa cái gì cho ông ta. Tôi nghĩ có vẻ ông ta muốn tôi đưa tiền. Người dẫn đường thì thầm với tôi, “anh phải bắt tay ông ấy theo phong cách phương Tây.” “À phải, anh phải bắt tay tôi theo phong cách phương Tây,” người đàn ông béo lùn nói. “Chúng ta sẽ sử dụng cách này ở đây.”

Tôi liền nắm lấy tay ông ta và siết chặt. “Ôi!” ông ta kêu lên, “anh đang bóp nát xương tôi.” Tôi nói, “Vâng, tôi không biết cần phải làm gì. Ở Tây Tạng chúng tôi đặt tay lên nơi trái tim, giống như thế này,” vừa nói tôi vừa làm cử chỉ minh họa. Ông ta nói, “Ồ, đúng rồi, nhưng bây giờ đã thay đổi rồi. Chúng ta sẽ sử dụng cách này. Bây giờ anh hãy nắm và lắc tay tôi đúng mức, tôi sẽ chỉ cho anh thấy làm như thế nào.” Và ông ta làm cử chỉ minh họa. Thế là tôi bắt tay ông ta và nghĩ, thật là ngu ngốc biết chừng nào.

Ông nói, “Bây giờ anh phải ký tên anh để thể hiện rằng anh là sinh viên của chúng tôi.” Ông ta gạt qua một bên những thanh niên đang đứng cạnh cuốn sổ, và làm ướt mấy ngón tay để lật trang cuốn sổ cái. “Đây rồi”, ông nói, “anh sẽ viết đầy đủ tên và cấp bậc của anh vào đây được không?” Tôi nhặt một cây bút Trung Quốc và ghi tên của mình ở đầu trang. “Tuesday Lobsang Rampa,” tôi viết, “Lạt ma của Tây Tạng. Nhà sư y tế giải phẫu của lạt ma viện Chakpori. Được công nhận là Hóa thân. Được tấn phong Sư trưởng. Học trò của Đức Lạt ma Mingyar Dondup.” “Tốt!” người đàn ông Trung Quốc béo, lùn nói khi ông ta nhìn chăm chú vào dòng chữ tôi viết. “Tốt! Chúng ta làm xong rồi. Tôi muốn anh xem xung quanh nơi đây của chúng tôi. Tôi muốn anh có được ấn tượng về những kỳ quan của khoa học phương Tây đang có tại đây. Chúng ta sẽ gặp lại nhau sau.”

Câu cuối cùng ông ta nói với người dẫn đường của tôi, và anh bạn trẻ nói: “Anh sẽ đi cùng với tôi, chúng ta sẽ đi đến các phòng khoa học trước tiên.” Chúng tôi đi và rảo bước qua các khu nhà và đi vào một tòa nhà dài khác. Ở đây có đồ bằng thủy tinh khắp mọi nơi. Chai, ống, bình thót cổ, … tất cả các thiết bị mà trước đây tôi mới chỉ nhìn thấy trong tranh. Người thanh niên đi về phía một vật, “Này!”, anh ta kêu lên, “Lại đây xem cái gì này.” Và anh ta cầm nghịch cái ống bằng đồng, đặt một mảnh thủy tinh dưới chân nó, rồi sau đó vặn cái núm và nhìn chăm chú vào ống đồng.

“Nhìn kìa!” anh ta kêu lên. Tôi nhìn và thấy mẻ cấy của một loại vi trùng. Người thanh niên nhìn tôi băn khoăn. “Cái gì! Anh không ngạc nhiên à?” anh ta nói. “Không hề!”, tôi đáp, “chúng tôi có một cái rất tốt ở cung điện Potala do chính phủ Ấn Độ tặng Đức Đạt Lai Lạt ma. Thầy của tôi, Đức Lạt ma Mingyar, được tự do đến đó và tôi đã dùng nó thường xuyên.” “Ồ!” người thanh niên trả lời với vẻ mặt rất thất vọng. “Tôi sẽ chỉ cho anh một cái gì đó khác vậy.” Và anh ta dẫn đường rời khỏi tòa nhà đó để đi đến một tòa nhà khác.

“Anh sẽ sống tại Lạt ma viện trên núi,” anh ta nói, “nhưng tôi nghĩ anh sẽ muốn nhìn thấy các phương tiện mới nhất, nơi mà những sinh viên sẽ tận hưởng khi đến sống ở đó.” Anh ta mở một cửa phòng và tôi nhìn thấy các bức tường được sơn màu trắng trước tiên, và sau đó ánh mắt thích thú của tôi hướng đến một cái khung sắt màu đen có nhiều dây xoắn kéo dài từ bên này sang bên kia. “Cái gì vậy?” tôi kêu lên, “tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái gì giống như vậy trước đây.” “Đấy,” anh ta nói với vẻ đầy tự hào, “đó là cái giường. Sáu người trong số các sinh viên sẽ ở trong tòa nhà này, đó là thứ hiện đại nhất ở đây.” Tôi nhìn, chưa bao giờ tôi nhìn thấy vật gì giống như vậy.

“Một chiếc giường,” tôi nói, “họ sẽ làm gì với chúng?” “Ngủ trên đó,” anh ta trả lời, “nó thực sự rất thoải mái. Hãy nằm lên và tự nhìn mình mà xem.” Tôi nhìn anh ta, rồi nhìn chiếc giường, và tôi lại nhìn anh ta một lần nữa. Được rồi, tôi nghĩ, mình không được thể hiện tính hèn nhát trước bất cứ nhân viên Trung Quốc nào và vì vậy tôi ngồi lên chiếc giường. Nó kêu cọt kẹt và võng xuống bên dưới tôi, nó nghiêng hẳn về một bên, và tôi cảm thấy tôi sẽ ngã xuống sàn nhà.

Tôi vội vàng nhảy ra, “Ồ, tôi quá nặng đối với nó.” Tôi nói. Anh thanh niên cố gắng giấu nụ cười. “Ồ, đó là những gì nó phải làm,” anh trả lời. “Nó là một cái giường, một cái giường lò xo.” Và anh ta quăng mình nằm dài lên trên chiếc giường, và nảy người lên. Không, tôi không muốn làm điều đó, nhìn nó thật kinh khủng. Tôi luôn luôn ngủ dưới sàn nhà, và thế là đủ tốt đối với tôi. Anh thanh niên nảy lên lần nữa, và nảy bật ngay ra rồi đổ ầm xuống sàn nhà. Thật đáng đời anh ta, tôi nghĩ, khi giúp anh ta đứng dậy.

“Đó chưa phải là tất cả những gì mà tôi muốn chỉ cho anh,” anh ta nói, “Nhìn này.” Anh dẫn tôi đi ngang qua phòng tới một bức tường, ở đó có một cái chậu nhỏ có thể sử dụng để làm tsampa, có lẽ cho đến nửa tá nhà sư. “Hãy nhìn xem,” anh nói, “tuyệt vời, phải không?”  Tôi nhìn cái chậu. Nó chả gây ấn tượng gì với tôi vì chỉ thấy là chả có thể làm gì trong đó. Nó có một cái lỗ ở dưới đáy, “điều đó không tốt,” tôi nói, “ nó có một cái lỗ, nên không thể pha trà trong đó.” Anh ta cười, thực sự rất thích thú về điều đó.

“Đấy,” anh ta nói, “nó thậm chí còn mới hơn cả cái giường. Nhìn này!” anh ta đưa tay ra và chạm vào một cái miếng kim loại được gắn vào một bên của cái chậu trắng. Trước vẻ kinh ngạc sững sờ của tôi, một dòng nước chảy ra từ miếng kim loại. Nước! “Nó lạnh,” anh ta nói, “khá lạnh. Nhìn này.” Và anh ta hứng tay mình dưới dòng nước. “Hãy cảm nhận nó,” anh ta nói, và tôi cũng đưa tay vào nước, giống y như nước sông vậy. Có vẻ nước hơi cũ, nó có mùi cũ hơn một chút so với nước sông, nhưng … nước từ một mảnh kim loại.

Ai mà nghe chuyện này được! Anh ta rút tay ra, nhặt lên một vật màu đen và đẩy nó vào lỗ ở dưới đáy chậu.  Nước chảy róc rách , ngay sau đó ngập đầy chậu nhưng không bị tràn ra ngoài, nó đã chảy đi chỗ khác, qua một cái lỗ ở đâu đó, nhưng nước không rơi xuống sàn nhà. Anh thanh niên chạm vào miếng kim loại lần nữa và dòng nước ngưng chảy. Anh đưa hai tay vào chậu đầy nước và khỏa tay trong đó. “Hãy nhìn xem,” anh nói, “nước thích tuyệt. Bạn không cần phải đi ra ngoài và múc nước nữa.” Tôi cũng đưa tay vào khỏa nước trong chậu. Cảm giác thật dễ chịu, không cần phải bò xuống sông sâu để lấy nước.

Sau đó, anh thanh niên kéo cái xích và nước chảy ào đi. Anh ta quay đi và nhặt lên một vật mà tôi nghĩ là cái áo choàng ngắn không tay của ai đó. “Đây này,” anh nói, “dùng nó đi.” Tôi nhìn anh ta và nhìn mảnh vải anh ta đưa cho tôi. “Để làm gì?” tôi nói, “tôi mặc đủ quần áo rồi.” anh ta lại cười phá lên, “ồ, không, anh lau tay vào đây,” anh nói, “như thế này,” anh lau tay cho tôi nhìn. Anh ta đưa cái khăn lại cho tôi, “ anh hãy lau khô tay đi,’ anh nói. Tôi cũng lau tay, nhưng tôi ngạc nhiên bởi vì lần trước tôi đã nhìn thấy những người phụ nữ nói ở Tây Tạng họ sẽ rất vui mừng có một mảnh vải như vậy để sử dụng nó làm điều gì đó có ích, còn ở đây, chúng tôi  đang làm hỏng nó bằng cách lau tay vào nó. Dù thế nào thì mẹ tôi cũng sẽ nói nếu nhìn thấy tôi làm như vậy!

Lúc này tôi thực sự bị ấn tượng. Nước chảy ra từ kim loại.

Những cái chậu có lỗ ở trong có thể sử dụng được. Người thanh niên dẫn đường đang hớn hở. Chúng tôi đi xuống vài bước và vào một căn phòng ở dưới lòng đất. “Ở đây,” anh nói, “đây là nơi chúng tôi bảo quản những tử thi, nam giới và phụ nữ.”

Anh mở tung cánh cửa, và ở đó, trên những bàn bằng đá, có những tử thi đã sẵn sàng để được mổ xẻ. Không khí đậm mùi hóa chất được sử dụng để bảo quản các tử thi không bị phân hủy. Lúc đó tôi vẫn chưa có một ý niệm nào về những thứ ở đây, bởi vì ở Tây Tạng, các tử thi có thể giữ được trong thời gian rất dài mà không bị phân hủy do không khí khô lạnh. Ở đây, trong thành phố Trùng Khánh ngột ngạt, tử thi cần phải được tiêm thuốc gần như ngay sau khi họ chết, để có thể được bảo quản trong vài tháng mà sinh viên chúng tôi cần phải phân tích tỉ mỉ chúng. Anh ta đi đến một cái tủ và mở nó ra. “Hãy nhìn xem,” anh nói, “Các thiết bị phẫu thuật mới nhất của Mỹ. Để cắt các tử thi, các cánh tay và chân. Hãy nhìn đây!”

Tôi nhìn những vật dụng lấp lánh ánh kim loại, thủy tinh và ánh Crôm, và tôi nghĩ, phải, tôi nghi ngờ việc họ có thể làm điều gì tốt hơn chúng tôi đã làm ở Tây Tạng.

Sau khi tôi đã ở trong khu nhà của trường đại học khoảng ba giờ, tôi quay trở lại với những người bạn đồng hành của tôi đang lo lắng ngồi chờ ở sân trong của tòa nhà. Tôi kể lại với họ những gì tôi đã nhìn thấy, những gì tôi đã làm.

Sau đó tôi nói, “Chúng ta hãy đi quanh xem thành phố này, chúng ta hãy xem nó là loại gì.  Đối với tôi nó có vẻ rất man rợ, mùi hôi thối và tiếng ồn rất khủng khiếp.” Vì vậy, chúng tôi lại lên ngựa, và đi trở ra, ngắm nhìn con phố bậc thang với các cửa hàng san sát. Chúng tôi xuống ngựa để có thể đi, từng người một nối tiếp nhau, và ngắm nhìn những đồ vật đặc biệt được bày bán.

Chúng tôi nhìn xuống con phố mà ở cuối đường dường như không còn đường đi xa tiếp nữa, nó dường như kết thúc đột ngột ở một vách đá. Nó làm cho chúng tôi tò mò nên chúng tôi đi xuống và nhìn thấy nó có những bậc đi tiếp dẫn xuống bến cảng. Chúng tôi nhìn thấy những chiếc thuyền lớn chở hàng hóa, với mũi tàu cao, những dây trão, cánh buồm tam giác của chúng đang vỗ một cách uể oải, đập vào cột buồm trong gió vờn dưới chân vách núi.

Những người phu đang khuân vác hàng hóa, đi lại trên bong tàu theo bước đi lắc lư chầm chậm với những thanh tre dài trên vai. Tại mỗi đầu của thanh tre treo những giỏ hàng hóa. Thời tiết rất ấm áp, và chúng tôi mệt nhoài. Trùng Khánh được ghi nhận về bầu không khí oi bức của nó. Sau đó, khi chúng tôi đi dọc phố dắt theo những con ngựa, sương mù sà xuống từ những đám mây, rồi nó tràn lên từ dòng sông, và chúng tôi mò mẫm như thể đi trong bóng tối.

Trùng Khánh là một thành phố cao, cao và hơi đáng sợ một chút. Nó là thành phố bậc đá với gần hai triệu dân. Những con phố dốc đứng, dốc đến nỗi một số căn nhà cứ như những hang động trên sườn núi, trong khi những cái khác có vẻ như nhô ra, cheo leo trên vực thẳm. Nơi đây mỗi tấc đất đều được trồng trọt, hết sức giữ gìn, chăm sóc. Trên mỗi dải đất hẹp hoặc khoảnh đất nhỏ đều có lúa mọc, hoặc những luống đậu, hay ngô, không nơi nào đất để lãng phí hoặc nhàn rỗi.

Những bóng người mặc quần áo màu xanh cúi gập người ở khắp nơi, cứ như thể họ được sinh ra như vậy, nhặt cỏ dại bằng những ngón tay mệt mỏi. Những người dân tầng lớp cao hơn sống trong thung lũng Gia Linh, một vùng ngoại ô của Trùng Khánh, là nơi không khí lành mạnh, nhưng theo tiêu chuẩn của người Trung Quốc, chứ không phải của chúng tôi, các cửa hàng phong phú hơn, đất đai màu mỡ hơn, là nơi có nhiều cây cối và những dòng suối nhỏ êm đềm. Đây không phải là nơi dành cho những người làm nghề phu khuân vác, mà là nơi dành cho những thương nhân phát đạt, những người chuyên nghiệp, và những người có của cải sung túc. Các quan lại và tầng lớp được đặc quyền trong xã hội sống ở đây. Trùng Khánh là thành phố đồ sộ, và lớn nhất mà chúng tôi từng được nhìn thấy, nhưng nó cũng không ấn tượng với chúng tôi.

Đột nhiên chúng tôi sực nhớ ra là chúng tôi đang rất đói. Chúng tôi không còn thực phẩm nên không còn cách gì khác ngoài việc đến quán ăn và ăn như người Trung Quốc. Chúng tôi đi đến một cửa hàng có biển hiệu sặc sỡ nói rằng họ có thể cung cấp thức ăn ngon nhất tại Trùng Khánh và không phải chờ đợi. Chúng tôi vào và ngồi xuống bên một cái bàn. Một nhân viên mặc bộ quần áo màu xanh đến chỗ chúng tôi và hỏi chúng tôi muốn ăn gì. “Anh có tsampa không?”, tôi nói. “Tsampa!” anh ta trả lời, “Ồ không, đó hẳn là món ăn của phương Tây. Chúng tôi không có loại đó.” “Vâng, vậy các anh có gì?” tôi hỏi. “Cơm, mì, vây cá mập, trứng.” “Được rồi, chúng tôi sẽ ăn những nắm cơm, mì, vây cá mực và măng tre. Hãy nhanh lên!”

Anh ta vội vã ra đi và ngay sau đó đã quay lại với thức ăn mà chúng tôi đã yêu cầu. Xung quanh chúng tôi, những người khác đang ăn và chúng tôi kinh hoàng khi thấy họ vừa ăn vừa nói chuyện, gây ồn ào kinh khủng. Ở Tây Tạng, tại các lạt ma viện, có một nguyên tắc bất khả xâm phạm là khi ăn cấm nói chuyện, bởi vì điều đó là thiếu tôn trọng thực phẩm và thức ăn có thể gây ra sự đau đớn bên trong cơ thể. Trong các lạt ma viện, trong bữa ăn luôn có một nhà sư đọc Giáo lý và mọi người phải vừa lắng nghe vừa ăn.

Những cuộc trò chuyện diễn ra xung quanh chúng tôi thật là tầm thường. Chúng tôi bị sốc và ghê tởm. Chúng tôi ăn trong khi nhìn vào đĩa thức ăn của mình trong suốt bữa ăn theo quy định của tôn giáo chúng tôi. Một số cuộc nói chuyện là những cuộc thảo luận kín đáo về Nhật Bản và những tình trạng lộn xộn họ đã gây ra tại một vài vùng của Trung Quốc.  Lúc đó, tôi chẳng biết gì về vấn đề này. Tuy nhiên, chúng tôi không bị ấn tượng về bất cứ điều gì tại nơi ăn uống cũng như về Trùng Khánh. Bữa ăn này đáng chú ý chỉ bởi vì đó là bữa ăn đầu tiên mà tôi phải trả tiền.

Sau khi ăn xong, chúng tôi đi ra ngoài và tìm thấy một nơi trong sân của một tòa nhà nào đó của thành phố, nơi chúng tôi có thể ngồi nói chuyện. Chúng tôi tháo yên cương cho ngựa để cho chúng nghỉ ngơi thoải mái nhất và tại đó chúng được ăn và uống nước, bởi vì ngày hôm sau, các bạn đồng hành của tôi sẽ lên đường trở về nhà, trở về Tây Tạng. Còn bây giờ, theo cách của những người đi du lịch ở khắp nơi trên thế giới, họ đang cân nhắc nên mua gì để mang về cho bạn bè họ ở Lhasa,  và tôi cũng tự hỏi nên gửi gì về làm quà cho Thầy của tôi, đức Lạt ma Mingyar. Chúng tôi thảo luận một hồi, và sau đó giục nhau đứng lên, đi bộ trở lại các cửa hiệu một lần nữa để mua đồ.

Sau đó chúng tôi đi đến một khu vườn nhỏ nơi chúng tôi có thể ngồi và trò chuyện. Trời đã tối. Những vì sao bắt đầu tỏa sáng mập mờ xuyên qua những đám mây nhẹ đã thay thế cho làn sương mù đang tan dần. Lại một lần nữa, chúng tôi đứng lên và đi tìm thức ăn. Lần này là hải sản, loại thực phẩm mà chúng tôi chưa bao giờ ăn trước đây và nó có mùi vị hoàn toàn xa lạ với chúng tôi, rất khó chịu, nhưng cái chính nó là thức ăn mà  chúng tôi lại đang đói. Ăn uống no nê, chúng tôi rời quán ăn và trở về nơi nhốt ngựa. Có vẻ như chúng đang đợi và hý lên vui vẻ khi chúng tôi đến gần. Trông chúng  khỏe mạnh, và rất mừng rỡ khi thấy chúng tôi đến. Tôi chưa bao giờ là một kỵ sĩ giỏi và chắc chắn tôi thích con ngựa mệt mỏi hơn là một con đã được nghỉ ngơi. Chúng tôi cưỡi ngựa đi vào phố và theo đường đi Gia Linh.

Chúng tôi rời khỏi thành phố Trùng Khánh và đi ngang qua các vùng ngoại ô của thành phố, trên con đường dẫn tới nơi chúng tôi sẽ nghỉ lại qua đêm, tới lạt ma viện mà nơi đó sẽ là nhà của tôi vào buổi đêm. Chúng tôi rẽ phải và đi lên phía bên một đồi cây rậm rạp. Lạt ma viện được dành cho tôi và nó là lối gần nhất để về nhà ở Tây Tạng, khi tôi bước vào chùa đúng thời gian của buổi lễ cầu nguyện. Khói hương trầm phảng phất lan tỏa thành những đám mây và giọng đọc thâm trầm của các vị sư già hòa cùng giọng cao trong trẻo của các chú tiểu sơ cơ càng làm cho tôi thêm giằn vặt nỗi nhớ nhà da diết. Những người khác có lẽ cảm nhận được nỗi lòng của tôi nên họ im lặng và để tôi được ở lại một mình. Tôi ngồi nguyên tại chỗ của mình sau khi buổi lễ cầu nguyện đã kết thúc một lúc lâu.

Tôi ngồi đó và nghĩ mãi, day dứt nhớ về lần đầu tiên tôi bước chân vào lạt ma viện sau khi vượt qua thử thách khó khăn, khi đó tôi đã rất đói khát và khổ sở. Lúc này đây, tôi cũng đang đau buồn, có lẽ còn khổ sở hơn cả trước kia, vì lúc đó tôi còn quá nhỏ để biết nhiều về cuộc sống, nhưng giờ đây tôi cảm thấy đã biết quá nhiều về sự sống và về cái chết. Một lúc sau, vị Hòa thượng trụ trì đã nhiều tuổi của ngôi chùa nhẹ nhàng đến bên tôi. “Người anh em của tôi,” ông nói, “không tốt chút nào khi nghĩ quá nhiều về quá khứ, khi mà cả tương lai đang đợi ở phía trước. Buổi lễ cầu nguyện đã kết thúc, người anh em của tôi, sắp đến thời gian của buổi lễ cầu nguyện khác rồi. Người anh em hãy về chỗ ngủ của mình, còn nhiều việc phải làm vào sáng sớm ngày mai.”

Tôi đứng lên không nói gì và đi theo ông đến chỗ ngủ của mình. Những người bạn đồng hành của tôi đã đến lúc được trở về nhà. Tôi đi ngang qua chỗ họ nằm, vẫn hình dáng người cuộn tròn trong chăn. Ngủ ư? Có lẽ. Ai mà biết được? Có lẽ họ đang mơ về cuộc hành trình mà họ sẽ lại thực hiện một lần nữa và mơ về cuộc đoàn tụ vui vẻ mà họ sẽ có vào cuối cuộc hành trình ở Lhasa. Tôi, cũng vậy, cuộn tròn mình trong chăn, và nằm xuống. Bóng trăng đổ dài và trở nên càng dài hơn nữa trước khi tôi ngủ thiếp đi.

Tôi bị đánh thức bởi những âm thanh vang rền của tiếng kèn trumpet và tiếng cồng chiêng của nhà chùa. Đã đến giờ phải dậy và tham gia buổi lễ cầu nguyện lần nữa. Buổi lễ phải tiến hành trước bữa ăn sáng, nhưng tôi rất đói. Tuy nhiên, sau buổi lễ, thức ăn để trước mặt nhưng tôi không muốn ăn. Bữa sáng của tôi rất nhẹ, một bữa ăn nhẹ vì tôi cảm thấy rất buồn. Các bạn đồng hành của tôi đang ăn, dẫu rằng rất chán, tôi nghĩ, nhưng họ đang phải cố gắng để lấy lại sức cho cuộc hành trình trở về mà họ sẽ bắt đầu từ ngày hôm nay. Bữa ăn sáng kết thúc, chúng tôi cùng đi dạo quanh một lát. Không ai trong chúng tôi nói nhiều. Mà dường như chẳng có gì nhiều để mà nói.

Sau đó, cuối cùng, tôi nói, “Hãy giúp tôi chuyển thư và gói quà này đến Thầy của tôi, Lạt Ma Mingyar Đại Đức. Nói với Thầy là tôi sẽ viết thư cho Thầy thường xuyên. Hãy nói với Thầy các bạn đã nhìn thấy tôi nhớ Người và cảm thấy thiếu vắng sự hướng dẫn của Người biết bao.” Tôi đưa tay vào trong vạt áo, “còn cái này,” tôi nói khi rút ra một gói nhỏ, “đây là quà của tôi dành cho Đức Thái Tuế. Hãy đưa cho Thầy tôi, Thầy sẽ biết và chuyển cho Đức Đạt Lai Lạt Ma.” Họ cầm lấy và tôi quay sang một bên vì quá xúc động, mà tôi không muốn những người khác nhìn thấy, tôi không muốn họ nhìn thấy tôi, một vị Lạt ma cao cấp, lại bị xúc động như vậy.

May  mắn hay là họ cũng đang rất đau khổ vì giữa chúng tôi đã nảy sinh một tình bạn chân thành, mặc dù theo chuẩn mực của Tây Tạng, thì chúng tôi khác biệt về đẳng cấp. Họ rất buồn và thông cảm vì sự chia tay, thông cảm vì tôi bị bỏ lại trong thế giới xa lạ mà họ không thích, trong khi họ sẽ trở về Lhasa yêu dấu. Chúng tôi cùng đi với nhau thêm một lát nữa, giữa những cây cối, ngắm nhìn những bông hoa nhỏ nhiều như trải thảm trên mặt đất, lắng nghe tiếng chim hót trên cành cây, ngắm nhìn những đám mây rực sáng trên bầu trời cao. Rồi cũng đến lúc phải chia tay, chúng tôi cùng nhau quay trở lại lạt ma viện cổ của Trung Quốc nép mình giữa những cây xanh trên đỉnh núi nhìn ra Trùng Khánh, nhìn xuống những dòng sông. Không còn gì nhiều để nói, để làm, chúng tôi bồn chồn và cảm thấy sầu não.

Chúng tôi đi đến chuồng ngựa. Một cách chậm rãi, các bạn đồng hành của tôi thắng yên những con ngựa của họ và cầm lấy dây cương con ngựa của tôi, mà nó vốn rất trung thành với tôi từ khi còn ở Lhasa, và bây giờ nó là một kẻ hạnh phúc, được trở về Tây Tạng. Chúng tôi trao đổi vài câu, chỉ nói rất ít, sau đó họ lên ngựa và cất bước lên đường, hướng về phía Tây Tạng, để lại tôi đứng đó một mình, nhìn chằm chằm xuống con đường dõi theo sau họ. Họ nhỏ dần, nhỏ dần, và biến mất khỏi tầm nhìn của tôi nơi khúc quanh. Đám bụi nhỏ bị dấy lên khi họ đi qua cũng đã lắng xuống, tiếng vó ngựa của họ xa dần rồi tắt hẳn.

Tôi đứng đó suy nghĩ về quá khứ và sợ hãi tương lai. Tôi không biết đã đứng đó bao lâu trong nỗi khổ đau lặng lẽ, nhưng tôi được lôi ra khỏi tâm trạng chán nản bằng một giọng nói dịu dàng, “Thưa Đức Lạt ma tôn kính, Ngài không nhớ rằng ở Trung Quốc cũng có những người sẽ là bạn của Ngài hay sao? Tôi sẵn sàng phục vụ Ngài, thưa Đức Lạt ma tôn kính của Tây Tạng, tôi cũng là sinh viên của Trùng Khánh.” Tôi chầm chậm quay người lại và ở đó, ngay sau lưng tôi, một nhà sư Trung Quốc trẻ tuổi dễ thương. Tôi nghĩ anh ấy khá phân vân, không biết thái độ của tôi sẽ ra sao khi anh đến bên tôi, bởi vì tôi là một vị Sư trưởng, một Lạt ma cao cấp, còn anh chỉ là một nhà sư Trung Quốc. Nhưng tôi vui mừng nhìn anh.

Anh ấy là Huang, một chàng trai mà sau này tôi tự hào gọi là bạn. Chúng tôi biết về nhau ngay sau đó và tôi đặc biệt vui mừng khi biết rằng anh ấy cũng sẽ là một sinh viên y khoa, bắt đầu từ ngày mai, cũng như tôi. Anh ấy cũng sẽ nghiên cứu những môn  đáng chú ý, Điện và Từ. Trên thực tế, anh cũng sẽ tham gia cả hai khóa học mà tôi sẽ nghiên cứu, và chúng tôi đã biết rõ về nhau. Chúng tôi quay lại và đi trở về phía lối vào của lạt ma viện.

Khi chúng tôi đi qua cổng, một nhà sư Trung Quốc khác tiến đến và nói, “Chúng ta cần phải báo cáo với trường đại học. Chúng ta phải ký vào sổ đăng ký.” “Ồ, tôi đã làm tất cả những việc đó rồi,” tôi nói, “tôi đã làm việc đó ngày hôm qua.” “Vâng, thưa Đức Lạt Ma tôn kính,” người kia đáp lại. “Nhưng đây không phải là đăng ký học bổng cho sinh viên mà ngài đã ký với chúng tôi, nó là đăng ký hội học sinh đại học bởi vì trong trường đại học tất cả chúng ta đều là anh em như trong trường đại học của Mỹ.” Vì vậy, chúng tôi lại cùng nhau quay xuống con đường một lần nữa, đi dọc theo con đường mòn của lạt ma viện, đi ngang qua những rừng cây, trên con đường mòn được trải thảm bằng những bông hoa nhỏ, và chúng tôi trở lại con đường chính đi từ Gia Linh đến Trùng Khánh.

Cùng đi với những người thanh niên trẻ này, hầu như cùng lứa tuổi với tôi, hành trình dường như không quá dài cũng không còn khổ sở nữa. Chẳng mấy chốc, một lần nữa, chúng tôi đi đến tòa nhà nơi sẽ là ngôi nhà vào ban ngày của chúng tôi và đi vào.  Người nhân viên trẻ trong bộ quần áo màu xanh tỏ vẻ rất vui vẻ khi nhìn thấy chúng tôi. Anh ấy nói, “À, tôi đang hy vọng cậu sẽ gọi đến đây, chúng ta có một nhà báo người Mỹ ở đây, anh ấy nói được tiếng Trung Quốc. Anh ấy rất muốn gặp một Đức Lạt ma cao cấp của Tây Tạng.”

Anh lại dẫn chúng tôi đi dọc theo hành lang một lần nữa và đi vào một căn phòng khác, nơi mà trước đó tôi chưa vào đó. Nó có lẽ là loại phòng tiếp tân vì ở đó có rất nhiều nam thanh niên đang ngồi nói chuyện với những người phụ nữ trẻ, mà tôi cảm thấy khá bị sốc. Trong những ngày đó, tôi biết rất ít về phụ  nữ. Một người đàn ông trẻ cao lớn đang ngồi trong một chiếc ghế rất thấp.

Anh ấy khoảng ba mươi tuổi, tôi chắc vậy. Anh ta đứng lên khi chúng tôi bước vào và đặt tay lên nơi trái tim mình chào chúng tôi theo kiểu phương Đông.

Tất nhiên tôi cũng đáp lễ theo cách đó. Chúng tôi được giới thiệu với anh ta, và sau đó, vì lý do nào đó, anh ta đưa tay mình ra. Lúc này tôi đã được chuẩn bị nên tôi cầm lấy tay anh ta và rung nhẹ nó theo cách đã biết. Anh ấy cười, “À, tôi thấy là bạn đã thành thạo những cách của người phương Tây đang được giới thiệu với Trùng Khánh.” “Vâng,” tôi nói, “Tôi đã phải qua giai đoạn ngồi trong những chiếc ghế vô cùng kinh khủng và bắt tay.”

Anh là một chàng trai khá trẻ đẹp, và tôi cũng biết tên của anh; Anh đã qua đời tại Trùng Khánh một thời gian trước đây. Chúng tôi đi ra sân và ngồi lên một bức tường đá thấp, chuyện trò một lúc lâu. Tôi kể cho anh về Tây Tạng, về những phong tục của chúng tôi.

Tôi kể cho anh nghe nhiều về cuộc sống của tôi ở Tây Tạng, còn anh kể cho tôi nghe về nước Mỹ. Tôi hỏi anh đang làm gì ở Trùng Khánh, một người đàn ông hiểu biết như anh sống ở một nơi ngột ngạt như thế chắc hẳn phải có lý do đặc biệt. Anh nói rằng anh đang chuẩn bị một loạt các bài báo cho tạp chí rất nổi tiếng của Mỹ.

Anh hỏi liệu anh có thể đề cập đến tôi trong các bài báo đó, và tôi trả lời, “Vâng, tôi nghĩ anh không làm thế thì hơn, bởi vì tôi ở đây vì một mục đích đặc biệt, học tập để phát triển, và để sử dụng nó như một bước đột phá cho hành trình xa hơn vào phương Tây. Tôi muốn chờ tới khi tôi làm được điều gì đó đáng kể, một cái gì đó xứng đáng để đề cập đến. Và sau đó,” tôi tiếp tục, “sau đó tôi sẽ liên lạc với anh và dành cho anh cuộc phỏng vấn mà anh mong muốn.”  Anh ấy là một người trẻ tuổi rất tốt và hiểu rõ quan điểm của tôi.

Chúng tôi nhanh chóng trở thành bạn bè thân thiện; anh ấy nói tiếng Trung Quốc khá tốt và chúng tôi không gặp phải khó khăn đặc biệt nào để hiểu biết lẫn nhau. Anh đi với chúng tôi một đoạn đường trở về lạt ma viện. Anh nói, “Tôi rất muốn đôi khi, nếu có thể sắp xếp được, đến thăm chùa và tham gia vào một buổi lễ cầu nguyện. Tôi không theo tôn giáo của anh,” anh nói, “nhưng tôi tôn trọng nó, và tôi muốn được bày tỏ lòng kính trọng của tôi trong ngôi chùa của các bạn.”

“Đồng ý,” tôi trả lời, “anh sẽ đến ngôi chùa của chúng tôi. Anh cũng sẽ được tham gia buổi lễ cầu nguyện của chúng tôi và anh sẽ được chào đón, tôi hứa.” Đến đó chúng tôi chia tay vì chúng tôi còn nhiều việc phải chuẩn bị cho ngày hôm sau, ngày mai khi tôi bắt đầu sự nghiệp mới này làm một người sinh viên, y như thể tôi sẽ học cả đời vậy! Trở về lạt ma viện, tôi phải sắp xếp đồ đặc của mình, xem những cái áo choàng vừa được nhuộm; tôi sẽ đi giặt chúng bởi vì theo phong tục của chúng tôi, chúng tôi phải tự phục vụ quần áo, áo choàng và những vẫn đề cá nhân của riêng mình, và không được sử dụng người phục vụ để làm những công việc bẩn thỉu thay cho chúng tôi.

Sau này, tôi cũng sẽ mặc những bộ quần áo của sinh viên Trung Quốc, những bộ quần áo mầu xanh, bởi vì những bộ áo choàng Lạt ma của tôi thú hút quá nhiều sự chú ý và tôi không muốn tách riêng đơn độc khỏi cộng đồng, tôi muốn được học hành yên ổn. Ngoài những việc bình thường như giặt giũ quần áo ra, chúng tôi có các buổi lễ cầu nguyện phải tham gia và vì là một Lạt ma hàng đầu, tôi phải chia sẻ việc trông nom các buổi lễ cầu nguyện này bởi vì, mặc dù trong ngày tôi là một sinh viên, nhưng trong lạt ma viện tôi vẫn là một tu sĩ cấp cao có nghĩa vụ phải thực hiện lễ nghi đó. Vì vậy, đã đến gần cuối ngày, cái ngày mà tôi tưởng chừng kéo dài vô tận không bao giờ hết, cái ngày mà lần đầu tiên trong đời, tôi hoàn toàn bị tách rời khỏi những người thân thiết của mình.

Vào buổi sáng – đó là một buổi sáng nắng ấm – Huang và tôi bắt đầu lên đường, một lần nữa, đến với cuộc đời mới, lần này là sinh viên y khoa. Chúng tôi nhanh chóng đi hết hành trình ngắn và đi vào sân trường, ở đó có đến hàng trăm người đang chen chúc xung quanh một cái bảng thông báo. Chúng tôi đọc cẩn thận tất cả các thông báo và tìm thấy tên của chúng tôi ở bên nhau, như vậy chúng tôi sẽ luôn học cùng nhau. Chúng tôi đẩy những người khác vẫn đang đọc thông báo để lây lối ra và đến lớp học như đã được chỉ dẫn. Tại đó chúng tôi ngồi xuống, khá là ngạc nhiên, cũng có thể chỉ tôi thôi, về tất cả những điều mới lạ của các máy móc, những cái bàn, và tất cả những thứ khác nữa.

Sau đó, sau thời gian dường như là vô tận, những người khác bước vào, từng nhóm nhỏ, và ngồi xuống chỗ. Cuối cùng một tiếng chuông vang lên ở đâu đó và một người đàn ông Trung Quốc bước vào, và nói, “Chào buổi sáng, các em.” Chúng tôi đứng hết dậy, bởi vì nội quy nói rằng quy định đó đã được thống nhất để thể hiện sự tôn trọng, và chào đáp lễ ông “Chào thầy ạ”. Ông ta nói rằng sẽ phát cho chúng tôi một vài tờ giấy để viết và chúng tôi không phải lo lắng về những sự thiếu hiểu biết của mình bởi vì nhiệm vụ của ông là tìm hiểu những gì chúng tôi không biết, và không biết đến mức nào. Ông nói rằng sau khi đánh giá được trình độ của từng người, ông mới có thể trợ giúp chúng tôi được.

Các tờ giấy đề cập tất cả khía cạnh học vấn, những câu hỏi khác nhau hỗn hợp, một sự pha trộn của người Trung Quốc đề cập đến Số học, Vật lý, Giải phẫu, tất cả mọi thứ có liên quan đến y học, giải phẫu, và khoa học, và các môn học đó là cần thiết để cho phép chúng tôi nghiên cứu y học, phẫu thuật và khoa học đến cấp độ cao hơn. Ông đã làm cho chúng tôi hiểu rõ ràng rằng nếu chúng tôi không biết phải trả lời thế nào một câu hỏi thì chúng tôi sẽ bỏ nó đấy, tại thời điểm đó chúng tôi vẫn chưa học nhưng, nếu chúng tôi có thể, hãy cung cấp vài thông tin sao cho ông có thể đánh giá chính xác kiến thức chúng tôi có đến đâu.

Sau đó ông rung chuông. Cửa mở ra và hai nhân viên bước vào trên tay chất đầy những cái gì đó có vẻ là sách. Họ đi len lỏi giữa chúng tôi và phân phát những quyển sách này. Thực tế, chúng không phải là sách, mà là hàng mớ những câu hỏi trên giấy và nhiều tờ giấy khác để chúng tôi viết. Sau đó một người khác đi vào và phân phát bút chì. Chúng tôi sẽ sử dụng bút chì chứ không phải bút lông. Vì vậy, sau đó chúng tôi bắt tay vào việc, đọc các câu hỏi, từng câu một, trả lời chúng theo cách tốt nhất có thể. Chúng tôi có thể nhìn thấy hào quang của giáo viên, hoặc ít nhất là tôi có thể, thấy rằng ông là một người đàn ông chân thật và mối quan tâm duy nhất của ông là giúp đỡ chúng tôi.

Thầy tôi và cũng là thầy giáo riêng của tôi, Lạt ma Mingyar Đại Đức, đã dành cho tôi sự đào tạo rất đặc biệt. Kết quả của những tờ giấy mà chúng tôi được cung cấp trong thời gian khoảng hai ngày cho thấy trong rất nhiều môn học kiến thức tôi tốt hơn và đi trước các sinh viên cùng học khác, nhưng kết quả cũng cho thấy tôi không có chút kiến thức gì về Điện hoặc Từ học.

Khoảng một tuần sau buổi kiểm tra đó, chúng tôi học trong một phòng thí nghiệm mà ở đó chúng tôi sẽ được cho làm bài thí nghiệm đầu tiên bởi vì, cũng giống như tôi, một vài sinh viên khác chưa có khái niệm gì về ý nghĩa của hai từ nghe có vẻ đáng sợ này. Giảng viên đã giảng cho chúng tôi nghe một bài học về điện và ông nói, “Bây giờ tôi sẽ cung cấp cho các em một bài thí nghiệm thực hành về tác động của điện, một bài thí nghiệm vô hại.” Ông đưa tôi cầm hai sợi dây và nói, “Hãy cầm lấy, cậu hãy giữ chúng thật chặt cho đến khi tôi nói, ‘buông ra’.”

Tôi nghĩ là ông đang yêu cầu tôi trợ giúp ông trong bài thí nghiệm (thì đúng vậy mà!) và vì vậy tôi cầm lấy các sợi dây, mặc dù tôi khá lo lắng bởi vì hào quang của ông ta cho thấy rằng ông đang suy tính hình thái nào đó của sự lừa lọc. Tôi nghĩ, cũng có lẽ tôi đã đánh giá sai ông ta, dù thế nào đi chăng nữa ông ta cũng không phải là một người tốt. Ông quay người và bước nhanh ra xa tôi đến bên cái bàn thí nghiệm của mình. Ở đó, ông nhấn một cái nút. Tôi nhìn thấy ánh sáng đi đến từ dây dẫn và tôi nhìn thấy hào quang của người giảng viên biểu lộ sự kinh ngạc. Ông ta tỏ ra cực kỳ ngạc nhiên.

“Giữ chúng chặt hơn đi,” ông ta nói. Thế là tôi làm đúng như ông ta bảo, siết chặt những sợi dây.

Người giảng viên nhìn tôi và dụi mắt. Ông ta rất ngạc nhiên, điều đó là hiển nhiên với tất cả mọi người, thậm chí với bất cứ ai không có khả năng nhìn thấy hào quang. Rõ ràng là giảng viên chưa bao giờ ngạc nhiên như vậy trước đây. Các sinh viên khác nhìn vào miệng há hốc của ông ngạc nhiên. Họ không thể hiểu được có chuyện gì. Họ không có một ý niệm nào về những điều được dự định. Rất nhanh, người giảng viên đi lại chỗ tôi sau khi tắt công tắc và cầm lấy hai sợi dây từ tay tôi.

Ông nói: “Phải có một cái gì đó sai, chắc hẳn là đã ngắt kết nối.” Ông cầm hai sợi dây trong tay và quay trở lại bàn. Một sợi dây ở trong tay trái của ông, sợi dây kia trong tay phải. Vẫn giữ chúng trong tay, ông ta đưa một ngón tay ra trước và bật công tắc. Sau đó, ông ta gầm lên dữ dội “Ô! Tắt, nó đang giết chết tôi!” đồng thời, cơ thể ông ta co quắp như thể tất cả các cơ bắp của ông bị trói và tê liệt. Ông tiếp tục la hét và thét lên inh ỏi, hào quang của ông ta nhìn như mặt trời lặn. “Thú vị biết bao,” tôi nghĩ, “tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái gì đẹp như thế trong hào quang của con người!”

Những tiếng kêu la liên tục của người giảng viên đã lập tức làm cho mọi người chạy vào. Một người đàn ông liếc nhìn ông ta và vội vã chạy đến bàn và tắt công tắc. Người giảng viên khốn khổ gục xuống sàn, toát mồ hôi và run rẩy. Ông ta trông thật thiểu não; khuôn mặt ông xanh xám. Cuối cùng ông ta đứng dậy siết chặt mép bàn làm việc.

“Anh đã làm điều đó với tôi.” Tôi đáp, “Tôi ư? Tôi không làm gì cả. Ông bảo tôi cầm những sợi dây và tôi đã giữ chúng, sau đó ông cầm lấy chúng từ tay tôi và ông trông như thể sắp chết.” Ông ta nói, “Tôi không thể hiểu được. Tôi không thể hiểu được.” Tôi trả lời, “Ông không thể hiểu được cái gì? Tôi đã giữ chúng, nhưng ông đang nói về cái gì vậy?” Ông ta nhìn tôi: “Anh thực sự không cảm thấy bất cứ điều gì à? Anh không cảm thấy râm ran hay bất cứ điều gì à?”

“Vâng,” tôi nói, “tôi không cảm thấy gì hơn ngoài sự ấm áp dễ chịu một chút. Tại sao, thế tôi phải cảm thấy gì?” Một giảng viên khác, người đã tắt dòng điện nói, “Anh sẽ thử lại lần nữa được không?” tôi nói, “tất nhiên tôi sẽ thử, ông muốn bao nhiêu lần cũng được.” Thế là ông ta đưa tôi những sợi dây. Ông nói, “Bây giờ tôi sẽ bật công tắc Hãy nói cho tôi biết điều gì đang xảy ra.” Ông ta ấn công tắc, và tôi nói, “Ồ, nó chỉ là một chút ấm áp dễ chịu. Không có gì phải lo lắng cả. Nó cũng chỉ giống như khi tôi đưa tay lại gần ngọn lửa.” Ông ta nói, “siết chặt hơn nữa.” và tôi đã làm như vậy, tôi thực sự siết chặt chúng cho đến khi các cơ bắp nổi gồ lên trên mu bàn tay tôi.

Ông ta và người giảng viên kia nhìn nhau, và dòng điện đã được ngắt. Sau đó một người cầm lấy hai sợi dây từ tay tôi và cuốn vải xung quanh chúng, và ông ta cầm nhẹ chúng trong tay mình. “Bật lên,” ông nói với người giảng viên kia. Thế là ông kia bật công tắc, và người đàn ông đang giữ trong tay những sợi dây đã được bọc trong vài liền buông rơi nó ngay lập tức. Ông nói, “Ồ, nó vẫn còn trên đó.” Trong khi buông rơi xuống, hai sợi dây tụt khỏi miếng vài và chạm vào nhau. Có một ánh sáng lóe lên màu xanh sống động, và một cục kim loại nóng chảy văng ra khỏi đầu của sợi dây. “Bây giờ các anh đã làm nổ cầu chì rồi,” một người giảng viên nói, và ông đi ra để sửa chữa ở đâu đó.

Điện đã có trở lại, họ tiếp tục bài giảng về điện. Họ nói rằng họ đang cố gắng truyền qua tôi dòng điện hai trăm năm mươi volt như một cú sốc để chỉ ra dòng điện có thể gây ra điều gì. Tôi có một làn da khô khác thường và hai trăm năm mươi volt không làm tổn thương tôi chút nào cả. Tôi có thể đặt tay mình trên nguồn điện và không biết được liệu dòng điện đang có trên đó hay không.

Người giảng viên khốn khổ hoàn toàn không phải loại người đó, ông ấy lại còn đặc biệt nhạy cảm với dòng điện. Trong một lần thuyết trình họ nói, “Ở Mỹ nếu một người bị kết tội giết người, hoặc nếu như luật sư nói rằng ông ta phạm tội giết người thì người đó sẽ bị giết bằng điện. Hắn ta sẽ bị trói vào một chiếc ghế, và dòng điện sẽ tác động vào cơ thể và nó sẽ giết hắn ta.” Tôi nghĩ một cách thú vị khi tự hỏi liệu họ sẽ làm gì với tôi, mặc dù tôi không muốn thử nó một cách nghiêm túc.

Emil Group (emilgroup.net@gmail.com) tổng hợp từ lobsangrampa.org.
Nguồn: minhtrietmoi.org

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *