Chuyện đời Thuận Nghĩa – Hệ lụy – 02

(Tiếp theo phần 1)

Phần 2

Khi dừng chân lại Huế, cũng là lúc tôi dừng bước giang hồ. Chấm hết một “Thời Hoang Dại”.

Ở vào độ tuổi 24, 25 thông thường đó là độ tuổi chín rộ nhất của tuổi xuân thì. Nhưng với tôi thì đã trở thành già cỗi. Cho dù tôi chưa từng trải qua một mối tình nào. Nhưng tuổi thơ nghiệt ngã đã đốt cháy mất thời xuân trẻ của tôi rồi.

Một phần lăn lộn đó đây, tiếp xúc với đủ hạng người, chứng kiến nhiều những mối quan hệ hôn nhân đổ vỡ nên tôi đã hiểu ra được thế nào là nhân tình thế thái.

Một phần cứ ngấm dần lời dạy của Thầy, nên tôi cũng tạm thấu được cái bã độc của tình ái, cái họa hại của sắc giới trong cõi tạm này

Và cái quan trọng nhất là tôi đọc quá nhiều, thượng vàng hạ cám gì cũng đọc, cho nên từ cái sự đọc đó, tôi cũng dần ngộ ra cái “xiêm y” phù phiếm phủ lên trái tim của người đời mà họ thường nôm na gọi đó là Tình Yêu.

Vừa về đến Trung Tâm. Thì người bạn đồng nghiệp, người chị đồng hương kính nể của mình hồi còn học ở trường Dạy Nghề đã hối hả theo chồng dọn vào Đồng Nai. Chị Nguyệt học khóa 2, bên môn Tiện (cùng khóa với Mai Vũ). Chị là hoa khôi của Trường Dạy Nghề, yêu thầy dạy thể dục có biệt danh là Đức Voi. Đức Voi vốn là cầu thủ đá bóng của Quân Khu Bốn, sau về đá cho Sông Lam Nghệ Tĩnh. Cuối cùng hết thời cầu thủ thì về dạy thể dục ở Trường tôi. Chị Nguyệt ra trường, cưới Đức Voi và về dạy nghề ở Huế. Sắc đẹp đằm thắm của gái một con, đã làm xao xuyến biết bao trái tim của tao nhân mặc khách Huế. Kể cả những người có chức cao trọng vọng cũng khó thoát khỏi ma lực mê hồn của Chị. Đức Voi hoảng hốt tránh “lưới trời lồng lộng” đưa vợ con vào Đồng Nai, nói là đi làm huấn luyện cho đội tuyển Đồng Nai chứ thực chất là đi lánh nạn “Tình”.

Ngày tiễn chị ấy vào Nam, khi nghe phong phanh những chuyện tình ngoài luồng “hôn nhân” của chị, tôi hỏi:

– Răng chị lại rứa hè, răng lại rứa hè.

Chị mỉm cười xoa đầu tôi nói:

– Tình yêu là rứa đó, mai mốt dính vô rồi mới biết lễ độ, khi nớ khỏi trách chị hỉ.

– Nỏ cần, nỏ cần, em ẻ vô yêu. Yêu mà khổ rứa, yêu mần chi. Em thà nỏ chộ quan tài, chứ không thèm đổ lệ.

Tôi đã khiếp tình yêu trai gái.

Thằng Hải, là bạn thân người Đồng Hới, học Nguội khóa 6, hắn da trắng như trứng gà bóc, tướng to con đạp trai nhìn rất phong độ, chỉ tội là hơi mềm yếu chút xíu nên mọi người ta thường gọi hắn là Hải Bạc. Hắn tốt nghiệp sau tôi, nhưng về dạy ở Trung Tâm trước tôi 1 năm.

Hắn và cô giáo Hạnh ở trường Nguyễn Chí Diễu kế bên làm nên một thiên tình sử mà dân giáo dục Huế gọi là “Tình Yêu 8 Lầu”.

Trung Tâm Dạy Nghề tọa lạc ở 11 đường Đống Đa, dân Huế gọi là đường Hàng Đoác. Trường này vốn xưa kia là một Tiểu Chủng Viện của dòng Cứu Thế. Sau giải phóng, không biết vì sao Tiểu Chủng Viện này lại bị tịch thu. Nghe đồn rằng hồi giải phóng Huế, trong Tiểu Chủng Viện này có một tiểu đoàn quân lực cộng hòa chống chọi lại dữ dội lắm, cho nên khi giải phóng mới có căn cứ để tịch thu. Tiểu Chủng Viện này là một ngôi trường rất khang trang, được kiến trúc xây dựng rất hiện đại, nó còn sang trọng bề thế, rộng rãi hơn cả Trường Đại Học Tổng Hợp Huế, đối diện bên kia đường nữa.

Tiểu Chủng Viện có 3 tầng, thêm một sân thượng rộng bát ngát dùng để đậu máy bay trực thăng nữa là 4 tầng.

Sau này Tiểu Chủng Viện chia thành hai, một bên là Trung Tâm Hướng Nghiệp đặt dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, một bên là trường phổ thông cơ sở Nguyễn Chí Diễu. Chiều chiều khi tan lớp, các Thầy cô giáo hay lên sân thượng này hóng mát. Cô giáo Hạnh một lần lên đó chơi, vô tình để rơi chùm chìa khóa xuống, theo phản xạ, cô nhoài người theo để túm chìa khóa, và rơi bộp một cái từ tầng 4 xuống sân cỏ. Vừa rơi từ tầng 4 xuống, cô đã đứng dậy phủi quần leo lên hóng mát tiếp, ngày hôm sau vẫn đi dạy bình thường, coi như không có chuyện gì xảy ra.

Đến lượt thằng Hải Bạc, hắn dính với cô Hạnh. Gia đình hắn không đồng ý, nói cô Hạnh không nghiêm túc, lăng nhăng. Tổ chức hai trường cũng không đồng ý. Vậy là hắn ăn một nắm lá trúc đào, để lại một bức thư tuyệt mệnh, lên tầng thượng nhảy xuống sân bê tông tự vẫn. Không biết sao lần này hắn đã cố tình nhảy xuống phần sân xi măng mà cũng không hề hấn gì. Chân tay vẫn nguyên vẹn, không một xây xát nhỏ, chỉ dập nội sơ sơ phải vào viện hút máu bầm, nằm hai ngày là ra đi dạy bình thường.

Chuyện mối tình 8 lầu của Hải- Hạnh cộng thêm rất nhiều lần học sinh rơi từ các tầng lầu xuống, kể cả rơi từ trên tháp chuông cao mấy chục mét xuống, mà không một ai bị tổn thương gì, ai cũng nhăn răng khoẻ mạnh, chẳng hề hấn gì hết. Người ta đồn đại rằng đó là nhờ Đức Mẹ nâng đỡ. Huyền thoại về Tiểu Chủng Viện, người rơi lầu không bao giờ chết, cho đến mãi sau này tôi về thăm lại Huế, những tình huống kỳ lạ ấy vẫn không ngừng bổ sung thêm bộ “sưu tập” của mình trong sự kinh ngạc của người đời.

Lúc tôi về nhận nhiệm sở, thì Hải Bạc mới từ nhà thương về. Hắn nhe răng nhìn tôi cười xin lỗi nói:

– Hẹn đón anh về nhà ngày hôm qua, nhưng có chuyện không đón được, mong anh thứ lỗi.

– Chuyện chi, chuyện mi nhảy lầu phải không? răng mi ngu rứa

– Có lẽ vì ma xui quỉ khiến hay răng đó, chừ tỉnh rồi. Nhưng theo anh thì em mần răng chừ hè ?

– Mi yêu thì mi lấy, có phải bọ mạ mi lấy mô mà sợ. Sướng khổ chi mi chịu. Cái chuyện cỏn con nớ mà không giải quyết nổi, để rồi tính chuyện tầm phào, chán mi thiệt.

Hải bỏ qua tất cả mọi lời đàm tiếu, mướn hội trường Trung Tâm làm một đám cưới kiểu Công Đoàn, hai đứa về sống chung với nhau trên một căn hộ tầng 3 của Trung Tâm.

Ở với nhau chưa được tròn năm, đã thấy nhấm nhảy, chửi bới gây lộn nhau tùm lum. Tôi ngửa mặt lên trời than. “Ôi tình yêu, ôi tình yêu…tình yêu đã vượt qua dư luận, vượt qua cả cõi chết, mà còn thế đấy”

Tôi kinh sợ tình yêu trai gái từ đấy.

Tự trang bị cho mình một tấm “lá chắn” kiên cố trước sự cám dỗ của Tình Yêu. Tôi và thằng Hội trở thành đôi bạn thân, nhong nhong đi về, phớt lờ những cô gái chân dài.

Thích thì tới một quán cà phê nào đó có gái đẹp phục vụ, nhâm nhi cà phê và ngồi ngắm kiệt tác của thiên nhiên và làm thơ. Vô tư mà an lạc.

Một hôm thằng Hội, báo cáo kế hoạch “Phủ Xanh Đồi Trọc”, một chương trình có tầm cỡ Quốc Gia của phòng giáo dục Huế. Chương trình có tầm chiến lược lâu dài trong việc giáo dục Năng Lượng và Môi Trường trong trường học. Đây là một ý tưởng siêu việt của cái đầu lãnh đạo tài ba của ông Lê Phước Thúy, mà lúc bấy giờ ông là trưởng phòng giáo dục Huế, kiêm phó chủ tịch thành phố Huế. Ông là một người cực kỳ thông minh, là một trong những lãnh tụ của phong trào sinh viên học sinh Huế, cùng thời với Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khoa Điềm….. Ông Thúy là một nhà chiến lược đại tài, sự đóng góp của Ông trong ngành giáo dục sau giải phóng ở tỉnh Bình Trị Thiên không nhỏ. Chính Ông đã nhìn ra được tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường trong học đường. Trong khi đất nước đang nhộn nhạo thời kỳ đổi mới, thì ông đã nhìn ra được hiểm họa của việc tàn phá môi sinh của thời đại phát triển công nghiệp ở tương lai. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ Giáo dục học ở Ấn độ, với đề tài là “Giáo dục năng lượng và bảo vệ môi sinh trong trường học”.

Chương trình “Phủ xanh đồi trọc” và “Giáo dục năng lượng trong trường học” đã được ông thực nghiệm và phát triển ở các trường học trong khu vực Huế.

Chính chúng tôi, Hội, Cẩm Vi, Nguyễn Thanh Phúc, Nguyễn Văn Hội (Hội Điện) dưới sự chỉ đạo của Ông cùng với sự tư vấn của một tiến sĩ năng lượng Pháp, đã hoàn thành một mô hình phát điện sinh học, và sản xuất khí đốt tự nhiên từ hầm Biogas (hầm phân hủy rác, phân thải và cỏ). Công trình này sau này được Bộ Giáo Dục chọn và tổ chức Hội Nghị Giáo Dục Năng Lượng Trong Trường Học Lần Thứ Nhất vào năm 1986 tại Trung Tâm.

Rất tiếc vì ông Thúy có tính ngang, không chịu sự kiềm chế và “quản thúc” của Đảng Bộ. Nên những công trình này cũng bị chìm theo sự nghiệp của Ông , khi Ông bị hạ bệ vì suy nghĩ và việc làm của Ông đi quá sớm trước thời cuộc.

Lại nói hôm thằng Hội báo cáo Kỹ thuật ươm trồng đào lộn hột cho các thầy cô giáo dạy sinh vật trên toàn địa bàn thành phố Huế. Kế hoạch phủ xanh đồi trọc trung du Huế bằng cây đào lộn hột, nếu hồi đó được đầu tư đúng mức có lẽ bây giờ miền trung du Huế đã xanh rờn những rừng cây có giá trị kinh tế cao này rồi.

Lúc nghỉ giảo lao, Hội hớt ha hớ hải chạy đi tìm tôi:

– Nì nì, có một cô giáo hay lắm mi ạ, làm tau phải ngậm hột thị mấy lần, nên báo cáo không suôn sẻ.

– Răng, răng? đẹp tàn bạo lắm hay răng mà mần cho mi thất thần rứa.

– Nỏ biết đẹp không, nhưng mà mặc bộ bà ba đen, tóc bối, mặt tròn xoe, nhìn thánh thiện lắm, Huế lắm.

– Trời, tưởng ra răng, chứ Huế lắm, thì thiếu chi, ra đường đi mô mà nỏ gặp Huế.

– Không phải, Huế ni là Huế nguyên sơ, Huế không lai tạp, nói túm lại là mê hồn.

– Mi nói Huế nguyên sơ, thì phải mặc áo tím chứ mang bà ba đen thì có khác chi quạ đội cầu ô thước mà mê hồn với chẳng mê xác.

Hội tức tối bỏ đi, vì tôi không thèm để ý đến lời hắn kể, cứ căm cụi gò bức phù điêu bằng đồng, để làm giáo cụ cho bộ môn gò mỹ nghệ.

Ngày hôm sau, đến giờ giải lao, Hội lại chạy đến tìm tôi, nói:

– Đi, đi, đi với tau, tau giới thiệu mi với em, em đang đứng thơ thẩn một mình trong hành lang như đang tìm ai đấy.

– Thì mi đi đi, thích thì tấn tới, mắc mớ chi tìm tau.

Hội thở dài buông tầm mắt thẫn thờ nhìn về hướng sân vận động. Thấy thái độ của hắn vậy, tôi chợt chạnh lòng, hắn lại nhớ Yến. Cô gái bị bắn tử hình dưới sân vận động vì làm Thơ.

Tôi miễn cưỡng theo hắn đi vào hành lang của hội trường. Hội dắt tôi đến giới thiệu với người con gái mà hắn cho là Huế lắm. Hắn trịnh trọng giới thiệu :

– Đây là bạn anh, ông đồ của thế kỷ 20

Tôi nhìn cô gái mà Hội giới thiệu thõng một câu

– Mi mần chi đây, O có khoẻ không (O tiếng Huế chỉ bà Cô lớn tuổi).

– Em đi dự hội thảo ươm trồng đào lộn hột, mấy bữa ni đến đây để ý mà không thấy anh. Mạ em vẫn rứa.

– Tau mần việc dưới xưởng rèn, mắc mớ chi lên đây mà gặp- Nói xong tôi quay sang Hội- Hai đứa bay nói chuyện hỉ, tau xuống mần việc đây.

Người con gái “hớp hồn” thằng Hội chính là Phượng. Phượng vừa tốt nghiệp khoa Sinh trường Sư Phạm Huế và đang dạy học ở trên Tuần. Phượng là con gái duy nhất của một bà Cô là bạn thân của Cô ruột tôi. Là bạn cùng học hồi phổ thông với con trai thứ hai của Cô tôi, bọn nó thuộc lớp nhỏ, tôi biết Phượng từ hồi cô ấy đang ở truồng. Hồi nhỏ Phượng đen đúa, lúc nào cũng buộc một nhúm tóc vàng hoe trên đầu, mặt lèm nhèm, mũi dãi thò lò, và hay khóc nhè. Hồi ấy tôi ghét Phượng lắm. Tôi có tuổi thơ đầy bão tố, nên rất ghét những đứa trẻ nhõng nhẽo được bố mẹ chiều chuộng.

Khi về lại Huế, có gặp Phượng mấy lần bên nhà Cô tôi. Hai gia đình vẫn qua lại chơi thân với nhau như thời khói lửa loạn lạc. Thấy Phượng lúc đó đã trổ mã, trở thành một cô gái xinh đẹp, hấp dẫn, nhưng tôi không mấy để ý, vì tôi đã trang bị cho mình một tấm lá chắn kiên cố chống lại sự cám dỗ sắc dục.

Tôi chỉ bị chấn động, bị Phượng khuất phục khi Phượng được Mẹ sai mang đến cho tôi cái cặp lồng phở mà Mẹ Phượng nấu vào dịp cuối tuần. Mẹ Phượng trò chuyện với Cô tôi, nghe Cô tôi kể lại thời thơ dại của tôi, nên cũng mủi lòng thương hại tôi. Sợ tôi mới về Huế cô đơn lạc lõng, nên thỉnh thoảng nấu món gì ngon đều sai Phượng mang đến cho tôi một ít.

Lúc Phượng đến nơi ở của tôi, thấy tôi nằm ngủ trên đống sắt vụn trong cái kho xép của xưởng rèn, phía dưới mấy tấm ván kê lại thành giường là chất tầng tầng lớp lớp sách sưu tầm của tôi. Phượng lật nắp vung cái “niêu thần” của tôi, thấy còn một bát cơm nguội và một dĩa muối ớt, thì òa lên khóc nức nở, miệng lẩm bẩm :

– Răng mà khổ rứa, khổ rứa tê.

Thấy Phượng khóc tôi chống chế nói cho Phượng yên tâm:

– Tau cũng được phân phòng ở đó chứ, nhưng ở chung với thằng Hải Bạc, chừ hắn cưới vợ rồi, tau nhường phòng lại cho hắn. Mình độc thân ở mô mà nỏ được.

Phượng không nói gì, tấm tức khóc, nhảy lên xe đạp về, nước mắt vẫn dàn dụa.

Tôi mồ côi Mẹ từ nhỏ, ra đời lưu lạc đó đây, không biết gì đến tình Mẫu Tử, nay có người thương cảm, nhẹ nhàng êm ái nên chợt động lòng. Từ đó tôi để ý đến Phượng, và tình yêu đến bao giờ không hay.

Tấm lá chắn của tôi bị nát vỡ tan tành, tôi bị lôi cuốn vào mối tình đầu với Phượng. Một mối tình oan nghiệt chan đầy nước mắt của Phượng cùng máu của tôi và cô ấy….

***

Xưa có câu “nhân tại giang hồ thân bất tự kỷ”, có nghĩa là “người ở trong giới giang hồ, không thể tự làm chủ được, cuộc đời do dòng xoáy của thế cuộc đưa đẩy”. Tôi nghĩ rằng câu nói đó cũng đúng với tình yêu.

Hồi trẻ khi chưa biết yêu, tôi cũng đã nghĩ như vậy rồi. Tôi nghĩ tình yêu cũng là một thứ giang hồ, mà nơi đó người ở trong cuộc không thể làm chủ được mình. Sau này nghiệm ra thấy cũng không sai là mấy. Bởi vậy tôi có làm bài thơ Giang Hồ, trong đó có đoạn viết


Chưa xuống núi đã thau vàng gác kiếm
Bởi vì em thật trọn đủ Giang Hồ
Có thượng thừa giữa quần hào nức tiếng
Thiếu em rồi cũng tột đỉnh bơ vơ.

Tôi xem tình yêu như một cuộc giang hồ. Và chính tôi chưa đủ công lực để xuống núi, chưa đủ thâm hậu để đối đầu với giông bão của tình yêu, nên đã đành thúc thủ sớm gác kiếm, khi chưa một lần xuất trận. Bởi tôi biết rằng dù có đủ công lực thượng thừa đi chăng nữa, thì cuộc hợp tan mai hậu cũng để lại cho ta một trời bơ vơ mà thôi.

Phượng là mối tình đầu của tôi, nhưng tôi không phải là mối tình đầu của cô ấy.

Phượng đã có một mối tình trước đó với người giám đốc trẻ của công ty cơ khí mồng 3 tháng 2. Người giám đốc này trước đó yêu một cô gái khác, sau đó gặp Phượng thì chia tay. Cô gái kia uất hận vì bị phản bội nên tự vẫn dưới hồ sen trước cửa Ngọ Môn.

Cái chết của người con gái ấy trở thành nỗi đau, nỗi ăn năn, uất ức của Phượng.

Kết thúc mối tình đó, Phượng cũng giống như tôi cũng tự mọc những cái gai lởm chởm, như con nhím lông xù, xù lông lên để chống chọi với sự cám dỗ của tình yêu. Phượng cũng giống như tôi, sắm cho mình một cái lá chắn, và cứ ngỡ nó kiên cố vô địch thiên hạ.

Chẳng thể có mãnh lực nào xâm phạm tới và lay chuyển nổi.

Ai dè những cái lá chắn của chúng tôi, mềm nhũn như bọt bèo hoang dại, khi chúng tôi sáp cận vào hồn nhau.

Niềm vui hạnh ngộ của hai tâm hồn trẻ chưa kịp đơm hoa trổ lá, chúng tôi vừa mới nhận ra nhau trong cuộc đời đầy sự mù mờ khuất lấp, để tấp tễnh làm một cuộc “dời non lấp bể” là hóa quyện vào nhau mà thăng hoa vào cảnh giới chất ngất của ân tình, thì giông bão đã ập tới.

Nếu như không có sự cay đắng oan nghiệt ấy có lẽ thời gian tiếp cận nhau của chúng tôi sẽ làm cho chúng tôi hiểu về nhau hơn. Và biết đâu khi đã nhận biết ra nhau thật sự, chúng tôi sẽ tự rã đám trong một ngày nào đó, như những mối tình khác của những người mới quá độ trăng tròn.

Đâu ngờ Mẹ của Phượng bàng hoàng ngây dại khi biết đứa con gái rượu ngoan hiền xinh đẹp của mình lại đem lòng yêu một kẻ khố rách áo ôm. Bà không thể tưởng tượng nổi, đứa con gái học thức và trí tuệ của bà. Cô “công chúa” kiều diễm của giới thượng lưu mà bà đang trôi nổi trong đó lại định trao thân gửi phận cho một kẻ vừa mới ” rửa tay gác kiếm giang hồ”.

Người phụ nữ, góa bụa từ lúc mới 23 tuổi, thủ tiết thờ chồng, nuôi con gái khôn lớn thành người. Không thể nào đứng nhìn con gái của mình rơi vào “cạm bẫy” của trái tim non nớt. Bà đã nổi cơn thịnh nộ. Và tai ương bắt đầu đổ ụp lên đầu chúng tôi.

Phượng là niềm kiêu hãnh của bà, là tất cả hạnh phúc trên thế gian này mà bà có được. Là mục đích cuối cùng của bước đường danh vọng và quyền lực của bà. Phượng sẽ là tương lai, là “dư âm” hình ảnh ngọc ngà châu báu của bà được “tái sinh” lại trong tuổi xế bóng về chiều.

Tiếc thay, bà không thể đủ kiên nhẫn để chờ đợi những trái tim non dại vồ vập lấy nhau ở thuở ban đầu. Rồi một lúc nào đó chúng sẽ tự va vấp lấy những đam mê khác mà “hồi đầu là ngạn”. Phượng sẽ trở về với Bà nguyên nghĩa là đứa con yêu.

Cách cư xử của bà đã đẩy tình yêu mới nảy nở giữa chúng tôi, vốn đã lãng mạn như sự lãng mạn của những mối tình mới chớm khác, đi vào chỗ càng lãng mạn hơn nữa. Vì chúng tôi ngoài việc muốn thăng hoa hóa quyện vào nhau trong sự vĩnh cữu, chúng tôi còn có sự “hoạn nạn có nhau”, còn được đặt lên bàn cân “chữ tình chữ hiếu bên nào nặng hơn”, rồi bị ép cưỡng bước ra giữa ranh giới của các ngã đường phải chọn “tình đời, nghĩa đạo”, “bên nghĩa, bên tình”, “bên sự nghiệp bên tình yêu” v..v…

Trong tình huống đó, tình yêu giữa tôi và Phượng đã vô tình bị đẩy đến một cảnh giới cao hơn. Nó không còn là cảnh giới thường tình của sự rung cảm của trái tim, của sự hưởng thụ, sự tiếp nhận “phồn hoa” của cảm giác yêu đương. Cảnh giới mà Mẹ của Phượng “đoạ đày” chúng tôi đến đó, nếu chúng tôi chấp vào bản ngã thì sẽ trở thành “địa ngục”, nếu chúng tôi rời xa bản ngã nó sẽ là “thiên đường”.

Cả tôi và Phượng đã chọn “thiên đường”. Đã chọn con đường quên mình vì người khác.

Trong hoàn cảnh nghiệt ngã đó, cả tôi và Phượng chỉ còn lại một ước muốn duy nhất, làm thế nào để cho người kia đừng bị khổ lụy. Cho người kia đừng buồn, đừng phải rơi lệ. Chỉ cần làm cho người mình yêu có được nụ cười, có niềm vui, dù bằng bất kỳ giá nào chúng tôi cũng đánh đổi.

Tình cảnh ngặt nghèo và con đường tình yêu chông gai mà chúng tôi đã chọn, đã đưa tình yêu của chúng tôi đến cảnh giới vị tha nhất, đã biến tình yêu trai gái thường tình thành một sự dâng hiến tột cùng của cảm giác.

Chúng tôi không còn có thời gian để yêu nhau, chỉ còn có thời gian để vì nhau.

Những chiếc áo thấm đầy máu oan cừu của Phượng, phun ra từ mũi từ mồm do bị đánh đập và cầm cố, tôi cầm nó trên tay và giữ mãi cho đến tận bây giờ không làm chúng tôi tủi hổ và uất ức. Bàn thờ nhà Chị tôi bị lật nhào, Cô tôi bị mắng chửi. Tôi ba lần bảy lượt bị xã hội đen đòi xóa sổ, mấy lần bị công an mời lên vì bị gài bẫy vu khống. Thậm chí Ông Lê Phước Thúy cũng bị áp lực từ trên xuống là phải sa thải tôi…tất tần tật những vụ việc đó chỉ tổ làm cho tình yêu chúng tôi càng thêm phần lãng mạn và sắt son mà thôi, chứ không thể nào lung lạc được tôi, người mà từ 6,7 tuổi đã biết sống còn với sinh tử của đời sống.

Cho đến một lần, khi tôi lẽo đẽo theo sau hai mẹ con Phượng bên kè đá dọc Hương Giang nơi công viên Lê Lợi. Phía trước Mẹ của Phượng vật vờ như một bóng ma hời loạng choạng bước đi, thỉnh thoảng lại thẫn thờ đứng lại nhìn xuống dòng sông cuộn sóng, phía sau Phượng vừa đi theo vừa tấm tức khóc, vừa hời hời luôn miệng gọi “Mẹ ơi..mẹ ơi…”. Sau cùng là tôi, vứt dép đi chân trần, cởi áo cầm tay đi theo sau, chỉ có một việc là chờ ai nhảy xuống sông trước thì vớt người đó lên.

Chúng tôi cứ như những bóng ma như vậy đi lại trên đoạn đường ấy cho đến lúc gần tàn đêm. Khi đến gần bến Da Vàng gần đài truyền hình Huế, Mẹ phượng ngồi thụp xuống và ôm mặt khóc nức nở, bà khóc to, khóc dòn dã như một đứa trẻ con lạc mẹ. Phượng đến bên ôm chầm lấy mẹ, hai mẹ con ôm nhau ngồi bên kè đá mà khóc, khóc trong tiếng “con ơi” và “mẹ ơi”….

Tôi choáng váng và cũng thẫn thờ ngồi lại trên một ghế đá gần đấy.

Trời đất như sụp đổ hết lên tôi. Tôi như lắng nghe được từng tiếng vụn vỡ loảng xoảng, lanh canh nhói buốt trong hồn mình. Tất cả mọi sự khổ ải, oan nghiệt trước đó bỗng chốc trở thành vô nghĩa hết, khi tôi bằng hoàng cảm nhận ra được thế nào là tình mẫu tử.

Hồi đó Thầy tôi đã mất, khi theo các quan chức Phật giáo Huế vào dự hội nghị Phật Giáo Thống Nhất trong chùa Vạn Hạnh ở Sài Gòn.

Thầy tôi tử nạn cùng mấy trăm người Phật tử và Tăng lữ bị đầu độc ở đó.

Thầy tôi đã mất, Chùa tạm thời bị niêm phong. Tôi không còn ai để nương tựa tinh thần. Ấn tượng hãi hùng về cái đêm “rùng rợn” đó đã làm cho tâm tư vụn nát.

Tôi xin nghỉ phép 3 ngày và đi lên núi. Không còn chùa để nhập thất sám hối như mọi lần phạm lỗi khác. Tôi tìm lên con đường đồi từ lăng Khải Định đi Ngã Ba Tuần. Ở trên đoạn đường đó có một ngọn đồi rất cao, trên đó có một bức tượng Bồ Tát Quan Âm xây trên đỉnh đồi. Bức tượng này cao lớn và rất hùng vĩ, tượng Phật Bà Quan Âm quay mặt ra phương Bắc. Nghe nói đó là bức tượng do vợ con và thân quyến của những người lính Cộng Hòa, góp tiền tu tạo nên, khi chồng con của họ đang ở ngoài Quảng Trị trong chiến dịch “mùa hè đỏ lửa.”

Đoạn đường từ lăng Khải Định đi Ngã Ba Tuần là đoạn đường ghi lại nhiều dấu ấn giữa tôi và Phượng. Vì đó là đoạn đường khá kín đáo trên đường đi dạy của Phượng, và chỉ ở đó tôi với Phượng mới có cơ hội gặp nhau trong sự kiểm soát ngặt nghèo của mẹ Phượng.

Tôi đến quì dưới tượng Bồ Tát Quan Âm suốt ba ngày ba đêm. Để phá cái công án Thiền: Tình Mẫu Tử.

Cái công án Tình Mẫu Tử mà tôi tham thiền đột phá trong 3 ngày đó không những đã giúp tôi và Phượng giải thoát khỏi sự ngang trái ác nghiệt của tình yêu mà còn giúp tôi đột phá được cảnh giới Hóa Chẩn ở trong Y đạo. Cái công án đó làm cho đời tôi bước sang một bước ngoặt hoàn toàn mới.

Sau này nhớ lại việc này tôi có làm bài thơ Huyền Thoại Em vào lúc tôi tròn 49 tuổi:

HUYỀN THOẠI EM

Có lẽ bốn mươi chín năm về trước
Trong một buổi nồm nam. Mẹ mang thai
Nên giờ đây giữa dòng xuôi ngược
Ngu ngơ …
Có anh thổi lạc loài

Anh xào xạc khua cánh rừng nuối tiếc
Tìm hương Em về kết lá trăm năm
Em ngậm vị
Xanh cội nguồn lộc biếc
Nghiêng đại ngàn, nâng dáng núi xa anh.

Em thăm thẳm
Gió anh về cô lẻ
Níu rẻo buồn
Hiu hiu với trong xanh
Có một lần ngỡ mái rừng là Mẹ
Anh về trên nhành lá..
..ngủ ngon lành.

15.09.08

Cũng trong thời gian này, qua cái công án “mẫu tử” ấy, tôi có viết bài thơ Em Bỏ Cuộc Tình, mà sau này có in lại trong tập “tháng hai có ba mươi ngày”. Bài thơ này nói về bước đi tương lai cho mối tình của chúng tôi, khi tôi đã ngộ ra điều mình cần phải làm vì tình Mẫu Tử.

Bài thơ lấy ý của lễ Vu Lan làm đối trọng của người Mẹ

EM BỎ CUỘC TÌNH

Em bỏ cuộc tình, tôi bỏ cuộc người.
Mắt môi ngày ấy nguyên màu thời gian.

Em bỏ cuộc tình, tôi bỏ cuộc tôi.
Một lần bên mé Vu lan,
Cho ai cài áo, em ngồi tụng kinh.

Em bỏ cuộc tình, tôi võng vành nôi,
Đóa hoa màu trắng cài ngang lưng trời.

Em bỏ cuộc tình, tôi bỏ cuộc say
Câu thơ dạo đó nhuốm thành khói mây

Em bỏ cuộc tình, tôi níu cuộc chay,
Vuốt dòng Thủy Sám gột lên mắt ngày.

Sở dĩ tập thơ tình đầu tay của tôi có tên là “Tháng hai có ba mươi ngày” là vì Phượng sinh nhằm vào tháng hai, mà tháng hai thì không bao giờ có 30 ngày, chỉ có 4 năm có một lần 29 ngày thôi. Không biết vì sao lúc làm giấy khai sinh, người ta nhầm lẫn thế nào mà ghi cô ấy sinh ngày 30 tháng 2. Giấy tờ tùy thân của cô ấy nghe nói đến bây giờ vẫn ghi như vậy. Lạ thật!

Trong tập ” Tháng Hai Có Ba Mươi Ngày”, có hết hơn phân nửa là hồi ức về những gì xảy ra trong quá trình tôi đột phá được trong 3 ngày “nhập thất” giữa đất trời dưới tượng Bồ Tát Quan Âm.

Ví dụ mấy bài Đọa Lạc cũng nhắc đến ấn tượng này:

GIẤC MƠ CỔ LỖ SĨ
(Đoạ Lạc 17)
….

Thu roàng roạc cào banh vùng kỷ niệm
Mạn hanh vàng ghé lá rụng tìm nơi
Trố mắt cáo lối quay đầu khuất cội
Giọt rưng rưng hóa cuội sỏi mất rồi

Lối núi xưa khi em về. Nhẹ bước
Trời kết màu thượng cổ trải rừng phơi
Bờ cát đá rong rêu ngày thổ mộ
Rẻo chiều chia Sáng-Tối để thành đôi

Bước chân trần gai đâm ngày bữa nọ
Nẻ múi buồn, nứt nụ nhớ. Còn đau
Cung Thiện Nghệ nhắm hờn vầng Ngọc Thố
Hóa ra mình tên bắn cắm đời nhau

Em tóc xõa cho phấn son đẫm nguyệt
Vén lên tình bới chỏm mộng khơi khơi
Mảnh tương tư chải ngày chưa kịp khuyết
Chuốt sợi sầu đan lưới hứng trăng soi.

Lời song cửa thả rèm che tục lụy
Vó tịch dương gõ lủng mủng ngày về
Hiên hoa khế rớt màu trăng tím tái
Võng góc nhà kẽo kẹt một cơn mê…

Hồi đó tôi đã có ý tưởng theo Thầy xuất gia nhưng Thầy nói tôi còn nặng nợ trần duyên phải trả, nên không cho xuất gia. Bài Đọa Lạc 3 nhắc đến sự “trầm lạc” này

ĐỌA LẠC 3
…..

Tưởng khẻ khàng men bờ Tịnh độ
Nẩy chồi quên về phía Vô ưu
Ai dè còn rưng rức tiếng mõ
Vọng lời yêu đòi nợ oan cừu

Cõng bóng hình qua dòng đành đoạn
Bỏ bên này trỉu nặng bên kia
Nguồn ái chảy, bờ mê chưa cạn
Ta ngu ngơ thèm cõi đi về

Qua công án tôi thấy mình phải gạt bỏ tình cảm luyến ái cá nhân để bảo vệ lấy tình Mẫu Tử của Phượng. Biết vậy nhưng để làm được là cả một đoạn đường đầy kịch tính

…..
Rồi một bữa ta thấy mình kinh dị
Mé bờ yêu quên bỏ lại em rồi
Để phanh phui cả một thời mộng mị
Giữa đục trầm ngao ngán thả tình trôi.

(Kinh Dị)

Cũng đôi khi tình yêu chợt cuồn cuộn dâng lên, tôi muốn phá bỏ đi tất cả, chỉ để được yêu, cho dù phải có nhiều hệ lụy

...
Rồi rứa đó, đêm về vò chăn gối
Nặng tiếng thở dài khao khát lắm yêu thương
Rồi vùng dậy òa trang tình viết vội
Mắt môi nào cháy từng nét thơ suông

Cứ như thể nén nhang thời khấn niệm
Chỉ vì Em thắp mấy nẻo dòng đời
Sương khói ấy quyện hình hài lưu luyến
Đêm bạc lòng ngắm từng mảnh trăng rơi

Là rứa đó có gì đâu mà tụng
Diện mục mình khuất sau lớp son yêu
Kinh vạn quyển cho đạo tràng nghiêng ngả
Bể nhân gian thêm lạc lối truông đèo.

Thà cứ vậy, ta đọa vào cửa quỉ
Lạc bên lề nhân thế đắm trên môi
Thà cứ vậy khoác bùa mê hồ mị
Cõi Vô Minh mới đích thực là đời

(Đọa Lạc 3)

Bài Đọa Lạc 6 thì mô tả cái phút chuyển dịch tâm tư từ sự đổ vỡ của nhận thức về tình yêu, thông qua tứ thơ nói về sự luyện công lúc “nhập thất” phá công án:


Chân đảo nhịp lạc mấy đường quyền phổ
Tình hoang đau khởi lấp buổi huyền công
Em. Từng chữ lấn mê dòng Lục-tự
Qui tức trầm thâu nhiếp một hừng Không

Như muốn hét tới ngàn lần Sư-tử- hống
Cho nát tan toạc rách cả hồn yêu
Trả lại anh thủa chân truyền tĩnh lặng
Chớ đọa đày, phách nhớ quá lêu bêu.

(Đoạ Lạc 6)

Đã có khi ngửa mặt nhìn trời, nhìn đất để than thân trách phận, nhưng cuối cùng cũng tìm ra được “chân lý”. Cái “chân lý” về Em đâu cần phải là một thực thể bằng xương bằng thịt nào đó. Cái “Em” để mình yêu, mình thương, mình vần vũ trong đó như một “cuộc chơi” cũng thể được nhào trộn bằng mây gió đất trời mà nên. Chính cái “chân lý này” đã “hun đúc” nên một “Em” lồng lộng khác mà suốt đời tôi thờ phụng. Nó không còn là Phượng nữa mà là một “Em” hoàn bích, hoàn mỹ của Yêu và Thơ:


Đừng trách thượng đại thiên thu
Mà ghê cái phút tù mù nắm tay

Trộn đêm xáo với nắng ngày
Trộn trăng với gió đem bày cuộc chơi

Một hôm ngửa mặt dòm trời
Thấy tà mây quấn trắng lời tang đau.

(Nẻo Thu Khác)

Đại khái là vậy!

Phải công bằng mà nói, tôi phải cảm ơn Phượng và Mẹ của Phượng.

Bởi những ngặt nghèo mà mẹ Phượng đã đẩy tôi vào đó, đã giúp tôi có 3 ngày “Thủy Sám” dưới tượng Quan Âm. 3 ngày đó đã cho tôi rất nhiều thành quả, nhiều ấn chứng mà đôi khi cả một đời tu hành không có nổi. Trong đó cái cực kỳ trân quí nhất là tôi khai mở được thuật Hóa Chẩn. Một thủ thuật chẩn bệnh rất diệu vợi, mà sau này đã giúp tôi không ít trên con đường lập nghiệp..Có lẽ vì cái ấn chứng ấy có được từ việc phá công án “Mẫu Tử” liên quan đến Phượng cho nên dấu ấn về Phượng trong tôi khó có thể phai nhạt chăng….

***

Ngày theo Thầy học thuốc, khi ông giảng về Tứ Chẩn xong, ông còn nói thêm, phàm khi chẩn bệnh, người thầy thuốc phải biết đau cái đau của con bệnh, lo lắng cái lo của con bệnh, thì khi đó mới đi đến chỗ tột cùng của sự cảm thông, có vậy mới đưa việc tứ chẩn đến diệu dụng được. Tôi hỏi, mần răng mà mình đau được cái đau, lo được cái lo của con bệnh. Thầy nóí, thì hóa thân mình thành con bệnh, để mà thấm cái đau của họ, mà lo nỗi lo của họ chớ răng. Hồi đó tôi còn trẻ dại, tính tình hay bông lơn, cộng thêm cái cái chuyện nghiền chuyện chưởng, nên khi nghe Thầy nói thế, tôi hỏi lại, rứa là y chang như phép phân thân của Tề Thiên Đại Thánh phải không, nhổ một sợi tóc gáy hô biến là biến thành hột kim đan lăn vô bụng bệnh nhân chứ chi nữa. Thầy gõ lên đầu tôi nói, mi nói chơi rứa chớ không trật mô, đúng rứa, đúng rứa, đó là phép Hóa Chẩn phải có khi dụng phép Vọng, Văn, Vấn, Thiết (Nhìn, Nghe, Hỏi, và Bắt Mạch) trong Tứ Chẩn.

Tôi hiểu ý Thầy tôi nói gì, nhưng vẫn chưa thấu ngộ được ý chỉ đó.

Khi bỏ phố, lên Tuần ngồi dưới tượng Quan Âm phá công án “Mẫu Tử”, tôi mới có cơ hội tham thấu phép Hóa Chẩn của Thầy.

Tôi phân tâm, đặt mình vào hoàn cảnh mẹ của Phượng để phân tích trạng thái tâm lý sẽ xẩy ra như thế nào. Tôi giả sử tôi là bà ấy, để có được cảm nhận, khi người con gái yêu, hòn ngọc của đời mình mà mình suốt đời thương yêu, và hy sinh tận tụy vì nó, đột nhiên đem tất cả tài sắc đi hiến dâng cho một kẻ khác, mà kẻ đó lại một đứa cù bất cù bơ, không nhà không cửa, nghèo kiết xác, kẻ đó lại có một quá khứ bất hủ trong giới “giang hồ”. Nhờ sự phân tâm này, tôi mới hiểu được vì sao Mẹ của Phượng lại có những hành động tàn bạo khi muốn ngăn cản tình yêu của chúng tôi. Tôi mới hiểu vì sao bà ấy, thà ra khỏi Đảng, không cần làm đại biểu Quốc Hội, và tự nguyện từ chức Chủ Nhiệm Ủy Ban Bảo Vệ Bà Mẹ và Trẻ Em tỉnh để ngăn cản cho bằng được quan hệ giữa tôi và Phượng.

Tôi phân thân, thử đặt mình vào hoàn cảnh của chính Phượng. Tôi mới thông cảm được với nỗi đau cùng cực của người con gái khi bị đặt vào tình huống “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn”. Từ sự thông cảm đó, tôi đã biết loại ra khỏi tình yêu, sự chiếm đoạt, sự sở hữu thuộc về nhau. Tôi không đồng hóa cái lý “chiếm hữu” trong tình yêu thành cái cảnh giới “thuộc về nhau”, “tất cả cho nhau” và vì nhau. Chỉ cần có nhau là đủ, là cái cảnh giới rất thấp, “vị kỷ” nhất trong sự rung động và hòa hợp của Tình yêu.

Tôi thoát ra khỏi sự tự ti, thoát ra khỏi thế tự kỷ, để đứng bên ngoài sự sân hận của mình, đứng bên ngoài đam mê của mình, tôi hóa thân thành một người khác để quan sát nhìn nhận lại chính mình. Khi đó tôi mới cảm nhận ra được mình là ai, mình có cái gì, mình thuộc typ người gì. Qua đó tôi mới hiểu rằng quả thật tôi không phải là loại người vì gia đình, tôi không có lẽ sống vì một gia đình, tôi không thể nào đưa lại cho Phượng hạnh phúc của một gia đình. Tôi không thể nào có sự đảm bảo cho Phượng một cuộc sống huy hoàng và tráng lệ trong hôn nhân được. Tôi không thể nào có thể hóa nhập cái thế bên tình, bên hiếu của Phượng thành một được. Tôi hiểu tôi, tôi biết được những gì xảy ra trong tương lai, tôi không có khả năng bảo kê cho một mối tình “Một mái lều tranh hai trái tim vàng” được. Cái viễn cảnh rồi một ngày nào đó, chúng tôi lại phải “cắn xé” lẫn nhau, rời xa nhau, chia tay trong sự bẽ bàng thậm chí có thể là thù hận như những cuộc hôn nhân, những cuộc kết hợp vì tình yêu khác.

Qua sự phân tâm đặt mình vào thân phận của nhiều người khác đó. Tôi đã tìm ra hướng đi cho sự bế tắc của tôi và Phượng.

Khi nghĩ đến lúc rời xa Phượng. Trái tim tôi như quặn thắt lại. Tôi có cảm giác như trong lồng ngực mình, trái tim đang bị những sợi lạt giang bó siết lại như một đòn bánh tét. Tôi thấy hơi thở mình như bị thắt nghẹn, tôi oằn lên trong dãy dụa đau đớn. Tôi có cảm giác máu mình đã ngừng chảy, và trong huyết quản của tôi chỉ còn lại một dòng chảy bằng những chiếc kim. Những chiếc kim đó đang đâm vào từng làn da thớ thịt của tôi.

Cái trạng thái phấn khởi thanh thản khi tìm ra được hướng đi, cộng với cái day dứt cồn cào khắc khoải, nhức nhối của sự chia ly, đã đẩy tôi vào một trạng thái rất hỗn loạn. Sức ép tâm lý, hai dòng chảy bạo ngược đó cứ cuộn xoáy tôi vào một hố thăm thẳm không đáy. Một dòng chảy cuộn tung tôi lên cao, hất tôi lên tới đỉnh cao chất ngất của lòng bao dung, sự hy sinh tận tụy. Một dòng chảy nhấn chìm tôi xuống cái hố đen ngòm của sự tàn phá đổ vỡ khắc nghiệt. Tôi bỗng thấy tâm tư mình lùng bùng, choáng ngợp hãi hùng trước một sự tuyệt vọng vô bờ.

Mắt tôi tự nhiên tối sầm lại, trời đất quay cuồng, chao đảo. Tôi thấy tâm tư tôi, khối óc tôi như một cái bóng đèn thủy tinh cứ lớn dần lên, lớn dần lên trong sự chèn ép căng thẳng. Cái ” bóng đèn thủy tinh” ấy tưởng chừng như lớn mãi ra không có giới hạn. Tôi như mất hết sức lực để chống lại sự chèn ép ấy và gục xuống. Cái bóng đèn thủy tinh khổng lồ ấy bỗng chốc vỡ tung ra, tôi nghe trong tôi có một tiếng nổ dữ dội. Trước khi tôi rơi vào trạng thái hôn mê, tôi vẫn còn cảm giác được từng mảnh vỡ của cái “bóng đèn” ấy găm lổn nhổn vào trong óc não của tôi.

Khi tỉnh dậy sau cơn hôn mê, tôi thấy tâm tư tôi thật bình lặng, một trạng thái an lạc rất lạ kỳ, mà đến bây giờ tôi vẫn không thể nào mô tả và lý giải nổi.

Sau ba ngày ấy tôi về lại phố, trong tâm trạng phấn khởi vui tươi, và nhiên lành không ai có thể ngờ tới.

Chị tôi và mọi người đang lo lắng về sự mất tích của tôi. Họ không ngờ tôi trở về với một con người hoàn toàn khác lạ. Họ không thể ngờ rằng cái thằng mới hôm rồi sầu muộn vì chuyện tình ngang trái, tóc đã điểm vài sợi bạc vì lo nghĩ, nay bỗng nhiên thần sắc sán lạn và rất nhu nhuận.

Trước đây chị tôi và mọi người lo lắng cho tôi, thương cả tôi và Phượng mà không ai dám có lời nào khuyên bảo. Chị tôi chỉ khóc và vuốt tóc tôi than “tội hai đứa bay quá”, chứ không khuyên bảo gì cả. Cô tôi thì nước mắt lúc nào cũng rơm rớm và ngồi thở dài. Nay thấy tôi mất tích mấy ngày, khi trở về lại thấy tâm tư tôi rạng rỡ, miệng lúc nào cũng tủm tỉm cười. Chị tôi nói với mọi người, đừng lo cho hắn nữa, vì nụ cười của hắn đưa lại cảm giác rất bình yên.

Và quả thật mọi chuyện đã bình yên trở lại. Rồi Phượng cũng có người yêu khác, và họ đã làm hôn lễ trong nụ cười mãn nguyện của mẹ Phượng.

Chúng tôi không biết chia tay từ lúc nào, chắc chắn cả tôi và Phượng chưa hề nói với nhau một lời chia tay nào cả, mọi chuyện cứ nhẹ nhàng, nhích từng tý, từng tý một mà thay đổi trong sự bình lặng. Ai cũng nhẹ nhõm thoát ra khỏi con đường cụt đầy chông gai và bão tố đó.

Ngoại trừ thằng Hội, không một ai biết rằng, chồng của Phượng bây giờ là bạn thân của một người tôi quen biết. Và chính tôi là người tạo điều kiện cho hai vợ chồng của Phượng chuyển công tác vào Sài Gòn, và cả hai được nhận vào làm việc ở một cơ quan có khả năng phát triển kinh tế vững mạnh lúc bấy giờ. Ngay cả việc hai vợ chồng được nhập khẩu một cách dễ dàng vào Sài Gòn cũng do bàn tay tôi sắp xếp. Nếu như trong một lần nhập viện vì bệnh áp suất máu cao, Mẹ của Phượng không phát hiện ra người y tá thiện nguyện chăm sóc bà tận tình chu đáo, khi bà chỉ còn lại một mình ở lại Huế là do tôi sắp đặt, để nổi cơn thịnh nộ và xua đuổi cô ấy đi, thì mọi người đều nghĩ rằng tôi đã hoàn tòan không còn quan tâm đến Phượng nữa.

Thật ra, ở trong tôi có một cái gì đó cao hơn, vượt ra ngoài giới hạn của tình yêu đã xoa dịu tôi, chứ hình ảnh của Phượng, tình yêu của Phượng vẫn mãi mãi ở lại bên tôi. Tình yêu đó, cảm xúc đó đã đưa tôi đến mảnh đất linh thiêng và thánh thiện của Thi Ca.

Một công trình khoa học của các nhà bác học khoa Vật Lý Lượng Tử ở Mỹ đã tìm ra được Hạ Nguyên Tử, mới đây họ vừa công bố công trình dựa vào khả năng vận tốc phi ánh sáng của hạt Hạ Nguyên Tử, có thể đưa con người trở về quá khứ, thậm chí còn có thể tác động vào các “điểm” nhạy cảm của quá khứ để làm thay đổi hành trình của Lịch Sử nhân loại. Giả sử nhờ vào hạt Hạ Nguyên Tử, tôi có thể trở về quá khứ, thì tôi cũng không hề muốn có tác động nào để thay đổi lịch sử của đời tôi. Tôi cũng chẳng muốn có tác động “tích cực” nào để tôi và Phượng sẽ được ở gần nhau. Vì tôi biết rằng: con người, họ vốn gần như trăm phần trăm ngộ nhận về nửa còn lại của chính mình. Xác suất tìm ra được nửa còn lại bị thất lạc trong guồng máy của định mệnh vốn không có khả thi, nếu như không nói rằng sẽ chẳng bao giờ có.

Bạn có biết rằng, cái xác suất tìm nửa còn lại của chính mình là bao nhiêu không?. Nó chỉ có xác suất là 1 phần trên 6 tỷ. Có nghĩa là nôm na biết rằng: Trong 1 thành phố như thành phố Hà Nội với khoảng 6 triệu người, thì xác suất ấy chỉ có thể tìm ra khoảng vào độ một cái móng tay, hay độ khoảng 50 sợi tóc của nửa còn lại của bạn mà thôi. Với xác suất 1 phần trên 6 tỷ đó, bạn có nghĩ rằng, bạn là người may mắn, tìm được 1 phần 6 tỷ ấy không. Vậy thì sao bạn lại dễ dàng chấp nhận để gắn bó trọn đời với cái nửa na ná ấy chứ.

Đoạn Kết

Năm trước về Sài Gòn, có một hồng nhan tri kỷ của tôi, biết được Phượng qua Thơ tôi, nhất là qua tập “Tháng Hai Có Ba Mươi Ngày” và bài thơ Có Một Mùa Mây Cũ, cô ấy hỏi tôi có muốn tìm gặp lại Phượng không. Sau gần 30 năm xa cách, tôi cũng muốn biết cô ấy giờ sống ra sao, nên gật đầu. Cô bạn của tôi bằng sự giao tiếp rộng rãi, đã tìm ra và liên lạc được với Phượng. Cô hỏi tôi có muốn gặp Phượng không, tôi lắc đầu, nói chỉ cần biết tin là đủ, gặp lại làm gì, biết đâu sự gặp lại sẽ giết chết Thơ tôi. Cô ấy cho biết đã liên lạc trò chuyện thường xuyên với Phượng. Và cho tôi biết Phượng hình như đã quên tôi, và chẳng còn ấn tượng gì về tôi nhiều lắm. Phượng còn khuyên cô ấy không nên “dây dưa” với tôi, vì tôi không phải là tạng người của gia đình và hôn nhân.

Người bạn của tôi, buồn buồn hỏi tôi, biết tin người mà anh không bao giờ quên ấy, anh thương nhớ trọn đời ấy không còn có ấn tượng về anh, anh có buồn không?. Tôi trả lời là không hề có một tý gì buồn cả, nhưng chỉ hơi lo, lo vì Phượng nói đúng, tôi không phải là loại người thích hợp với hôn nhân.

(Nguồn: http://thuannghia.vnweblogs.com/)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *