Chuyện đời Thuận Nghĩa – Hệ lụy – 01

Thiên hồi ức Thời Hoang Dại Cuối Cùng (Hệ Lụy) này viết để tặng CC, NTP, và Phạm Văn Hội.

Phần 1

Nếu nói tôi với hắn là bạn nối khố thì không đúng, vì chúng tôi không có cùng chung tuổi thơ. Dù cũng là khúc ruột miền trung cả nhưng trước giải phóng, Hội ở phía trong vĩ tuyến 17, tôi ở phía ngoài vĩ tuyến.

Nói là bạn bè chí cốt thâm giao cũng trật, vì thời gian chúng tôi chơi với nhau chỉ có đúng 7 năm, thời gian ngắn ngủi này chưa thể kể là sinh tử có nhau được. Cho dù thời đó chúng tôi rất nghèo và phong trần, cũng có kề vai sát cánh, nhưng chỉ để thực hiện những chuyện vặt vãnh của cuộc sống thôi chứ chẳng có gì hiểm nguy hệ trọng.

Cũng chưa thể dùng hai cái từ vĩ đại là Bạn Thân để mô phỏng tình bạn giữa tôi với hắn. Vì hai chữ Bạn Thân, ngoài tình bạn cao cả ra còn có tình thân ái như ruột thịt nữa. Tôi và Hội không có điều đó.

Giữa tôi với hắn có lẽ chỉ dùng được hai chữ Cố Nhân là đúng nhất.

Tôi về Trung Tâm Dạy Nghề trước hắn 1 năm. Cuối năm 1983, Hội tốt nghiệp khóa 2, khoa Sinh, Tổng Hợp Huế. Tốt nghiệp xong là về Trung Tâm ngay.

Trung Tâm có hơn 50 thầy cô giáo nhưng chỉ có 3 người là độc thân. Tôi, Hội và Cẩm Vi. Tôi thường nói với hắn “Trong Trung Tâm ni chỉ có tau với mi và Cẩm Vi là người khôn nhất”. Hắn vừa nghe tôi nói vậy, đã biết tôi ám chỉ cái gì rồi nên cười hề hề tiếp lời “chớ răng, chớ răng..không có gì quí hơn độc lập tự do mà, các Thầy Cô kia dại cho nên họ mới bị gông cùm xiềng xích đó chớ”.

Có một điều rất lạ là cả 3 đứa độc thân chúng tôi đều là tuổi Hợi 1959 cả. Tôi nói với Hội “hay là vì tuổi Hợi nó cao số mi hè”. Hắn cười phá lên “cao số cứt, mi thì gàn gàn, tau tưng tửng, lại nghèo kiết xác, đã rứa lại còn trèo cao, cứ đòi phải đẹp, tướng số phải sang mới chịu. Còn Cẩm Vi thì quá sắc sảo, không những đẹp mà còn quá thông minh, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga nói như gió, đã thế gia thế lại quí tộc, giàu sang nữa, thì thời buổi ni kiếm mô ra người môn đăng hộ đối được. Ế cả thôi chứ cao số chi mà cao số”. Tôi nghe hắn nói cũng gật gù “e rứa , e rứa ..”

Hội và Vi dạy ở môn Sinh Hóa và cả hai cùng nghiên cứu về Công Nghệ Sinh Học. Cẩm Vi chuyên về gen và nuôi cấy mô tế bào, Hội thì chuyên về công nghệ chiết xuất Aga và cái chất khỉ gió gì đó từ cây rong mơ. Tôi thì dạy ở môn cơ khí. Tuy rằng giữa tôi với Hội và Cẩm Vi khác “hệ” nhận thức, nhưng chúng tôi chơi với nhau rất thân. Vì cả Trung Tâm chỉ còn chúng tôi độc thân, và cái quan trọng nhất là cả 3 đứa đều rất nghiền đọc sách.

Tôi thì mạnh về cái mảng sách mới xuất bản, một phần vì tôi toàn chơi thân với các cô bán hiệu sách và làm ở phát hành sách, nên dễ kiếm được sách hay, sách quí. Hội thì có nguồn sách cũ trước giải phóng từ chùa Huyền Không, đặc biệt là các pho chuyện kiếm hiệp quí và sách về tôn giáo. Cẩm Vi thì ngoài nguồn sách cổ học của gia đình ra lại có tài đọc sách ngoại ngữ, nên hay kể chuyện sách dịch cho chúng tôi nghe. Bởi vậy mà trong thời buổi khan hiếm sách. Chúng tôi lúc nào cũng có cái mà giải nghiền.

Hồi đó giới văn nghệ sĩ của Bình Trị Thiên mạnh lắm, tập trung toàn những tay bút thượng thặng trên văn đàn. Tạp chí Sông Hương là một trong những tạp chí nổi tiếng đậm đặc chất văn nghệ trên toàn quốc.

Tuy tôi không thuộc giới này, nhưng tôi có bộ sưu tập sách hơn chục ngàn cuốn sách hay, khá có tiếng tăm trong giới đọc giả Huế. Mặt khác hồi ấy tôi chơi thân với thằng Tuyến cháu ruột của nhà Thơ Ngô Minh, và nhà báo Bạch Diệp, một cây bút nữ nổi tiếng về sắc đẹp của báo Công An, nên bọn họ hay dẫn tôi đi dự các cuộc hội họp của giới văn nghệ sĩ Huế. Qua các cuộc hội hè của giới văn nghệ sĩ tôi mới biết thêm được Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Lập, Tô Nhuận Vỹ, Xuân Đức, Trần Vàng Sao, Nguyễn Khắc Phục, Hoàng Vũ Thuật, Bửu Chỉ, Hải Kỳ….

Sau này nhờ quan hệ chiến hữu giữa Ông Lê Phước Thúy, là thủ trưởng trực tiếp của tôi, với Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nên tôi biết được hầu hết giới văn nghệ sĩ Huế. Cũng từ ở căn nhà ở đường Nguyễn Trường Tộ, của hai vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ, tôi mới có cơ hội “kỳ hình” những nhân vật nổi tiếng như Trịnh Công Sơn, Trịnh Cung, Phùng Quán, Trần Dần… Và cũng nhờ đó mà tôi có cơ hội theo họ vào Sài Gòn để gặp cho kỳ được thần tượng của mình là Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng.

Chẳng có gì thú vị bằng, khi trong cái nghiệp đọc của mình, mình không những đọc được những trước tác văn nghệ hay, mà còn được chứng kiến tận mắt bằng xương bằng thịt người đã viết ra nó. Nhất là được tận tai nghe những giai thoại của làng văn từ chính người trong cuộc kể ra.

Tôi và Hội không thuộc loại người háo danh, nên không cầu cạnh sự quen biết với họ. Khi đến dự các cuộc nhậu của giới văn nghệ sĩ, thường chỉ là người điếu đóm vòng ngoài, nghển cổ lên nghe họ tán chuyện là sướng lắm rồi.

Sau này anh Phạm Văn Mùi một cư sĩ Phật Giáo có bút danh trong giới văn nghệ là Mùi Tịnh Tâm, lập nên Tao Đàn Tịnh Tâm, thì cơ hội tiếp xúc với giới văn nghệ sĩ gạo cội của tôi càng cao.

Vì Mùi Tịnh Tâm là anh ruột của Hội, lại là bạn thâm giao chí cốt với Phương Xích Lô, một nhà thơ giang hồ rất nổi tiếng của Huế.

Tao Đàn Tịnh Tâm là nơi hội ngộ thường xuyên của giới văn nghệ sĩ.

Dạo đó tôi cũng đã biết tòm tèm làm thơ, và khá thông thạo về câu đối. Đã có rất nhiều lần trong mấy ngày Tết, tôi ra chân cầu Tràng Tiền, viết câu đối tết và “cho chữ” khách thập phương. Những câu thơ viết bằng chữ thảo có liên quan đến vận khí trong năm của thân chủ hồi đó của tôi cũng được giới giang hồ thi tửu đánh giá cao lắm. Chính vì vậy mà dân hay lui tới Tao Đàn gọi tôi là Đồ Gàn, và trong những cơn say chén tạc, chén thù đó, họ đã “tấn phong” cho Mùi Tịnh Tâm, Phương Xích Lô và tôi là Cố Đô Tam Tuyệt. Kiểu như danh xưng hảo hán của Côn Luân Tam Tuyệt trong Cô Gái Đồ Long của Kim Dung vậy.

Cũng từ Tao Đàn Tịnh Tâm này tôi đã được tận tay mình điếu đóm, hầu trà, hầu rượu với những nhân vật kiệt xuất trong giới Văn Nghệ Việt Nam, như Trịnh Công Sơn, Trần Dần, Phùng Quán….Và kể cả Ngô Minh, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Lập..nữa.

Sau này đã quen thân với mấy vị này rồi, mới dám xưng anh, xưng em, chứ hồi ấy tôi coi các ông ấy là thần tượng ở trên trời, chỉ được ngồi hóng mỏ lên nghe Nguyễn Quang Lập kể chuyện tục, nghe Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Minh đọc thơ, nghe Trịnh Công Sơn vừa đàn vừa hát là sướng râm ran như được diện thánh rồi. Chứ có phải như bây giờ được bàn chuyện nhân tình thế thái, thi ca với mấy ổng đâu.

Mỗi lần đi dự một cuộc nhậu của giới văn nghệ sĩ về là tôi và Hội bàn tán rất xôm tụ. Ông ni viết hay rứa mà ngoài đời lại rứa hè, ông ni viết sang trọng rứa mà bình dân hè…Đôi khi hai thằng nhắc lại các giai thoại làng văn nghe được, cứ như chính mình trong cuộc vậy. Sướng râm ran!

Cẩm Vi nghe tôi với Hội bàn tán cứ há hốc mồm ra nghe thỉnh thoảng lại thốt lên “bui hè, bui hè..”

Biết Cẩm Vi cũng thích gặp các tác giả mà cô ấy yêu thích, đôi lần tôi rủ cô ấy đi theo. Nhưng lần nào Cẩm Vi cũng lắc đầu. Tôi hỏi răng rứa, răng rứa… Cẩm Vi chỉ lắc đầu mà không trả lời. Sau này thằng Hội nói với tôi “mi ngu rứa, Cẩm Vi là dân quí tộc Huế, răng mà dám tới mấy chỗ ăn nhậu dân dã nớ được”. Tôi trương cổ lên nói, mấy chỗ nớ có chi xấu mô, răng không tới được. Hắn nói “mi ngu, mi ngu, con gái Huế là rứa đó”

Hội thì thích đọc các loại sách về Thiền học và sách nghiên cứu khoa học, còn tôi thì thích sách văn học và thơ hơn. Nhưng cả hai thằng đều nghiền chuyện chưởng.

Hội có một chiếc xe đạp cui cui, không gác đờ bu, không chắn sên, không chuông, sơn màu mận chín. Tôi cũng có một chiếc không khác gì hắn chỉ khác là sơn đen. Cả hai chiếc đều thuộc dạng như dân gian nói “Mọi thứ đều kêu, trừ cái chuông”.

Tan sở, hai thằng thường lòng vòng đạp quanh phố dạo chơi. Hội gọi chiếc xe đạp cà tàng của hắn là con “huyết hãn thần câu”, còn tôi thì gọi chiếc của tôi là “hắc lý thiên mã”. Hai thằng vừa đạp tàn tàn vừa nói chuyện. Dân đi đường nghe chúng tôi trò chuyện ai ai cũng cứ há hốc mồm kinh ngạc hết, vì câu chuyện chúng tôi dù nghiêm túc đến đâu, thì cách xưng hô với nhau cứ như trong chuyện chưởng vậy, nào là mỗ, là tại hạ, là tiên sinh búa xua hết…

Lòng vòng một hồi là chúng tôi tấp vào một quán cà phê nào đó để làm một cữ chót và chia tay. Thông thường quán nào có người phục vụ là phụ nữ đẹp, có nhạc trữ tình là chúng tôi ghé, không kể cà phê ở đó ngon hay dở. Quán chúng tôi hay ghé là quán Cây Sứ trên đường Hùng Vương, hay quán Sông Xanh dưới Vĩ Dạ, hoặc là quán Phượng trong Đại Nội.

Một lần ngồi dưới quán Sông Xanh, Hội hỏi tôi “mi bấm một phát coi trong ba đứa độc thân tụi mình đứa mô ngu trước”.

Tôi biết coi Tử Vi và học được cách bấm lá số từ mấy ông thầy mù, nên không cần giấy bút. Bấm, bấm một hồi, tôi nói “hóa ra Cẩm Vi ngu trước mà ngu lâu”. Hắn day lại, răng kêu là ngu lâu?. Tôi nói “Thì nó yêu có một người, lấy luôn người đó, lấy đến trọn đời thì kêu bằng ngu lâu chớ rắng”. Rứa còn tau với mi thì răng. “Tau thì nhì nhằng phiêu bạt đó đây, có có như không không, còn mi thì thảm”. “Thảm răng, thảm răng nói nghe coi”. “Mi hả, nỏ có số xuất ngoại, vì cung Thiên Di của mi có Hóa Kỵ và Cự Môn lại nằm ở cung Thổ khắc mạng, Thiên Mã lại nằm ở cung Hợi, ngộ Tuần Trung không vong, nên không có số xuất ngoại. Cung Thê của mi lại nằm ở hãm địa có Hồng Loan ngộ Thiên Không lại gặp Triệt lộ không vong. Trong ba đứa mình mi khôn nhất, vì suốt đời mi được tự do”. Mặt hắn rầu rầu nói “rứa thì thảm thiệt, thảm thiệt..”. Tôi động viên hắn “Nhưng mà mi là đứa có cơ nghiệp sáng lạn và giàu sang nhất. Tau có số bần hàn, có tích đức lắm cũng chỉ mò đến được đến chỗ có tiếng mà không có miếng. Còn Cẩm Vi, cho dù thông minh thành đạt, có học hàm học vị cao, nhưng cung Phu và cung Tử Tức nằm ở cung sinh xuất, lại có các cát tinh hội ngộ. Thanh Long, Bạch Hổ, Phượng Các, Giải Thần, Lâm Quan, Tả Phụ, Hữu Bật chi cũng có cả, vậy là nhằm vào cái số ích tử vượng phu. Đàn bà nhằm vào số này là tướng Quí. Cho nên nó sẽ bỏ cơ nghiệp, không đeo đuổi hoài vọng của mình mà chỉ đam mê vun vén cho gia đình thôi. Bởi vậy sự nghiệp của nó không hoạnh phát được. Còn mi thì lại khác. Cung quan lộc có Trường Sinh, Đế vượng, lại hội đủ cách quân thần khánh hội, Tử Vi và Thiên tướng đều đắc địa. Cho dù cung Thiên di ngộ Tuần trung không vong. Nhưng Thân cư Tài Bạch, có xương khúc, Hoa cái, và có Tam hóa triều nguyên nên vận hạn của mi trên 36 tuổi cứ lên như diều gặp gió, quan lộ thênh thang”. Hội nghe tôi nói không tin “Cứt, cứt.. thênh thang chi nỏ biết, chừ nghèo kiết xác, tương lai mù mịt có chi mô mà hoạnh phát, hoạnh tài, nghe mi nổ mắc mệt”. Biết hắn chống chế ra vẻ khiêm tốn vậy thôi, chứ trong bụng chắc sướng âm ỉ, vì hắn không những tin vào Tử Vi, mà còn rất rõ cái tài thần đồng của tôi về Tử Vi.

Cẩm Vi sang Pháp làm luận án tiến sĩ, rồi gặp ý trung nhân là một nhà Toán Học hàng đầu của thế giới. Lấy chồng và định cư ở Paris. Cho dù tốt nghiệp hạng ưu, có bằng tiến sĩ từ một trường đại học nổi tiếng ở châu Âu. Nhưng sự nghiệp của Cẩm Vi cũng chỉ nhì nhằng ở chức phụ giảng, chứ không thể đeo đuổi được hoài bão của mình trong công nghệ gen hiện đại.

Tôi xuất ngoại và định cư ở Đức, có được chút tiếng tăm trong nghề Đông Y, nhưng cơ nghiệp lao đao lận đận vì quá có nhiều đam mê, vọng tưởng. Gia đạo thì có có như không không, không không như có có .

Còn Hội thì sau những năm 2000, tự nhiên cơ nghiệp phát lên dữ dội. Hắn là chủ rất nhiều đề tài khoa học hợp tác với Nhật. Không những danh tiếng nổi như cồn, mà tiền của cũng bộn bề ra phết. Bây giờ đi ô tô đời mới, có tài xế riêng. Kẻ đón người đưa, đời sống đúng nghĩa với cái từ dân dã hay nói là “Đại Gia”. Chỉ duy có một điểm tương đối bất hạnh là đến nay vẫn chưa có vợ. Thậm chí cũng không màng đến gái gú nữa. Rất nhiều người, kể cả người nhà của hắn nghi ngờ, nói hắn đồng cô, đa hệ.

Tôi không tin điều đó, vì tôi biết và hiểu hắn. Vì cả tôi và hắn đều vướng vào hệ lụy với chuyện tình đầu.

Hắn cũng vì mối tình đầu quá sâu đậm mà trái tim hắn không còn chỗ để chứa thêm hình ảnh của một người con gái nào khác.

Tôi còn thê thảm hơn hắn, tôi cũng dính vào một mối tình nghiệt ngã, để rồi dấu ấn ấy suốt cả cuộc đời khó có thể phai nhạt được.

Hắn hơn tôi ở chỗ là không đem cái hệ lụy kia của hắn làm khổ người khác. Còn tôi, thì tội lỗi chất chồng. Dấu ấn trong mối tình đầu lãng mạn đã ru ngủ tôi trong sự hoài niệm vu vơ, nên tôi mang nó đi “đầu thai” vào những mối tình khác, và đã làm khổ lụy rất nhiều phụ nữ trên những chặng đường tôi đi qua.

Người con gái mang hệ lụy đến cho Hội tên là Yến, còn người hệ lụy của tôi tên là Phượng. Hai đứa cầm tinh con lợn, cuộc đời đều bị “bầm dập” vì những người con gái mang tên của loài chim. Có phải đó là định mệnh chăng…

***

Hội với tôi có một thời chung lưng sát cánh bên nhau làm chuyện phạm pháp, thời ấy nếu mà bị bắt, chắc bị không ít ngày tù.

Đó là chuyện tôi và Hội tự thành lập một “băng đảng” chuyên đi đốt quán thịt chó. Tôi làm hội trưởng, Hội làm hội phó, hồi mới bắt đầu hành sự, chỉ có 2 thằng, sau thu nạp thêm mấy đứa học trò làm “vây cánh” nữa.

Trước 1975, Huế không có quán nhậu thịt chó. Vì Huế là cái nôi Phật Giáo, nên dân tình không bao giờ ăn thịt chó. Sau giải phóng người ngoài Bắc vào mới nảy sinh ra có quán nhậu thịt chó. Dù không trương bảng hiệu công khai, nhưng có quán xá đặc sản hẳn hoi.

Hội là Phật tử ròng không nói làm gì, tôi cũng là dân Bắc vào Huế. Nhưng tôi rất thù ghét mấy người ăn thịt chó.

Số là hồi nhỏ, nhà tôi có con vện. Con vện lớn hơn tôi 1 tuổi. Bà nội tôi nói, khi chuyển từ Tân Thủy về Xuân Thủy, đã mang con Vện theo. Về đến Xuân Thủy, thì tôi mới được sinh ra đời. Con vện là một thành viên luôn gắn bó với gia đình tôi trong thời cơ hàn của sự qui chụp thành phần Địa Chủ.

Nghe nói có mấy lần ủy ban xã Xuân Thủy gửi thông tư cấm gia đình tôi nuôi chó, họ nói thành phần địa chủ không được phép nuôi vật bốn chân, chỉ được phép nuôi gà vịt và ngan ngỗng thôi. Ba tôi phải đem tất cả giấy tờ hoạt động cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa có chứng nhận của mấy ông trên Trung Ương, mới bảo vệ được con Vện khỏi bị đường lối chủ trương của mấy ông cường hào mới trù dập.

Con vện có linh tính rất hay, trong thời bắn phá, hình như nó có linh cảm về đạn bom, nên đã nhiều lần cứu được gia đình tôi khỏi bị bom Mỹ giết. Anh Hai tôi có lần trú trong hầm chữ A, khi bị toạ độ con vện cắn lai quần anh tôi kéo đi chỗ khác, Anh tôi theo con Vện đi chỗ khác trú ẩn, ngay sau đó căn hầm ấy bị một quả bom tấn đánh ngay trúng nóc, cả căn hầm biến mất tiêu chỉ còn cái hố to đùng, to đoàng.

Hồi tôi mới 6, 7 tuổi theo mấy anh mấy chị đóng bè chuối đi chơi lụt, khi ngang qua hói Hoàng Giang, bị nước xoáy, xoáy ra giữa dòng, ai cũng tưởng tôi bị cuốn trôi và chết đuối rồi. Ai dè con Vện lao theo dòng nước, bì bõm lôi được tôi lên bờ. Sau vụ đó, con Vện càng trở nên thân thiết với cả gia đình tôi và chòm xóm quanh vùng.

Ngày con Vện già, mắt mũi kèm nhèm, da dẻ ghẻ lở đầy thân bỏ ăn bỏ uống, quằn quại đau đớn khôn nguôi. Ba tôi dắt qua bên miếu thành hoàng dưới gốc cây đa Lệ Bình, Ba nói cho nó ở bên đó, vì để chó chết trong nhà xui. Hôm sau qua bên ấy thăm nó, không tìm thấy nó, tôi về đổ thừa là Ba đem con Vện bán cho người khác giết thịt.

Ba nghe tôi càm ràm trách móc cả ngày không nói gì, hai ba bữa sau tôi bỏ ăn, khóc hù hụ suốt ngày. Ba tôi tức tối, bực mình chẳng nói chẳng rằng, lôi tôi ra quất một trận, phọt cả máu lưng.

Sau này mới biết Ba tôi đã đem con Vện đi chôn, và đắp cho nó một nấm mồ nho nhỏ. Vì sợ ủy ban xã để ý, qui chụp mê tín dị đoan, nên Ba không nói cho tôi biết.

Từ đó tôi không bao giờ ăn thịt chó, và rất ghét người ăn thịt chó.

Khi ở Huế bắt đầu lác đác có mở quán thịt chó, dạo ấy họ chỉ mới dám công khai mở quán cóc nho nhỏ thôi. Tôi và thằng Hội thù lắm, quyết định, rình đốt hết quán thịt chó của mấy người ngoài Bắc.

Tổng cộng tôi và Hội đốt phải trên 20 chục quán thịt chó, từ Hương Trà đến Huế và xuống tận Hương Thủy.

Tôi và hắn hành sự rất bí mật, có sự điều nghiên và hoạch định kế hoạch hẳn hoi, nên không bao giờ bị phát hiện.

Trận tranh cãi nảy lửa nhất giữa tôi và Hội, cũng là cuộc tranh cãi về việc đốt quán thịt chó.

Khi quán thịt chó mở ra nhiều quá, và đã có nhà hàng đặc sản thịt chó. Hội nản chí không dám đi đốt quán nữa. Hắn nói “phải diệt từ gốc rễ căn cơ, chứ cứ đi đốt quán thế này có ngày bị tù rục xương, mà mấy người ngoài Bắc vô căn cơ của họ tàn bạo lắm, không phân biệt đâu là bạn đâu là thù của loài người, sướng là họ bắn, họ giết. Đến người mà họ còn không coi mạng sống ra gì nói chi đến chó”.

Tôi nghe hắn nói thế, bẽ mặt sừng sộ quặc lại hắn “Mi nói rứa là trật hung rồi. Là người thì ở mô cũng có kẻ tốt người xấu, kẻ ác người hiền, thế mới gọi là chúng sinh là ta bà, chớ có phải phân biệt là người Bắc hay người Nam mô”. Hắn tằng tằng nói “Có chớ, răng người Bắc thích ăn thịt chó, mà người Nam không thích là răng”. Tôi nói “mi nói như cứt, căn cứ vô mô mà mi nói người Nam không ăn thịt chó, mấy cái quán mình đốt, hơn phân nửa là quán của mấy người theo Đạo Thiên Chúa. Dân đạo Chúa, ngày Nô-en mô mà nỏ xực thịt chó. Hắn cũng trương cổ lên quặc lại “Mấy người đạo Chúa cũng di cư từ ngoài Bắc hồi năm tư vô cả, chính họ dạy cho người Nam biết ăn thịt chó, chứ tự xưa nay người Nam không biết ăn thịt chó”. Tôi bực mình chửi hắn “mi nói như ẻ, chỉ vì việc phong tục có ăn thịt chó mà mi phân biệt cái Tâm của người Bắc và người Nam như rứa là mi nỏ biết chi về nhân tình thế thái hết”.

Hội thấy tôi nổi đoá, nên xuống nước cười hì hì “răng mi sân si dữ rứa, tau có nói chi mi mô, mà mi sừng sộ hè, thì mi cũng là người Bắc, nhưng mi có ăn thịt chó mô hè”. Tôi đang bực nên xẵng giọng “tau ẻ vô mần người Bắc hay người Nam, tau mần người Trung thôi”. Hai thằng ôm nhau cười hòa.

Từ đó Hội không theo tôi đi đốt quán thịt chó nữa, tôi đốt thêm mấy cái nữa rồi cũng ngưng luôn.

Tôi và Hội không thuộc loại người cố chấp, không phân biệt “bộ đội” hay ngụy quân ngụy quyền, cứ ai tốt người có Tâm thì chơi. Nhưng hắn không mấy ưa chính quyền, và trong thâm tâm hắn có nghĩ người ngoài Bắc dã man hơn người Nam.

Cũng chả trách hắn được, vì hắn ám ảnh chuyện cải cách ruộng đất khi xem bộ phim phát hành trước giải phóng, là bộ phim “Chúng tôi muốn sống”. Phim này là phim tư liệu tuyên truyền kể về sự tàn bạo trong chiến dịch cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc. Và cũng chín hắn tận mắt chứng kiến chuyện xảy ra hồi Mậu Thân 68. Ba hắn chỉ là thợ cắt tóc, hay nói chuyện thời sự mua vui cho khách. Khi giải phóng vào chiếm Huế. Có người xì báo gì đó, bộ đội đến nhà bắt Ba hắn ra giữa sân dí súng vào mang tai bóp cò. Chính hắn chứng kiến Ba hắn chết thảm như vậy nên ám ảnh cũng đúng thôi.

Nhưng có lẽ chuyện ám ảnh nhất của hắn là chuyện của Yến. Người yêu của hắn. Yến với hắn là bạn học từ hồi tiểu học, và cùng sinh hoạt chung trong một Gia Đình Phật Tử. Lớn lên vào trung học thì phải lòng nhau, có thề non hẹn biển với nhau. Yến là người yêu thích văn nghệ, nằm trong ban hướng đạo của Gia Đình Phật Tử Thủy Biều. Khi giải phóng được một thời gian, Yến tham gia thành lập và ấn hành một tờ báo truyền tay. Báo có tên là “Tự Nguyện”. Báo Tự Nguyện chỉ phát hành tin tức Phật sự và có in thêm thơ văn. Yến phụ trách trang Thơ. Tờ báo bị chính quyền qui chụp là phản động. Yến bị bắt và bị kết án tử hình. Bị bắt chỉ mấy ngày sau là đem đi thụ án ngay. Người ta đem Yến và mấy người nữa ra sau lưng sân vận động Huế bắn. Hội chứng kiến người yêu của mình tuổi chưa tròn 20 đã phải chết dưới những viên đạn oan nghiệt. Từ đó mối tình đầu trở thành nỗi ám ảnh cay nghiệt trong trái tim của hắn.

Cho đến những năm đầu của thập kỷ 80, mối tình và cái chết đau đớn của Yến không bao giờ nguôi trong lòng của hắn. Chuyện tình của hắn ít ai biết. Nếu như Mùi Tịnh Tâm, là anh ruột của hắn không kể cho tôi nghe, tôi cũng không biết. Chắc chắn là tôi cũng nghĩ như mọi người là thằng ni lại cái, nên mới không màng đến chuyện vợ con gái gú.

Có rất nhiều cô gái đã từng yêu hắn, hắn có vẻ cũng thích người ta. Nhưng mỗi khi tình cảm có chiều hướng đi sâu hơn, là hắn chạy làng, lẩn tránh người ta. Có nhiều cô gái hận hắn, nhiều người thì trách hắn ngu, hay là nhẫn tâm. Những lúc đó tôi rất thông cảm với hắn và hỏi “Mi còn nhớ chim én à”. Hắn quạu mắt trừng tôi “nhớ chi mà nhớ, tau ẻ vô đàn bà”. Nói xong hắn quay mặt đi chỗ khác, khuôn mặt thẫn thờ, mơ hồ thở dài nhìn về hướng sân vận động.

Có lần tôi khuyên hắn ” đến và đi với cõi đời này là tùy duyên, người rời khỏi cõi tạm này sớm cũng vì duyên, biết đâu đó là sự giải thoát, khỏi phải nấn ná với cái cõi đời ô trọc ni, mắc mớ chi mà mi mang nó theo mãi cho nó nặng lòng, chẳng phải biết buông bỏ là chân của hạnh phúc đó ư”. Nghe tôi nói vậy, hắn xịu mặt xuống rồi làm bộ hùng hổ “tau ẻ vô đàn bà, đàn bà là cái cứt chi mà phải đeo vô cho nó nặng kiếp, ẻ vô..ẻ vô”. Nói xong là hắn nhảy lên xe cắm đầu cắm cổ đạp đi.

Cho đến bây giờ hắn vẫn còn độc thân, đã hơn 50 tuổi đời rồi mà vẫn cứ là trai tân. Ai không biết thì nghĩ hắn có vấn đề. Tôi thì biết trái tim của hắn đã chết. Cho dù bây giờ cuộc sống của hắn thênh thang hoan lộ, muốn gì có nấy. Nhưng trái tim của hắn không rung cảm được nữa trước phụ nữ. Trái tim hắn đã dành trọn cho Yến, và cái chết của cô gái chưa qua tuổi trăng tròn, nơi trường bắn, mãi mãi là vết thương không bao giờ lành được trong tâm hồn của hắn.

Tôi cũng vì ám ảnh hệ lụy với một người con gái khác cũng mang tên một loài chim. Chuyện tình của tôi không đến nỗi kết cục thê thảm như của Hội, nhưng ám ảnh cay nghiệt về mối tình ấy cũng khó có thể phai nhòa trong ký ức của tôi…

***

Dừng chân lại Huế ở tuổi 24. Đúng vào năm Quí Hợi. Hồi đó thầy tôi đã trở lại chùa và đã khoác lại áo Tỳ Kheo sau bao năm lẩn tránh lưu lạc trong dân gian.

Khi đưa tôi về lập nghiệp ở Huế, thầy cười cười đọc tặng tôi một bài thơ:

đủ hai con lợn thì dừng
đến ba mươi rắn lại vùng vằng đi
ba năm gối quị chân quì
ba mươi năm nữa cũng vì trâu thôi

Tôi và Thầy khi bàn những chuyện hệ trọng, kể cả lúc Thầy truyền thụ kiến thức đông y cho tôi cũng bằng cách đối đáp bằng thơ tứ tuyệt hay thơ lục bát.

Biết là Thầy cho ý chỉ gì đó, nghĩ mãi không ra là ý gì, nên tôi đành phải cúi đầu thúc thủ hỏi Thầy:

– Rứa là răng, thưaThầy, cấy chi mà hai con heo, ba mươi con rắn, rồi thì ba năm, đến ba mươi năm nữa cũng vì một con trâu là răng ?

Thầy không giải thích, chỉ thở dài nói:

– Đọa lạ, đọa lạc…

Mãi đến sau này, khi trải qua mấy khúc trường đời tôi mới ngộ ra được ý của Thầy. Và cũng từ đó tôi mới có 24 khúc Đoạ Lạc là 24 bài thơ tâm đắc thời trai trẻ của tôi, được in trong tập thơ cùng tên.

“Đủ hai con lợn thì dừng” có nghĩa là đúng 2 con giáp của tuổi Hợi. Tôi sinh năm Kỷ Hợi (1959) , đến năm Quí Hợi (1983) là vừa tròn 2 con giáp. Đó cũng là năm tôi chấm dứt bước chân giang hồ, để dừng lại làm thầy giáo dạy nghề tại Trung Tâm Hướng Nghiệp. Tính đến lúc đó tôi vừa tròn 24 tuổi. Tiếp theo câu thơ Thầy để lại là câu “Đến ba mươi rắn lại vùng vằng đi”. Đến năm 1989 tức nhằm năm Kỷ Tỵ, đúng vào lúc tôi tròn 30 tuổi, thì tôi lại rời Huế xuất ngoại sang phương Tây. “Ba năm gối quị chân quì”, có lẽ là ý thầy nói tôi đã có ba năm rơi vào hệ lụy trong vòng đọa lạc của tình ái. Bởi vì 3 năm sau đó tôi đau đớn ê chề và khổ lụy trong mối tình đầu cay nghiệt với Phượng.

Phượng sinh năm 1961 nhằm năm Tân Sửu cầm tinh con Trâu. “Ba mươi năm nữa cũng vì trâu thôi”, tính từ năm tôi 24 tuổi thêm 30 năm nữa là năm tôi 54 tuổi. Bây giờ tôi đã 52, không biết thêm 2 năm nữa tôi có bị “con Trâu” nào dày xéo nữa không?. Cũng chẳng thể nào mà biết được, nhưng đằng đẵng chừng ấy năm, kể từ ngày tôi gặp Phượng cũng đã ngót nghét 30 năm rồi, thế mà cái hệ lụy về mối tình ấy trong tôi chẳng mấy khi phai nhạt. 30 năm, đã đủ làm nên một thiên tình sử cay nghiệt cho cuộc đời của tôi. 30 năm Phượng đã đẩy tôi vào thế giới của Thi Ca, thế giới của vu vơ mơ hồ và ảo vọng. Tôi có tập Đọa Lạc, có tập Tháng Hai Có Ba Mươi Ngày và hàng ngàn bài Thơ khác, trong đó đều có chất chứa hình bóng của Phượng, ảo ảnh của mối tình cay nghiệt ấy luôn hiển diện trong Thơ tôi. Có buồn mới làm thơ được, người ta nói thế. Nỗi buồn để làm nên Thơ tôi chính là Phượng.

Cũng đã gần 30 năm rồi tôi chưa một lần nào gặp lại Phượng. Chỉ đôi lần phong phanh nghe tin về cô ấy. Phượng có một gia đình rất hạnh phúc. Chồng con đề huề, gia đạo khang trang, hoà thuận và thịnh vượng. Và cái quan trọng nhất trong cô ấy là hình bóng của tôi, mối tình của tôi đối với cô ấy, chỉ như vệt mờ, một cơn gió nhẹ thoảng qua tuổi xuân thì non dại của cô ấy mà thôi. Thậm chí mối tình ấy của tôi đối với Phượng chỉ là một bông cỏ may vu vơ, một vết bùn dơ dính vào gấu quần trên bước đường đi tìm hạnh phúc của Phượng.

Phượng có còn nhớ tôi không, còn có ấn tượng về mối tình một thời làm náo động đất Cố Đô hay không. Điều đó không quan trọng, cũng không nằm trong nỗi nhớ của tôi, không có trong ước vọng của tôi, và tất nhiên cũng chẳng mấy ảnh hưởng đến hành trình của Thơ tôi.

Tôi không buồn phiền vì mối tình ấy tan vỡ. Vì chính tôi là người chủ động nói lời chia tay, chính tôi là người thực hiện âm mưu, để bắt Phượng phải rời xa tôi dạo đó.

Cái làm tôi đau đớn, cái làm tôi hãi hùng, cái hệ lụy mà tôi mang theo suốt cuộc đời, không phải là tôi mất Phượng, mà tôi đã giết chết tình yêu trong trái tim của chính mình.

Phượng đã làm cho trái tim của tôi rung động trước Tình Yêu, Phượng đã cho tôi biết tình yêu đích thực là cái gì. Tôi đã biết yêu là nhờ Phượng. Và có lẽ cuộc đời của một con người, chỉ được yêu có một lần đúng nghĩa. Và lần đó của tôi là Phượng.

Tôi nhớ có lần khi tôi và Phượng ngồi trên bến Ngã Ba Tuần, bên gốc cây đào lộn hột vừa mới đơm bông vụ đầu. Hôm đó là buổi gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi. Tôi nhìn những đám mây bay thấp vần vũ trên rừng thông già phía lăng Minh Mạng rồi nói với Phượng:

– Em như những đám mây thấp, cuồn cuộn mà bồng bềnh, đủ sắc màu mà vẫn trắng.

Phượng cầm tay tôi bóp chặt và nói:

– Em là mây, vậy anh là cái gì ?

– Anh như mặt sông kia, chỉ ôm được bóng mây vào lòng. Mây bay đi rồi, mặt sông chỉ biết gợn sóng để hoài niệm về mây thôi.

Phượng không nói gì chỉ khóc. Tôi cũng không nói gì, cũng không an ủi Phượng. Vì Phượng đã thường khóc như thế. Bởi mối tình của chúng tôi không những đã chan đầy nước mắt của Phượng mà cũng đã thấm đủ máu của Phượng và tôi.

Có lẽ câu trả lời của tôi chính là câu sấm ký, để suốt cuộc đời tôi phải làm thơ về những đám mây xa….*

(đọc tiếp phần 2)

(Nguồn: http://thuannghia.vnweblogs.com/)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *