Bác sĩ từ Lhasa – 07 – chuyến bay đau thương

Chương 7: Chuyến bay đau thương

Con thuyền nhẹ nhàng trượt tới bến đỗ trên sông Tô Châu.

Những người phu khuân vác Trung Quốc vây quanh con tàu, khua chân múa tay la hét điên cuồng. Hành lí của chúng tôi nhanh chóng được chuyển lên bờ, và chúng tôi lên một chiếc xe kéo, được chở đi dọc theo bờ đê vào thành phố Trung Quốc tới một ngôi chùa mà tôi sẽ ở đó trong thời gian tới. Po Ku và tôi lặng yên giữa không gian ồn ào bát nháo. Thượng Hải là một nơi thực sự ồn ào, và náo nhiệt quá mức. Náo nhiệt hơn bình thường vì người Nhật đang cố gắng biến nơi đây thành căn cứ cho một cuộc tấn công khốc liệt, và trong thời gian qua họ săn lùng những cư dân người nước ngoài muốn vượt qua cầu Lư Câu (Marco Polo Bridge: cầu Lư Câu, nơi đây xảy ra sự kiện Lư Câu Kiều, theo cách gọi của Nhật Bản, ngày 7 tháng 7 năm 1937, được xem là sự kiện mở đầu chiến tranh Trung – Nhật). Họ đang gây ra tình trạng vô cùng bối rối bằng việc lục soát triệt để của họ. Người phương Tây không thể hiểu được rằng người Nhật cũng như người Trung Quốc có thể không thấy hổ thẹn về cơ thể con người, mà chỉ những suy nghĩ của con người về cơ thể mới đáng hổ thẹn, và khi người phương Tây bị người Nhật khám xét họ nghĩ điều đó có nghĩa là một sự sỉ nhục có chủ tâm, mà thực ra không phải vậy.

Trong một thời gian ngắn, tôi đã có một phòng mạch riêng ở Thượng Hải, nhưng với người phương Đông “thời gian” không bị giới hạn. Chúng tôi không nói rõ lúc nào đó trong năm, lúc nào cũng như nhau. Tôi có một phòng mạch riêng, làm các công việc chữa bệnh và tâm lý. Có những người bệnh đến khám ở phòng mạch của tôi, và đến các bệnh viện. Không có thời gian rỗi rãi. Bất cứ lúc nào không phải chữa bệnh, tôi đều bận với việc nghiên cứu chuyên sâu; với lý thuyết bay.

Sau khi màn đêm buông xuống, tôi bay nhiều giờ phía trên thành phố lấp lánh ánh đèn, và trên những vùng quê chỉ có những tia sáng yếu ớt từ trong những ngôi nhà tranh của người nông dân dẫn đường. Những năm tháng trôi qua không ai biết đến, tôi quá bận rộn để bận tâm về tháng ngày. Hội Đồng thành phố Thượng Hải biết rõ về tôi và tận dụng sự giúp đỡ chuyên ngành của tôi.

Tôi có một người bạn tốt là người Nga da trắng. Bogomoloff là một người đã thoát khỏi Moscow trong thời kỳ cách mạng. Ông đã mất tất cả trong thời gian bi thảm đó, và bây  giờ ông đang làm việc cho Hội Đồng thành phố. Ông là người da trắng đầu tiên mà tôi biết và tôi biết về ông rất rõ, ông là một người đàn ông đích thực.

Ông có thể thấy rõ rằng Thượng Hải không có sự phòng thủ chống lại sự xâm lược. Cũng như chúng tôi, ông có thể thấy trước những điều khủng khiếp đang đến.

Vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, đã xảy ra một sự kiện tại cầu Lư Câu. Vụ việc đã được viết quá nhiều, và tôi sẽ không tiếp tục lặp lại nữa. Vụ việc chỉ đáng chú ý vì thực tế nó là xuất phát điểm của cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Bây  giờ mọi thứ đều dựa trên cơ sở thời chiến. Thời kỳ khó khăn bao trùm lên chúng tôi. Người Nhật hung hăng, tàn bạo.

Nhiều người trong số các thương nhân nước ngoài, và người Trung Quốc nói riêng, đã nhìn thấy trước những khó khăn đang tới, và họ đã chuyển gia đình và tài sản tới những vùng khác nhau của Trung Quốc, tới những vùng đất ở sâu trong lãnh thổ quốc gia như Trùng Khánh. Nhưng những người nông dân ở các vùng ngoại ô Thượng Hải lại đổ xô vào thành phố, khi nghĩ rằng, vì lý do nào đó, họ sẽ an toàn, hình như rất nhiều người tin là đông người thì không sợ gì cả.

Trên khắp các đường phố trong thành phố, ngày cũng như đêm, tràn ngập các xe tải của Lữ đoàn Quốc tể, chở đầy lính đánh thuê của nhiều quốc gia khác nhau, có nhiệm vụ giữ gìn hòa bình ngay trong thành phố. Tất cả bọn họ đều là những kẻ giết người đã được tuyển dụng vì tính hung ác của chúng. Nếu có bất kỳ sự cố nào mà chúng không thích, chúng sẽ dùng bạo lực mà không có bất cứ cảnh báo nào, không cần bất cứ sự khiêu khích hoặc nguyên nhân nào, chúng cũng sẽ lấy ngay súng máy, súng trường, và súng lục giết chết những người dân thường vô tội, và chúng không làm gì để ngăn chặn bọn tội phạm. Chúng tôi thường nói rằng ở Thượng Hải giải quyết với người Nhật dễ hơn nhiều là với những kẻ dã man mặt đỏ, như cách chúng tôi gọi một số thành viên của Lực lượng Cảnh sát Quốc tế.

Trong một thời gian tôi đã trở thành chuyên gia chữa bệnh cho phụ nữ, điều trị cho họ như một bác sĩ điều trị và nhà phẫu thuật, và tôi đã có hoạt động thực sự thỏa đáng ở Thượng Hải. Những kinh nghiệm tôi đã có được trong những ngày bận rộn trước chiến tranh đó sẽ có ích cho tôi về sau này. Các sự kiện xảy ra ngày càng trở nên thường xuyên hơn.

Các báo cáo viết về những nỗi kinh hoàng của cuộc xâm lược của Nhật Bản. Binh lính và hàng hóa Nhật Bản trút vô điều kiện vào đất nước Trung Quốc. Họ ngược đãi những người nông dân, cướp giật, hãm hiếp như họ vẫn thường xuyên làm.

Vào cuối năm 1938, kẻ thù đã ở vùng ngoại ô của thành phố; lực lượng vũ trang yếu ớt của Trung Quốc đã chiến đấu thực sự dũng cảm. Họ đã chiến đấu cho đến chết, vì bị lũ xâm lược Nhật Bản đẩy lùi. Chỉ những người chiến đấu để bảo vệ quê hương mới có thể chiến đấu được như người Trung Quốc đang làm, nhưng họ  bị áp đảo bởi lực lượng đông hơn hẳn.

Thượng Hải tuyên bố là một thành phố mở với hy vọng rằng người Nhật sẽ tôn trọng các công ước và không ném bom các địa điểm lịch sử. Thành phố hoàn toàn không được bảo vệ, không có súng, không có bất cứ loại vũ khí nào. Các lực lượng quân sự đã được rút đi. Thành phố tràn đầy người tị nạn. Người dân cũ nơi đây hầu như đã rời đi. Các trường đại học, các trung tâm học tập và văn hóa, các công ty lớn, các ngân hàng, và những tổ chức khác nữa, họ được chuyển đến những nơi như Trùng Khánh và những vùng đất xa xôi khác. Nhưng ở chỗ của họ giờ đây là những người tị nạn, người dân của tất cả các dân tộc và các tầng lớp, đang chạy trốn khỏi quân Nhật, khi nghĩ rằng đông người thì không sợ gì cả.

Các cuộc không kích đang trở nên ngày càng thường xuyên hơn, nhưng những người dân cũng đang trở nên cứng rắn hơn, quen thuộc hơn với điều đó. Rồi một đêm người Nhật thực sự ném bom thành phố. Bất cứ chiếc máy bay nào có thể bay lên trên không đều cất cánh, thậm chí những chiếc máy bay chiến đấu cũng mang theo bom, và các phi công cũng có lựu đạn trong buồng lái để quăng qua cửa bên xuống thành phố. Bầu trời đêm dày đặc những chiếc máy bay, bay theo đội hình ngang qua thành phố không được bảo vệ, bay như một đàn châu chấu, xóa bỏ hết tất cả mọi thứ trên con đường chúng đi qua. Bom thả khắp mọi nơi, một cách bừa bãi. Thành phố chìm trong biển lửa, và không có bất cứ sự phòng vệ nào; chúng tôi không có gì để bảo vệ chính mình.

Khoảng nửa đêm tôi đang đi xuống con đường vô cùng náo loạn. Tôi đã chăm sóc một trường hợp, một người phụ nữ đang hấp hối. Lúc này kim loại đang rơi xuống như mưa, và tôi tự hỏi liệu có nơi nào để trú ẩn. Đột nhiên có một tiếng rít mong manh, lớn dần thành tiếng rên rỉ, và sau đó là tiếng rít nghe lạnh người của quả bom đang rơi. Cảm giác như mọi âm thanh, như thể toàn bộ cuộc sống đã dừng lại. Cảm giác của hư vô, trống rỗng hoàn toàn. Tôi như được một bàn tay khổng lồ nhấc lên, xoắn lại trong không trung, tung lên trong không khí, và quăng đi một cách dữ dội. Trong vài phút tôi nằm choáng váng, thở một cách khó nhọc, tự hỏi có phải mình đã chết và chờ đợi để tiếp tục cuộc hành trình vào thế giới khác. Run rẩy tôi gượng đứng lên, nhìn chằm chằm xung quanh, sững sờ tột cùng.

Tôi đang đi bộ xuống con đường giữa hai dãy nhà cao tầng; còn lúc này, tôi đang đứng trên mảnh đất hoang vắng không có bất kỳ ngôi nhà nào ở cả hai bên, chỉ còn là đống gạch vụn tan hoang, những đống bụi mỏng tung tóe máu và những mẩu của cơ thể con người. Những ngôi nhà san sát, và  những trái bom nặng đổ xuống. Nó gần tôi đến nỗi tôi như trong một nơi tách biệt, và vì lý do khác thường nào đó mà tôi đã không nghe thấy âm thanh, không bị tổn hại. Cuộc tàn sát đơn giản là rất khủng khiếp.

Vào buổi sáng chúng tôi chất các thây người thành đống cao như mái nhà và đốt chúng, đốt để ngăn ngừa sự lây lan bệnh dịch, bởi vì dưới mặt trời nắng nóng, các xác chết sẽ bị phân hủy, trương phình. Trong nhiều ngày chúng tôi đào bới đống đổ nát, cố gắng cứu chữa những người có thể còn sống sót, đào để lấy ra những xác chết, và đốt chúng ngay tại chỗ nhằm cứu vãn thành phố khỏi dịch bệnh.

Một buổi chiều muộn, tôi đang ở trong một khu phố cổ của Thượng Hải. Tôi vừa đi ngang qua một cây cầu bắc nghiêng qua con kênh. Bên phải tôi, dưới một gian hàng trên phố, có những nhà chiêm tinh và thầy bói cùng là người Trung Quốc, đang ngồi trong quầy của mình, xem tương lai cho những người khách hàng đang khao khát nóng lòng muốn biết liệu họ có sống sót qua chiến tranh không, và tình hình có khá lên hay không. Tôi nhìn họ, thú vị nghĩ rằng họ thực sự đang tin vào những điều mà những cái máy kiếm tiền này đang nói với họ.

Các thầy bói đang đọc thuộc lòng từ đầu đến cuối những đặc điểm bao quanh tên khách hàng trên một tấm bảng, khi nói với họ về kết quả của cuộc chiến tranh, khi nói với những người phụ nữ về sự an toàn của những người đàn ông của họ. Xa hơn một chút là những nhà chiêm tinh khác—có lẽ đang dừng công việc chuyên môn của họ!—mà hoạt động như một người viết thuê công cộng; họ đang viết những bức thư cho người khác để gửi tới những vùng khác nhau của Trung Quốc, kể về những tin tức, có thể cả những công việc của gia đình. Họ sống một cuộc sống không ổn định bằng cách viết thuê cho những người không biết viết, và họ làm điều đó ngay nơi công cộng; bất cứ ai muốn ngăn cản đều có thể nghe và biết về công việc kinh doanh riêng của gia đình. Ở Trung Quốc không có sự riêng tư. Người viết thuê trên phố thường hét lên bằng cái giọng rất to về những gì họ đang viết, để các khách hàng tương lai nên hiểu ông ta đã trình bày những bức thư của ông ta hay như thế nào.

Tôi tiếp tục đi bộ tới bệnh viện nơi tôi đang chuẩn bị thực hiện một số ca mổ. Tôi đi qua gian hàng của những người bán hương trầm, qua các cửa hiệu bán sách cũ, mà họ dường như luôn luôn tụ họp bên bờ sông, và, như tại hầu hết các thành phố, họ bày ra các sản phẩm của họ tại bờ sông. Xa hơn nữa là những người bán hương và các lễ vật cho đền thờ, chẳng hạn như 120 bức tượng của Đức Phật và Phật Bà Quân Thế Âm, vị đầu tiên là vị Thần của sự Sống Lương thiện và vị thứ hai là Thần của Lòng Từ Bi.

Tôi tiếp tục đi đến bệnh viện và làm những công việc của mình. Sau đó, tôi trở về trên cùng con đường. Người Nhật đã dội bom xuống thành phố. Không còn nữa những gian hàng và cửa hiệu. Ở đó không còn nữa những người bán hàng với đồ lễ, hay hương trầm, vì họ cùng với hàng hóa của mình đã trở thành cát bụi. Lửa đã thiêu rụi, các tòa nhà đổ nát, thế là tro bụi lại hoàn tro bụi.

Nhưng Po Ku và tôi còn có nhiều việc khác để làm bên cạnh đó. Chúng tôi đang nghiên cứu khả năng bắt đầu một dịch vụ cứu thương hàng không theo lệnh trực tiếp từ Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch. Tôi nhớ rõ một chuyến bay đặc biệt trong số các chuyến bay này. Hôm đó trời giá lạnh, những đám mây trắng xốp lững thững phía trên đầu. Từ một nơi nào đó trên bầu trời vẳng đến tiếng bom Nhật CRUMP – CRUMP – CRUMP đơn điệu. Thỉnh thoảng có tiếng vo ve xa tít của động cơ máy bay, giống như âm thanh của đàn ong trong ngày hè nóng nực.

Con đường gồ ghề thô ráp, bên cạnh nơi chúng tôi ngồi, đã chịu đựng sức nặng nhiều bước chân ngày hôm đó, cũng như trong bao ngày đã qua khác. Những người nông dân lê bước cố gắng thoát ra khỏi cảm giác hận thù quân Nhật tàn ác đến điên rồ. Những người nông dân già hầu như đã đến cuối cuộc đời, đang đẩy những chiếc xe cút kít một bánh với tất cả tài sản của họ trên đó.

Những người nông dân cúi gầm mặt sát đất, mang theo trên lưng họ gần như tất cả những gì họ có. Đội quân vũ trang ốm yếu đi theo cách khác, với vật dụng ít ỏi chất trên chiếc bò kéo. Họ là những người đàn ông đang mù quáng đi tới cái chết, cố gắng ngăn chặn sự tiến công tàn bạo, cố gắng bảo vệ đất nước, nhà cửa của họ. Tiếp tục đi một cách mù quáng mà không biết tại sao họ phải đi tiếp, không biết điều gì đã gây ra cuộc chiến.

Chúng tôi luồn xuống bên dưới cánh của một chiếc máy bay ba động cơ cũ kỹ, một chiếc máy bay cũ tàn tạ trước khi được những bàn tay háo hức và nhiệt tình của chúng tôi động tới. Dầu bôi trơn đang tróc ra từng mảng từ những chiếc cánh căng bằng vải bạt. Càng má đã được sửa chữa và được gia cố bằng những thanh tre tách ra, và cái nạng đuôi được bọc lại bằng một mẩu thừa của một cái lò xo ô tô bị gãy. Abie Già, như cách chúng tôi gọi cô, chưa bao giờ làm chúng tôi thất vọng. Động cơ của cô đôi khi bị dừng lại, đó là sự thật, nhưng mỗi lúc chỉ một lần. Cô ấy là máy bay có một lớp cánh cao khá nổi tiếng do Mỹ sản xuất. Cô ấy có phần thân kết cấu khung bằng gỗ phủ vải bạt, và dạng khí động học là một thuật ngữ xa lạ khi cô ấy được chế tạo. Tốc độ khiêm tốn gần hai trăm cây số một giờ, có cảm giác nhanh hơn ít nhất hai lần. Vải gõ như đánh trống, xà dọc kêu cọt kẹt và căng lên, ống xả mở rộng làm tăng thêm tiếng ồn ào.

Một thời gian dài trước đây cô được sơn pha màu trắng với chữ thập đỏ khổng lồ bên thân và đôi cánh của mình. Giờ đây cô ấy bị làm xây xước và có những vết sọc buồn bã. Dầu động cơ bổ sung thêm những vết gỉ ngả vàng làm cho cô trông như một pho tượng đá khắc cổ xưa của Trung Quốc.

Xăng dầu tràn bị tạt ngược góp phần tạo nên những màu sắc khác, trong khi những đốm lớn khác nhau được thêm vào theo thời gian đã tạo nên một diện mạo kỳ lạ cho chiếc máy bay già nua.

Lúc này tiếng ồn ào của bom đạn đã lắng xuống. Một cuộc tấn công nữa của quân Nhật đã qua và công việc của chúng tôi chỉ mới bắt đầu.

Chúng tôi kiểm tra lại một lần nữa những thiết bị ít ỏi của mình; cưa, hai chiếc, một lớn, một nhỏ và nhọn; dao, bốn con đủ loại. Một trong số đó là dao lạng thịt của một người trước đây làm nghề bán thịt, một con là dao để sửa ảnh. Hai con khác là dao mổ đích thực.

Kẹp, một vài cái. Hai ống tiêm dưới da với những chiếc kim cùn ghê gớm. Một ống tiêm dùng để hút chất lỏng hay khí cùng với ống cao su, và chiếc đèn pin cỡ trung bình. Những chiếc dây đai, phải, chắc chắn chúng tôi cần phải có chúng. Không có thuốc gây tê chúng tôi thường phải buộc chặt bệnh nhân xuống.

Đến lượt Po Ku bay ngày hôm nay, còn chỗ của tôi là ngồi phía sau và theo dõi máy bay chiến đấu của quân Nhật. Phương tiện liên lạc xa xỉ không dành cho chúng tôi. Chúng tôi có một sợi dây dài, một đầu buộc vào phi công, người quan sát giữ đầu dây còn lại và giật theo một quy ước thô thiển.

Thận trọng đu đưa qua lại cánh quạt để khởi động Abie. Lần lượt từng động cơ nổ máy như những tiếng ho, nhổ ra một bụm khói đen của dầu, và đánh thức cuộc sống với tiếng ồn inh tai. Chẳng mấy chốc chúng sôi nổi hẳn lên và ổn định với tiếng gầm khá nhịp nhàng. Tôi trèo vào trong máy bay, và đi tới phần sau máy bay nơi chúng tôi đã làm một cái cửa sổ trong vải bạt để quan sát: Sợi dây giật mạnh hai cú và Po Ku được thông báo rằng tôi đã vào vị trí an toàn, ngồi xổm trên sàn, bị ép, nhồi nhét giữa các thanh chống. Tiếng gầm của động cơ tăng lên, và toàn bộ máy bay rung chuyển, rồi di chuyển ra ngoài, đi xuống cánh đồng. Có một tiếng răng rắc ầm ầm của bộ phận hạ cánh, và tiếng cọt kẹt của các đồ vật làm bằng gỗ đang bị xoắn lại. Đuôi máy bay nhấp nhô dập dềnh, và nhún xuống khi chúng tôi va vào những luống đất.

Tôi bị sóc, nảy lên tới trần máy bay. Tôi siết đai chặt hơn nữa vì cảm thấy mình giống như hạt đậu trong một cái hũ. Với tiếng uỵch và tiếng loảng xoảng cuối cùng, chiếc máy bay già nua nhẩy chồm lên không trung, và tiếng ồn giảm bớt khi động cơ được giảm van tiết lưu. Một cú chúi xuống và chệch hướng bay dữ dội vì chúng tôi va phải luồng không khí vừa thoát ra khỏi những cái cây, và mặt tôi gần như bị ấn qua cái cửa sổ quan sát. Những cái giật dây thật mạnh từ Po Ku nghĩa là “Được rồi, chúng ta làm lại lần nữa. Cậu có còn ở đó không?” Những cái giật dây trả lời của tôi biểu cảm hết mức tôi có thể làm được, cho thấy tôi nghĩ gì về cú cất cánh của anh.

Po Ku có thể nhìn thấy nơi chúng tôi đang đi, còn tôi có thể thấy những gì chúng tôi vừa bỏ lại. Lúc này chúng tôi đang đi tới một ngôi làng ở huyện Wuhu nơi vừa bị tấn công nặng nề, và nhiều, rất nhiều thương vong, và không có sự hỗ trợ nào ngay tại chỗ. Chúng tôi luôn thay phiên nhau lái máy bay, và làm công việc quan sát. Abie có nhiều điểm mù, và các máy bay chiến đấu của quân Nhật lại rất nhanh. Tốc độ của chúng thường cứu chúng tôi. Chúng tôi có thể bay chậm xuống tới mức chỉ hơn tám mươi cây số một giờ khi chúng tôi không chở nặng, và người phi công Nhật trung bình không đủ kỹ năng để bắn. Chúng tôi thường nói rằng chúng tôi an toàn hơn khi ở ngay trước mắt chúng, bởi vì chúng luôn bỏ qua những gì chồm hổm ngay trước mũi mình!

Tôi duy trì sự canh phòng cẩn thận, cảnh giác với “chậu máu” đáng ghét, đấy là từ mà chúng tôi thấy rất thích hợp để gọi những chiếc máy bay Nhật. Dòng sông Hoàng Hà chảy qua bên dưới đuôi máy bay của chúng tôi. Sợi dây giật ba lần. “Chúng ta đang hạ cánh,” Po Ku báo hiệu. Cái đuôi máy bay ngóc lên, tiếng gầm của động cơ đã ngừng và được thay thế bằng tiếng “bấc bấc, bấc bấc” dễ chịu như tiếng cánh quạt đang lật một cách lười nhác. Chúng tôi lướt xuống với động cơ đã mở van tiết lưu trở lại. Những tiếng cọt kẹt từ bánh lái khi chúng tôi rẽ sang một chút để điều chỉnh hướng bay. Tiếng đập đen đét và rung động từ vải bạt phủ bên ngoài khi nó rung lên trong gió lộng. Một tiếng nổ ngắn đột ngột từ động cơ, những tiếng ầm ầm và tiếng loảng xoảng chói tai khi chúng tôi hạ cánh, và gầm lên ầm ầm một lần nữa từ luống đất này sang luống khác.

Sau đó là thời điểm đáng ghét nhất của người quan sát bất hạnh tù túng ở đuôi máy bay; thời điểm khi mà đuôi hạ xuống và má phanh kim loại cày xuyên qua lớp đất khô nẻ, dấy lên những đám mây bụi đến nghẹt thở, bụi đất chất đầy những mẩu nhỏ phân người mà người Trung Quốc sử dụng để làm cho đất đai màu mỡ.

Thân hình cồng kềnh của tôi được giải thoát khỏi không gian chật hẹp ở đuôi máy bay, và tôi đứng lên rên rỉ vì đau khi cơ thể được lưu thông, làm việc trở lại. Tôi leo lên thân máy bay đang nghiêng về phía cửa. Po Ku đã mở nó, và chúng tôi nhảy xuống đất. Những bóng người đang vội vã chạy về phía chúng tôi. “Đến nhanh lên, chúng tôi có nhiều người bị thương. Tướng Tien bị một thanh kim loại văng vào, xuyên qua và ló ra khỏi người ông ấy cả đằng trước lẫn phía sau.”

Trong một căn nhà bẩn thỉu tồi tệ được sử dụng làm bệnh viện dã chiến, viên tướng ngồi thẳng đứng, làn da vốn màu vàng của ông giờ trở nên xanh xám vì đau và mệt mỏi. Ngay phía trên bẹn bên trái một thanh thép sáng nhô ra. Nó trông giống như thanh kim loại được dùng làm tay đòn để khởi động ô tô.

Cho dù nó có là cái gì, nó đã bị thổi văng qua người ông do hơi của một quả bom rơi gần trúng đích. Chắc chắn tôi phải bỏ nó ra nhanh nhất có thể. Đầu thanh kim loại lòi ra ở phía sau trơn tru và thẳng đứng, ngay phía trên bên trái xương sống chỗ khớp nối giữa xương cùng và xương chậu, và tôi cho rằng nó bị trượt và bị đẩy sang một bên, đại tràng đang bị sa xuống.

Sau khi kiểm tra người bệnh cẩn thận, tôi đã cho Po Ku ra ngoài, anh không cần phải nghe những điều xảy ra ở trong này, và giao cho anh một việc gì đấy khác thường ở chỗ máy bay. Trong khi anh đi ra, tôi cẩn thận làm sạch vết thương của Tướng quân, và thanh kim loại. Ông nhỏ người và đã già, nhưng có sức khỏe bình thường. Chúng tôi không có thuốc tê, tôi nói với ông, nhẹ nhàng nhất có thể, “Tôi sẽ làm ông đau, cho dù tôi có cẩn thận như thế nào đi chăng nữa,” tôi nói, “Nhưng tôi sẽ làm tốt nhất trong khả năng của mình.” Ông không hề lo lắng. “Cứ làm đi,” ông nói. “Nếu không làm gì thì dù sao đi chăng nữa tôi cũng sẽ chết, vì vậy tôi không có gì để mất, nhưng dứt khoát sẽ thành công.”

Từ nắp của hộp tiếp tế, tôi gỡ ra một mẩu gỗ, khoảng mười tám inche vuông (tương đương với 116,13 cm2), và khoét một cái lỗ ở giữa vừa khít với thanh kim loại. Vào lúc này, Po Ku đã trở lại với bộ dụng cụ của máy bay, tất cả những gì mà chúng tôi có.

Chúng tôi cẩn thận luồn tấm gỗ vào thanh kim loại, và Po Ku giữ chặt nó khỏi cơ thể bệnh nhân. Tôi siết chặt thanh kim loại bằng cái cờ lê Stilton cỡ lớn của chúng tôi, và kéo nhẹ nhàng. Không có điều gì xảy ra, ngoại trừ người bệnh bất hạnh trở nên trắng bệch.

“Thôi được,” tôi nghĩ, “chúng ta không thể để lại điều tồi tệ này, vậy thì được ăn cả, ngã về không.” Tôi tì đầu gối mình vào Po Ku, người đang giữ tấm gỗ cho đúng vị trí, tóm chặt cái kẹp giữ thanh sắt, và kéo mạnh, vừa xoay nhẹ nhàng. Một âm thanh rít kinh khủng khi thanh sắt được tự do, và tôi, bị mất thăng bằng, bật ngửa và ngã đập đầu xuống. Rất nhanh, tôi vùng dậy, và chúng tôi hối hả đến bên vị Tướng và cầm máu lại. Nhìn chăm chú vào vết thương dưới ánh đèn pin, tôi đi đến kết luận là không có thiệt hại lớn, vì thế chúng tôi khâu và làm sạch vết thương.

Cho tới lúc này, sau khi uống chất kích thích, vị Tướng trông đã có màu sắc khá hơn nhiều, và như ông nói, cảm thấy hạnh phúc hơn rất nhiều. Ông đã có thể nằm nghiêng về một bên, vì rằng lúc trước ông phải ngồi thẳng đứng, trong khi phải mang một thanh kim loại nặng. Tôi để Po Ku hoàn tất việc mặc quần áo cho ông, và đi tới ca bệnh tiếp theo, một người phụ nữ có chân phải bị thổi bay ngay phía trên đầu gối. Chân cô đã bị buộc ga rô quá chặt và quá lâu. Chỉ còn một việc có thể làm cho cô; chúng tôi phải phẫu thuật cắt bỏ phần còn lại của chân.

Chúng tôi phải phá một cánh cửa, và buộc chặt người phụ nữ lên đó. Rất nhanh, tôi cắt phần thịt xung quanh hình “chữ V”, với đầu nhọn hướng về phía cơ thể. Tôi khoét vào trong và để lại phần xương cao nhất có thể. Sau đó, khi cẩn thận gấp hai miếng da với nhau tôi khâu chúng để tạo thành miếng đệm sát vào xương. Công việc mất hơn một tiếng rưỡi, một tiếng rưỡi đau đớn cực độ, và trong suốt thời gian đó người phụ nữ im lặng, không kêu một tiếng, không một tiếng rên nhỏ, cũng không run rẩy. Cô biết rằng cô đang ở trong tay những người bạn. Cô biết rằng những gì chúng tôi làm, là để làm điều tốt cho cô.

Có những trường hợp khác nữa. Những vết thương nhẹ, và cả những vết thương nghiêm trọng, đến lúc được xử lý chúng đều đã trở nên sẫm màu. Ngày hôm nay đến lượt Po Ku bay, ở vị trí của người phi công, nhưng anh không thể nhìn thấy trong ánh sáng đang mờ dần, vì thế rất khó thực hiện chuyến bay.

Chúng tôi vội vã trở về máy bay, đóng gói thiết bị của chúng tôi một cách nâng niu trìu mến, lại một lần nữa chúng đã giúp ích chúng tôi rất tốt. Sau đó Po Ku đu đưa cái cánh quạt và bắt đầu khởi động động cơ. Lóe lên những ánh lửa xanh đỏ phụt ra từ ống xả, chúng tôi nhìn chắc phải giống con rồng phun lửa đối với những người chưa bao giờ nhìn thấy máy bay trước đó. Tôi leo lên khoang, rồi thả mình vào chỗ ngồi của phi công, mệt đến mức tôi rất khó giữ cho mắt mình mở. Po Ku lảo đảo theo sau, đóng cửa lại và ngã lăn ra ngủ thiếp ngay trên sàn. Tôi vẫy tay ra hiệu cho những người bên ngoài kéo đi những tảng đá lớn dùng để chặn các bánh xe.

Trời đã tối hơn và cây cối cản trở tầm nhìn, tôi vẫn nhớ thuộc lòng thế đất nơi đây, và khởi động động cơ bên phải để quay ngang. Trời không có gió. Sau đó, khi đã đối diện đúng hướng, hy vọng như vậy, tôi mở cả ba van tiết lưu rộng hết cỡ có thể. Động cơ gầm lên, và máy bay rung lên, kêu loảng xoảng khi chúng tôi di chuyển ra ngoài, lắc lư với tốc độ ngày càng tăng. Các thiết bị đều không thể nhìn thấy được. Chúng tôi không có đèn chiếu sáng, tôi biết rằng đầu phía bên kia của cánh đồng không nhìn thấy được, nhưng gần đến đáng sợ. Tôi kéo ngược cần điều khiển. Máy bay bay lên, loạng choạng và nhào xuống, rồi lại bay lên. Chúng tôi đang ở trên không trung. Tôi lượn nghiêng và chúng tôi lượn một vòng lười biếng, khi bay lên cao. Ngay dưới những đám mây đêm lạnh lẽo, tôi bay là là, tìm kiếm mốc đơn giản của chúng tôi, con sông Hoàng Hà. Nó ở kia, phía bên trái, hiện ra một ánh mờ nhạt ngược với mặt đất tối sẫm. Tôi cũng quan sát xem có bất cứ máy bay nào khác trên bầu trời, bởi vì tôi không có sự bảo vệ, Po Ku đang ngủ trên sàn phía sau tôi, tôi không có ai quan sát từ phía sau.

Khi đã xác định được đường bay, tôi ngả người, nghĩ về những chuyến đi khẩn cấp này mệt mỏi đáng kinh ngạc biết bao, cần phải ứng biến, cần phải suy nghĩ, và điều trị những cơ thể mất máu đáng thương với bất cứ cái gì có trong tay. Tôi nghĩ về những câu chuyện tuyệt vời tôi từng được nghe về các bệnh viện ở Anh và Mỹ, và các nguồn cung cấp khổng lồ những vật liệu và dụng cụ họ cho là phải có. Nhưng chúng tôi đang ở Trung Quốc, chúng tôi cần phải dùng tạm, cần phải xử lý, và tiếp tục cứu chữa với bằng những vật dụng của mình.

Hạ cánh là vấn đề thực sự khó khăn trong đêm hầu như tối sẫm. Chỉ có tia sáng le lói yếu ớt của ngọn đèn dầu trong ngôi nhà của những người nông dân, và bóng tối sẫm hơn nữa của cây cối. Nhưng chiếc máy bay già nua đã xuống bằng cách nào đó, và tôi đã đặt cô ấy xuống với tiếng ầm ầm của càng má và tiếng rít của nạng đuôi. Điều đó không hề làm phiền Po Ku chút nào; anh đang ngủ say. Tôi tắt các động cơ, ra ngoài, đặt chèn phía sau và trước các bánh xe, sau đó trở lại máy bay, đóng cửa, và lăn ra ngủ trên sàn.

Sáng sớm, cả hai chúng tôi bị đánh thức bởi những tiếng la hét ở bên ngoài. Vì vậy, chúng tôi mở cửa, và có một người lính liên lạc nói với chúng tôi rằng thay vì có một ngày nghỉ, như chúng tôi nghĩ, chúng tôi cần phải đưa một viên Tướng tới một huyện khác nơi ông ta sẽ có một cuộc nói chuyện với Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch về cuộc chiến ở khu vực Nam Kinh. Vị Tướng này là một người khốn khổ. Ông đã bị thương, và ông ta, về lý thuyết, đang hồi phục. Chúng tôi nghĩ rằng ông đang giả vờ ốm để không phải làm việc. Ông ra vẻ mình là người rất quan trọng, và tất cả các nhân viên thực lòng không ưa ông ta. Chúng tôi cần phải chỉnh tề hơn một chút, vì thế chúng tôi phải đến túp lều tạm của mình, lau rửa, thay quân phục bởi vì vị Tướng là người khắt khe về trang phục.

Trong khi chúng tôi đang ở trong túp lều, mưa đổ xuống, và nỗi phiền muộn của chúng tôi tăng lên khi thời tiết ngày càng trở nên u ám hơn. Mưa! Chúng tôi ghét mưa cũng nhiều như bất cứ người dân Trung Quốc nào. Một trong những vẻ đẹp của Trung Quốc là những người lính, tất cả họ đều là những con người dũng cảm và mạnh mẽ, có lẽ là trong số những người lính dũng cảm nhất thế giới, nhưng họ ghét mưa. Ở Trung Quốc, mưa xuống trong tiếng ầm ầm vang dội, trút xuống không ngừng. Nó đạp xuống tất cả mọi thứ, thấm đẫm mọi vật, làm ướt đẫm bất cứ ai tình cờ ra ngoài dưới mưa. Khi chúng tôi quay trở lại máy bay của mình bên dưới những chiếc ô, chúng tôi nhìn thấy một đội quân Trung Quốc. Họ diễu hành dọc theo con đường bên rìa của sân bay, con đường sũng nước và lép nhép bùn.

Những người đàn ông trông chán nản vì trời mưa. Họ đã có đủ khó khăn thử thách, đủ đau khổ, và mưa càng làm nặng nề hơn nữa. Họ diễu hành một cách chán nản, súng của họ được bọc trong túi vải đeo trên vai. Trên lưng họ là những chiếc bao đựng, được giữ bằng sợi dây buộc chéo. Trong đó họ cất giữ tất cả những gì thuộc về họ, tất cả vật dụng của họ trong chiến tranh, thực phẩm của họ, tất cả mọi thứ. Trên đầu họ đội những chiếc mũ rơm, và trong bàn tay phải, phía trên đầu họ mang những chiếc ô làm bằng tre và giấy đã được sơn dầu màu vàng. Lúc này, điều đó có vẻ thú vị. Nhưng sau đó, điều tuyệt vời là nhìn thấy năm hay sáu trăm người lính diễu hành xuống một con đường dưới năm hay sáu trăm chiếc ô. Chúng tôi, cũng vậy, sử dụng ô để đi ra máy bay của mình.

Chúng tôi ngạc nhiên nhìn chằm chằm khi tới bên máy bay. Có một toán người đã ở đó, và họ đang căng một tán dù bằng vải bạt trên đầu họ để che mưa cho vị Tướng. Ông ta vẫy tay ra hiệu với chúng tôi rất hống hách và nói, “Ai trong các anh có kinh nghiệm bay nhiều hơn?” Po Ku thở dài mệt mỏi, “Tôi, thưa Tướng quân,” anh nói. “Tôi đã bay mười năm, nhưng người đồng chí của tôi là phi công giỏi hơn và có kinh nghiệm nhiều hơn.” “Tôi mới là người xét đoán ai là người giỏi nhất,” viên Tướng nói. “Anh sẽ bay, và anh ta sẽ quan sát để giữ an toàn cho chúng ta.” Vì vậy Po Ku đi đến khoang của phi công. Tôi đi đến đuôi máy bay.

Chúng tôi khởi động các động cơ. Tôi có thể nhìn qua ô cửa sổ nhỏ, và thấy vị Tướng với những người trợ lý của mình lên khoang máy bay. Rồi sự chia tay rối rít ở cửa, nhiều nghi lễ, những cái vẫy tay, những cái cúi chào và sau đó là mệnh lệnh đóng cửa máy bay và hai người kéo sang bên những vật chèn tại các bánh xe. Một cái vẫy tay cho Po Ku, và các động cơ rồ ga. Anh ra hiệu cho tôi bằng sợi dây và chúng tôi di chuyển ra ngoài.

Tôi cảm thấy không hài lòng về chuyến bay này. Chúng tôi sẽ bay qua chiến tuyến của quân Nhật, và chúng rất cảnh giác với những ai bay qua vị trí đóng quân của chúng. Tệ hơn nữa, chúng tôi có ba máy bay chiến đấu, chỉ có ba, mà chúng được yêu cầu để bảo bệ chúng tôi. Chúng tôi biết rằng điều này sẽ thu hút sự chú ý của quân Nhật, bởi vì máy bay chiến đấu của Nhật sẽ cất cánh để xem có chuyện gì, tại sao một chiếc máy bay ba động cơ cũ kỹ như vậy lại có máy bay chiến đấu bảo vệ? Tuy nhiên, vì viên Tướng đã tuyên bố không thể có nhầm lần, ông ta là sĩ quan cao cấp, và ông ta là người có quyền ra lệnh, và vì vậy mà chúng tôi tiếp tục hứng chịu.

Chúng tôi ì ạch đi xuống cuối cánh đồng. Trong đám bụi xoáy, và tiếng loảng xoảng của càng má, chiếc máy bay xoay tròn, cả ba động cơ cùng rồ ga đến mức tối đa và chúng tôi lao xuống cánh đồng. Với tiếng kêu loảng xoảng và tiếng gầm, chiếc máy bay già nua lao lên không trung. Chúng tôi bay vòng tròn trong một lúc để đạt được độ cao. Đó không phải theo ý của chúng tôi, mà là bắt buộc trong tình huống này.

Cuối cùng chúng tôi lên đến độ cao một nghìn năm trăm mét, rồi ba nghìn mét. Ba nghìn mét là mức tối đa của chúng tôi. Chúng tôi tiếp tục bay vòng tròn cho tới khi ba chiếc máy bay chiến đấu cất cánh, và hình thành đội hình phía trên và phía sau chúng tôi. Tôi cảm thấy trơ trụi hoàn toàn, mắc kẹt trên không với ba chiếc máy bay chiến đấu đang lảng vảng quanh. Lúc này, một lần nữa tôi thấy mọi thứ trượt vào tầm nhìn từ ô cửa sổ của tôi, và sau đó dần dần tụt ra khỏi phạm vi quan sát của tôi. Nó tạo cho tôi cảm giác không an toàn khi nhìn thấy ba chiếc máy bay chiến đấu ở đó. Ngược lại, tôi lo sợ từng giây từng phút sẽ nhìn thấy những chiếc máy bay của quân Nhật.

Chúng tôi vẫn tiếp tục ngồi không. Điều đó dường như kéo dài vô tận. Dường như chúng tôi bị treo lơ lửng giữa thiên đường và trái đất, có những viên đá gây ra những va chạm nhẹ, chiếc máy bay lắc lư một chút, và tâm trí tôi lang thang vì sự đơn điệu của nó. Tôi nghĩ về cuộc chiến đang diễn ra bên dưới chúng tôi, trên mặt đất dưới kia. Tôi nghĩ về những hành động tàn bạo, về những điều khủng khiếp, biết bao điều trong số đó tôi đã tận mắt chứng kiến. Tôi nghĩ về Tây Tạng thân yêu của tôi, vui thích biết bao nếu như tôi có thể mang theo Abie về đó, và bay thử, rồi hạ cánh ở chân điện Potala ở Lhasa. Đột nhiên có những tiếng nổ lớn, bầu trời dường như bị lấp đầy bởi những chiếc máy bay đang lao nhanh, những chiếc máy bay với những “điểm giết chóc” đáng ghét trên đôi cánh của chúng.

Tôi có thể nhìn thấy chúng khi bay vào tầm nhìn, rồi lại lao ra như tên bắn. Tôi cũng có thể nhìn thấy những vệt đạn và khói đen của lửa pháo. Chẳng ích gì trong việc gửi tín hiệu của tôi tới Po Ku. Hiển nhiên là chúng tôi đang bị bắn dữ dội. Abie Già tròng trành và lao xuống, rồi lại ngóc lên. Mũi của cô đi lên, và chúng tôi dường như vút lên trời cao. Po Ku đang đưa chúng tôi vào trận chiến khốc liệt. Tôi suy nghĩ, và thấy việc của mình là cần phải vứt bỏ vị trí ở đuôi máy bay. Đột nhiên, viên đạn bay vèo xuyên qua lớp vải bạt ngay phía trước tôi. Bật vào sợi dây ở ngay bên cạnh tôi, sợi dây bị đứt, một đầu của nó văng vào mặt tôi suýt chút nữa đập vào mắt trái. Tôi thu nhỏ mình lại hết sức có thể và cố gắng ép mình trở lại đuôi máy bay. Một trận chiến dữ dội đang diễn ra, trận chiến mà giờ đây có thể trông thấy rõ ràng, bởi vì viên đạn đã xé rách một đường trên vải bạt, ô cửa sổ biến mất, và nhiều chỗ vải khác cũng bị xé rách. Tôi dường như đang ngồi trên những đám mây trong một cái khung được làm bằng gỗ.

Trận chiến lúc trùng xuống lúc quyết liệt, sau đó có một tiếng “CRUMP” khủng khiếp. Toàn bộ máy bay rung chuyển và mũi chúc xuống. Tôi nhìn ra ngoài phát điên lên. Máy bay Nhật dường như phủ kín bầu trời. Khi đó, tôi thấy một máy bay Nhật và một máy bay Trung Quốc va vào nhau. Chỉ một tiếng “BÙM” và một cục lửa màu đỏ và đỏ cam bùng lên và tiếp sau đó là khỏi đen, và hai chiếc máy bay xoay tít lao xuống dính liền vào nhau một cách chết chóc. Các phi công văng ra, và rơi quay cuồng, tay và chân dang rộng, lộn nhào giống như những cái bánh xe. Nó nhắc tôi về những ngày lần đầu bay trên diều của tôi ở Tây Tạng, khi vị lạt ma rơi khỏi chiếc diều và lao xuống xoay tít cũng giống như vậy, đổ ầm xuống tảng đá ở bên dưới hàng trăm mét.

Một lần nữa, toàn thân máy bay chấn động dữ dội, cánh chao đảo, giống như một chiếc lá rụng. Tôi nghĩ thế là hết. Mũi chúc xuống, đuôi chổng lên đột ngột làm tôi trượt xuống thân máy bay vào trong khoang lái, và trượt vào trong một khung cảnh khủng khiếp tột độ. Viên Tướng nằm đó đã chết; rải rác xung quanh khoang lái là những bộ phận của cơ thể của những người tùy tùng. Đạn pháo đã xé toạc xuyên qua họ và thổi bay họ thành từng mảnh. Tất cả đoàn tùy tùng cũng như các trợ lý đều đã chết hoặc đang hấp hối.

Khoang lái trong tình trạng hỗn độn. Tôi giật mở cửa khoang lái rồi lùi lại, cảm thấy sắp nôn. Bên trong là cơ thể không đầu của Po Ku, gập người trên bảng điều khiển. Đầu của anh, hoặc cái gì đó còn lại của nó, bắn tóe trên bảng đồng hồ chỉ dẫn. Kính chắn hỗn độn đầy máu, máu và não. Nó bị che khuất đến nỗi tôi không thể nhìn ra ngoài được. Rất nhanh, tôi chộp lấy vai Po Ku, và đẩy anh ra khỏi chỗ ngồi, sang một bên. Hết sức vội vàng, tôi ngồi xuống, và vồ lấy cần điều khiển, chúng quẫy mạnh, nhảy dữ dội, nhầy nhụa máu, và cực kỳ khó nắm giữ chúng. Tôi kéo cần điều khiển ngược trở lại và cố gắng cho máy bay ngóc đầu lên. Nhưng tôi không thể nhìn thấy được.

Tôi vắt chân qua cần điều khiển và rùng mình khi sử dụng đôi tay mình để cạo lớp não và máu ra khỏi kính chắn gió, để cố gắng làm sạch một mảng sao cho tôi có thể nhìn thấy bên ngoài. Mặt đất đã ngay trước mặt. Tôi nhìn thấy nó qua lớp mây màu đỏ máu của Po Ku. Mọi vật đang lớn dần lên. Chiếc máy bay đang run lên, các động cơ rít chói tai. Van tiết lưu không còn hoạt động. Động cơ cánh trái đã văng ra ngoài. Sau đó động cơ cánh phải nổ tung. Với trọng lượng hai bên cánh giảm đi, mũi máy bay hơi ngóc lên. Tôi kéo cần điều khiển ngày càng khó hơn. Mũi máy bay ngóc nhẹ lên nhưng cũng đã muộn, đã quá muộn. Chiếc máy bay đã bị bắn phá quá nhiều để có thể đáp ứng điều khiển. Tôi cố gắng làm chậm nó lại một chút, nhưng không đủ để hạ cánh như mong muốn. Mặt đất cứ như nâng cao lên; các bánh xe chạm vào mũi thậm chí còn bị dốc xuống nhiều hơn nữa. Tiếng kêu răng rắc kinh khủng, và tiếng đồ gỗ bị xé nát. Tôi cảm thấy dường như thế giới đang tan ra quanh tôi, cùng với chiếc ghế của phi công, tôi bắn ngay ra ngoài qua bụng của máy bay vào một đống bốc mùi khó chịu. Chân tôi đau đớn không thể chịu đựng nổi, và trong một lúc tôi không còn biết gì nữa.

Không lâu sau, tôi tỉnh lại bởi vì tôi tiếng súng máy và tôi nhìn lên. Máy bay Nhật đang bay xuống; nhấp nháy ánh sáng đỏ từ họng súng. Chúng đang bắn vào đống đổ nát của Abie Già, bắn để chắc chắn không còn ai sống sót trong đó. Lấp lóe ánh lửa nhỏ khởi đầu ở động cơ, động cơ duy nhất bên trái, chỗ mũi máy bay, rồi nó chạy xung quanh về phía khoang lái, nơi vải bạt đã bị thấm đẫm xăng. Bùng lên đột ngột ngọn lửa trắng kèm theo khói đen. Xăng đang chảy tràn ra mặt đất, và trông như thể ngọn lửa đang trút xuống theo vết xăng chảy. Sau đó, ngọn lửa nổ bùng lên, mảnh vỡ rơi xuống như mưa, và Abie đã không còn nữa. Cuối cùng, những chiếc máy bay Nhật hài lòng bay đi.

Lúc này tôi đã có thời gian để nhìn lại mình, và để xem tôi đang ở đâu. Tôi kinh dị thấy mình đang ở trong một con mương thoát nước sâu, của hệ thống thoát nước. Ở Trung Quốc rất nhiều các hệ thống cống rãnh mở không có nắp, và tôi đang ở trong một trong số đó. Mùi hôi thối đơn giản là kinh khủng, tôi tự an ủi với ý nghĩ là ít nhất thì ở chỗ này mình được cứu thoát khỏi đạn, cũng như lửa, của quân Nhật. Rất nhanh, tôi thoát ra khỏi chỗ ngồi rách nát của phi công. Tôi nhận thấy mình bị gãy cả hai mắt cá chân, nhưng với nỗ lực đáng kể tôi cố gắng bò trên tay và đầu gối, cào bới đến vụn nát cả đất để lên đến bờ mương, và thoát ra khỏi mớ hỗn độn dính dáp của nước thải.

Trên bờ mương, ngay khi qua khỏi chỗ ngọn lửa vẫn đang chập chờn trên mặt đất còn dính xăng, tôi lại ngất một lần nữa vì đau đớn và kiệt sức, nhưng những cú đá mạnh vào hai bên sườn đã thức tỉnh tôi nhanh chóng. Những  người lính Nhật đã bị những đốm lửa gây chú ý, và chúng đã tìm thấy tôi. “Ở đây có một người còn sống sót,” một giọng nói vang lên. Tôi mở mắt, và có một tên lính Nhật cầm một khẩu súng trường có lưỡi lê gắn trên đầu súng. Lưỡi lê đã được rút ra, sẵn sàng đâm vào tim tôi. “Tôi cần phải làm cho hắn tỉnh lại, để hắn biết hắn đang bị giết chết,” hắn nói với một tên lính khác, rồi hắn đâm vào tôi. Ngay lúc đó tên viên sĩ quan vội vã chạy tới. “Dừng lại”, hắn hét lên. “Hãy đưa hắn về trại. Chúng ta sẽ bắt hắn nói cho chúng ta người sử dụng chiếc máy bay này là ai, và tại sao chúng lại được bảo vệ như vậy. Hãy đưa hắn về trại. Chúng ta sẽ tra hỏi hắn.”

Vì vậy, tên lính đeo khẩu súng lên vai, và nắm lấy cổ áo tôi, kéo tôi đi theo. “Nặng thế, này. Hãy giúp tôi một tay,” hắn nói. Một trong những tên lính đến và đưa một tay tóm lấy tôi. Chúng cùng nhau kéo tôi theo, da chân tôi bị cào rách khi tôi bị kéo theo trên nền đất đá. Cuối cùng, tên sĩ quan, dường như đang đi kiểm tra theo thông lệ, quay trở lại. Gầm lên giận dữ, hắn quát, “Vác hắn ta lên.” Hắn nhìn lên cơ thể bê bết máu của tôi, và nhìn vệt máu chảy dọc đường tôi vừa bị kéo qua, rồi hắn tát vào mặt hai tên lính gác. “Nếu hắn ta bị mất máu nữa sẽ không còn người để thẩm vấn, và tao sẽ cho hai đứa chúng mày phải chịu trách nhiệm,” hắn nói. Vì vậy, tôi được phép nằm nghỉ ngơi trên mặt đất một lúc, trong khi một trong số những tên lính đi tìm phương tiện vận chuyển, vì tôi là một người to lớn, khá cồng kềnh, và những tên lính Nhật lại rất bé nhỏ và không đáng kể.

Cuối cùng thì tôi cũng bị ném như một bao rác lên một chiếc xe cút kít một bánh, và đưa tới tòa nhà mà người Nhật sử dụng như một nhà tù. Ở đây tôi bị đổ khỏi xe, và một lần nữa tôi lại bị tóm cổ áo, kéo lê đến một căn phòng và vứt ở đó. Cánh cửa bị đóng sầm vào và khóa lại, những tên lính đứng gác bên ngoài. Sau một lúc, tôi ổn định lại mắt cá chân và đặt nẹp lên. Nẹp là những mẩu gỗ có trong phòng giam, thường được dùng trong nhà kho. Để buộc những miếng nẹp, tôi phải xé quần áo của mình.

Trong những ngày tôi nằm trong nhà tù, trong phòng giam đơn độc, chỉ có chuột và nhện làm bạn. Mỗi ngày uống hơn một lít nước và ăn những mẩu thức ăn thừa của lính gác vứt lại, những mẩu thừa mà có lẽ chúng đã cắn, và thấy không hài lòng, rồi nhổ ra. Nhưng nó là thực phẩm duy nhất mà tôi có. Tôi đã bị giam giữ ở đó khoảng hơn một tuần, vì những chỗ xương bị gãy của tôi đang lành dần. Sau đó, vào nửa đêm, cánh cửa phòng giam bật mở một cách thô bạo, và những tên lính Nhật bước vào ầm ĩ. Tôi bị kéo đứng lên. Chúng phải đỡ tôi vì mắt cá chân tôi chưa đủ khỏe để đỡ trọng lượng cơ thể của tôi. Một tên sĩ quan đến và tát vào mặt tôi. “Tên của mày?” hắn nói. “Tôi là một nhân viên của quân đội Trung Quốc, và tôi là tù bình chiến tranh. Đó là tất cả những gì tôi có thể nói,” tôi đáp lại. “NHỮNG  NGƯỜI ĐÀN ÔNG không được cho phép mình là tù nhân. Tù nhân chỉ là cặn bã mà không có quyền. Mày sẽ trả lời tao,” tên sĩ quan nói.

Nhưng tôi không trả lời. Vì thế chúng đánh tôi vào đầu bằng những thanh kiếm của chúng, chúng đấm tôi, đá tôi, và nhổ nước bọt vào tôi. Vì tôi vẫn nhất quyết không trả lời, chúng đốt tôi vào mặt và cơ thể bằng những đầu thuốc lá đang cháy, và đốt diêm giữa những ngón tay tôi. Việc đào tạo của tôi đã không vô ích. Tôi không nói gì, chúng không thể bắt tôi nói. Tôi chỉ giữ im lặng và đặt tâm trí của mình vào những suy nghĩ khác, biết rằng đó là cách tốt nhất để làm điều này. Cuối cùng một tên lính gác lấy báng súng trường thúc mạnh xuống lưng tôi, đánh gục tôi, và làm tôi choáng váng bằng một cú đánh tàn bạo. Tên sĩ quan bước ngang qua tôi, nhổ nước bọt vào mặt tôi, đá cho tôi một cú thật mạnh và nói, “Chúng tao sẽ quay lại, rồi mày sẽ phải nói.” Tôi đổ gục trên sàn nhà, vì vậy tôi cứ ở đó, cũng chẳng có chỗ nào khác để nghỉ ngơi.

Tôi cố gắng hồi phục sức khỏe của tôi một chút. Đêm đó không có sự quấy rầy nào nữa, tôi cũng không nhìn thấy ai ngày hôm sau, cũng không vào ngày hôm sau đó và hôm sau nữa. Trong ba ngày và bốn đêm tôi bị giam giữ không có thức ăn, không có nước uống và cũng không nhìn thấy bất cứ ai cả. Luôn trong tình trạng hồi hộp tự hỏi điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Vào ngày thứ tư, một tên sĩ quan lại đến, một tên khác và nói rằng chúng sẽ chăm sóc tôi, rằng chúng sẽ đối xử tốt với tôi, nhưng tôi, ngược lại, phải nói cho chúng về tất cả những gì tôi biết về Trung Quốc, về quân đội Trung Quốc và Tưởng Giới Thạch. Chúng nói rằng chúng đã biết được tôi là ai, rằng tôi thuộc về giới quý tộc cao cấp đến từ Tây Tạng, và chúng muốn Tây Tạng thân thiện với chúng. Tôi tự nhủ thầm “Phải, chắc chắn chúng đang biểu lộ một hình thức đặc biệt của tình hữu nghị,” Tên sĩ quan cúi chào, quay đi và rời khỏi đó.

Trong một tuần, tôi được đối xử khá tốt, được cho ăn hai bữa mỗi ngày, và được cho nước uống, và đó là tất cả. Cho dù không đủ nước uống, cũng không đủ thức ăn, nhưng ít nhất chúng để cho tôi yên. Nhưng sau đó, ba tên trong số người của chúng cùng nhau đến, và nói rằng chúng sẽ đặt câu hỏi cho tôi, và tôi sẽ trả lời chúng. Chúng đưa một bác sĩ người Nhật đến cùng để khám cho tôi, và nói rằng tôi đang ở trong tình trạng rất xấu, nhưng tôi vẫn đủ khỏe để có thể thẩm vấn được. Anh ta nhìn mắt cá chân của tôi và nói rằng nếu sau này tôi vẫn có thể đi được thì thật là điều kỳ diệu. Sau đó chúng kiểu cách cúi chào tôi và cúi chào lẫn nhau, rồi lũ lượt đi ra giống như một nhóm nam sinh. Một lần nữa cửa phòng giam kêu ầm ĩ phía sau chúng, và tôi biết rằng chỉ lát nữa, trong ngày hôm đó, tôi sẽ phải đối mặt với cuộc thẩm vấn lần nữa. Tôi trấn tĩnh tâm trí mình, và xác định rằng cho dù chúng có làm bất cứ điều gì, tôi cũng sẽ không phản bội đất nước Trung Quốc.

Emil Group (emilgroup.net@gmail.com) tổng hợp từ lobsangrampa.org.
Nguồn: minhtrietmoi.org

[pcig category=doctor-from-lhasa show=category_name,post_title links=post_title hide_empty=true]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *