'Thập nhị đoạn cẩm' – bài tập tự chữa bách bệnh

Bài tập 12 động tác này là một trong những bí quyết giữ sức khỏe của giáo sư Nguyễn Lân, một biểu tượng về chữ thọ trong làng trí thức Việt Nam (cụ thọ 99 tuổi). Ngoài việc giữ sức khỏe và giúp trường thọ, nó còn có tác dụng chữa nhiều bệnh tật.

Nhà giáo Nguyễn Lân lúc sinh thời.
Nhà giáo Nguyễn Lân lúc sinh thời.

Nhà báo Nguyễn Trương Đàn, một người quen của giáo sư Lân kể: Khoảng đầu những năm 90 của thế kỷ trước, trong một hội nghị, các phóng viên hỏi giáo sư Nguyễn Lân về bí quyết để có được sức khỏe và sự minh mẫn ở tuổi bát tuần. Cụ Lân cười, lấy ra một tờ báo: “Tôi đã trả lời phỏng vấn về điều đó trên tờ báo này. Xin được biếu chị làm kỷ niệm và thay cho câu trả lời của tôi”. Lúc đó, ông Trần Nguyên Vấn ở Ban biên tập văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam nói chen vào: “Dạ, em cũng đã đọc bài báo của thày rồi ạ. Em cũng đang thực hiện những điều thày phổ biến. Em còn nhớ, thày dặn là khi xoa bóp toàn thân, phải nhớ xoa cho cả cái ấy nữa”.

Khi mọi người đã tản đi, ông Đàn đến bên cụ Lân. Cụ bảo: “Tôi trông sắc da anh, hình như anh có bệnh gì về nội tiết đấy! Tôi muốn biếu anh một bài thuốc, nếu anh chịu làm theo thì có thể tăng cường sức khỏe, làm báo được lâu dài”. Trong khoảng mười phút, ông đã học được 12 động tác trong bài thuốc mà giáo sư Lân truyền thụ. Sau này, ông mới biết mình bị bệnh tiểu đường. Khi phát hiện ra bệnh, ông Đàn vẫn vừa uống thuốc Tây, vừa tập luyện đều đặn bài tập đó. Dần dần, đường máu của ông luôn được giữ ở mức ổn định dù không còn dùng thuốc Tây thường xuyên. Sau này đọc các sách thuốc, ông Đàn mới phát hiện ra, đó chính là bài tập để tự chữa bách bệnh của người Trung Quốc có tên là “Thập nhị đoạn cẩm”, nghĩa là 12 tấm gấm. Việc luyện tập 12 động tác này lâu ngày sẽ làm cho huyết mạch lưu thông, trừ khử bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.

Phương pháp tập như sau:

1. Cắn răng: Hai hàm răng nhẹ nhẹ cắn vào nhau 36 lần.

2. Nuốt nước bọt: Lòng dạ thanh thản, lấy đầu lưỡi ngoáy trong mồm để nước bọt ra đầy mồm, rồi súc miệng 36 lần, nuốt nước bọt làm 3 lần và dùng ý niệm đưa nước bọt về phía đan điền (vùng dưới rốn).

3. Rửa mặt: Hai tay xoa vào nhau cho nóng lên, rồi xoa lên mặt, từ hai khóe miệng lên cánh mũi ra hai bên má, lên hai bên thái dương, lại kéo xuống cằm, làm đi làm lại nhiều lần, xoa đến khi nóng là được.

4. Gõ trống trời: Hai tay bịt tai, ngón tay trỏ đặt lên trên ngón tay giữa rồi bật mạnh xuống đầu, làm 24 lần.

5. Động huyệt cao manh: Hai vai quay đi quay lại 36 lần.

6. Đỡ trời: Nắm hai tay, sau khi hít đầy khí, nín thở, đồng thời một tay xòe ra hướng lên trời, sau đó từ từ bỏ xuống, mỗi tay làm 3 lần.

7. Bắn cung phải trái: Nín hơi, tay trái đưa thẳng ra phía trước, tay phải làm động tác kéo dây cung. Tay phải tay trái đổi động tác cho nhau, làm 3 lần.

8. Xoa đan điền: Tay trái để vào chỗ thận, tay phải xoa vào đan điền, hai tay thay đổi nhau 36 lần.

9. Xoa huyệt nội thận: Nín hơi, hai tay xoa cho nóng, xoa huyệt mệnh môn (chính giữa thắt lưng, dưới đốt sống thứ 2 tính từ dưới lên) 36 lần.

10. Xoa huyệt dũng tuyền: Tay trái cầm bàn chân trái lên, tay phải xoa vào bàn chân trái 36 lần, lại đổi sang chân phải.

11. Xoa huyệt hiệp tích: Xoa khe xương ngực số 3 và số 4; 36 lần.

12. Vẩy chân: Chân trái đứng yên, chân phải nhấc lên vẩy 7 lần, lại đổi sang chân trái, vẩy 7 lần.

Đây là bài tập tối thiểu cho một người bình thường; nghĩa là một người khỏe mạnh khi có điều kiện cần luyện tập những môn thể dục mạnh khác, thập nhị đoạn cẩm chỉ là bài tập bổ sung.

Những người cao tuổi hoặc có bệnh, tùy theo hoàn cảnh, nên tập đều đặn bài này, phải kiên trì tập hằng ngày, ít nhất là một lần một ngày.

Có những người thời gian rất eo hẹp do phải đi công tác, phải thường xuyên tiếp khách khứa… Có thể chia thành nhiều phần tập vào những khoảng thời gian thích hợp trong ngày. Thí dụ: Khi đi vệ sinh, ở trong phòng toilette vẫn có thể tập các động tác từ số 1 đến số 7, chí ít là đến động tác số 5. Còn các động tác khác như xoa bóp có thể thực hiện ngay khi tắm. Lúc đó, vừa kết hợp kỳ cọ, vừa xoa bóp toàn thân, trước hết ưu tiên xoa các huyệt mà bài tập đã nêu từ động tác 8 đến động tác 10. Khi tắm, nên ngồi xuống xoa huyệt dũng tuyền ở hai lòng bàn chân, kết hợp với xoa xà phòng, kỳ cọ cả bàn chân, sẽ có cảm giác thật thú vị, hết sức dễ chịu.

Các động tác 1, 2 nếu thực hiện đều đặn sẽ rất có hiệu quả cho hệ tiêu hóa. Trước đây, ông Đàn thường bị đau đại tràng, đau dạ dày ở vùng thượng vị, táo bón… Từ khi tập đều đặn thập nhị đoạn cẩm, nhất là các động tác 1, 2 thì các chứng trên biến mất, khiến ông ăn uống rất chủ động, không phải kiêng quá mức, dùng bia rượu vẫn không hề hấn gì.

Động tác thứ 3 (rửa mặt) có thể vận dụng sáng tạo thêm, miễn là có thời gian và sức khỏe để thực hiện. Thí dụ: Có thể dùng hai ngón tay trỏ day các huyệt ở chân mũi, thời gian tùy ý, hoặc day mắt, xoa quanh miệng nhiều vòng.

Động tác 4 (gõ trống trời) cũng có thể cải tiến thêm như: kẹp hai vành tai bằng ngón trỏ và ngón giữa, xoa day nhiều lần cho nóng lên, rồi mới thực hiện tiếp các điều chỉ dẫn.

(Sức Khỏe & Đời Sống)

—–

Phụ lục

A. Bát Đoạn Cẩm.

(Trích sách Vạn Bảo Toàn Thư. Xem thêm Trung Hoa Đạo Gia Đại từ Điển, tr. 1031-1033)

1. Đệ Nhất Đoạn.

Lưỡng thủ kình Thiên lý Tam Tiêu. 兩 手 擎 天 理 三 焦

Giơ hai tay lên Trời để điều hòa Tam Tiêu

Tập 4 lần

1. Hai tay giơ lên cao, lòng bàn tay quay lên trên, 10 ngón tay giao nhau. Hai khuỷu tay thẳng, đồng thời kiễng hai gót chân lên.

2. Nghỉ.

3. Hai cánh tay đưa xuống.

4. Nghỉ.

Làm như vậy, liên tiếp 3 lần. Đến lần thứ 4 hai chân chụm lại.

2. Đệ Nhị Đoạn

Lưỡng Thủ Khai Cung Tự Xạ Điêu. 兩 手 開 弓 似 射 鵰

Hai tay như dương cung bắn chim cắt

Tập 4 lần.

1. Tay phải nắm lại. Cánh tay giang thẳng về phía hữu. Tay trái nắm đưa ngang vai, nắm tay ngưả lên. Mắt chăm chú nhìn về phía tay trỏ, đồng thời, chân phải bước sang phải 1 bước, khụyu hai đầu gối xuống như cưỡi ngựa. Gót chân không kiễng.

2. Đổi tay, đầu gối vẫn giữ nguyên.

3. Đổi tay như 1.

4. Đổi tay như 3.

Làm như vậy 4 lần. Hết lần thứ tư, hạ hai tay xuống. Đứng thẳng người lên.

3. Đệ Tam Đoạn.

Điều lý tỳ vị đơn cử thủ. 調 理 脾 胃 單 舉 手

Giơ tay lên, để điều lý tì vị

Tập 4 lần.

1. Tay phải giơ lên cao, lòng bàn tay ngưả. Ngón tay hướng về phía tả. Tay trái buông thòng xuống phía trái, lòng bàn tay quay xuống, ngón tay hướng về phía trước. Tay trái buông thõng, úp sấp, ngón tay hướng tiền.

2. Tay trái giơ cao lên, lòng bàn tay ngửa. Ngón tay hướng về phía hữu. Tay phải buông thõng, úp sấp, ngón tay hướng tiền. (Hướng về phía trước).

3. Như 1.

4. Như 2.

Xong 4 lần, 2 tay buông xuôi như cũ.

4. Đệ Tứ Đoạn.

Ngũ lao, thất thương vọng hậu tiều. 五 勞 七 傷 望 後 瞧

Mắt ngó phía sau, chữa ngũ lao, thất thương

Tập 4 lần.

1. Quay đầu phía phải, mắt nhìn phía sau.

2. Quay đầu thẳng lại.

3. Quay đầu phía trái, mắt nhìn phía sau.

4. Quay đầu thẳng lại.

Làm như vậy 3 lần, lần thứ 4, hai chân chụm lại.

5. Đệ Ngũ Đoạn

Dao đầu bãi vĩ, khử tâm hỏa. 搖 頭 擺 尾 去 心 火

Nghẽo đầu, khụm gối, khử tâm hỏa

Tập 4 lần.

1. Chân phải đạp sang phiá phải. Khuỵu 2 đầu gối như cưỡi ngưạ. Nghẹo hẳn đầu về phía phải.

2. Quay đầu ngay lại.

3. Nghẹo hẳn đầu về phía trái.

4. Quay đầu ngay lại.

Làm như vậy 3 lần, đến lần thứ 4, đứng thẳng người lại, hai chân đứng thẳng lên, hai chân khép lại, 2 gót kiễng lên.

6. Đệ lục đoạn

Bối hậu thất điên, bách bệnh tiêu. 背 後 七 顛 百 病 消

Vận lưng 7 lần có thể trừ bệnh.

Tập 4 lần.

1. Hai chân đặt xuống rồi kiễng ngay lên.

2. 3. 4. Như lần 1.

Làm như vậy 3 lần, đến lần thứ 4, thì đặt 2 gót xuống.

7. Đệ thất đoạn

Toán quyền nộ mục tăng khí lực. 攥 拳 怒 目 增 氣 力

Nắm tay mắt giận tăng khí lực.

Tập 4 lần.

1. Chân phải đạp sang bên trái. Khuỵu chân như cưỡi ngựa. Đồng thời tay phải sang phải, bàn tay nắm ngưả lên. Mắt đột xuất (trợn), nhìn thẳng phía trước.

2. Đổi tư thế 2 tay.

3. Như 1.

4. Như 2.

Như vậy 3 lần. Đến lần thứ 4, hai tay thõng xuống, mình chân trở về nguyên vị.

8. Đệ Bát Đoạn

Lưỡng thủ phàn túc, cố thận yêu. 兩 手 攀 足 固 腎 腰

Hai tay nắm chân khỏe thận yêu

Tập 4 lần.

1. Mình cúi về phía trước, càng nhiều càng tốt. Đầu gối thẳng, đồng thời 2 tay đưa xuống nắm lấy các đàu ngón chân. Đầu nghẹo về phía sau. Mắt nhìn về phía sau.

2. Nghỉ.

3. Đứng thẳng người, Tay về nguyên vị.

4. Nghỉ.

Làm 3 lần. Đến lần thứ 4, hai chân đứng thẳng lên,2 đầu gối chõe ra. Cuối cùng, quay mặt phía mặt trời, hô hấp lâu mấy lần.

B. Thập Nhị Đoạn Cẩm.

Sáng khi dậy, ngồi trên giường tập 1 lần. Tối trước khi đi ngủ, tập 1 lần. Trong ngày, lúc rảnh, có thể tập.

1. Khấu xỉ 扣 齒。Đập răng vào với nhau, cho gân cốt hoạt động, tinh thần thanh minh. Mỗi thứ 36 lần.

2. Yết Tân 咽 津。Để lưỡi lên cúa hồi lâu, nước bọt sẽ sinh. Nuốt xuống. Khi nuốt phải nuốt mạnh cho thành tiếng. Như vậy nước bọt nuôi ngũ tạng, giáng hỏa. Càng nhiều lần càng tốt.

3. Dục diện bộ 浴 面 部。 hai tay xoa vào nhau cho nóng, rồi lấy tay xoa từ cổ lên trán, đến chân tóc, như rưả mặt.

4. Minh Thiên cổ 鳴 天 鼓。 Hai tay bịt hai tai, lấy đầu ngón tay đập vào 2 xương sau ót 24 lần. Lấy tay bịt lỗ tai, để ngón tay trỏ chồng lên ngón giữa, rồi búng xuống.

5. Vận Cao Hoang 運 膏 肓 。 Huyệt Cao Hoang ở 2 bên bả vai (dưới đốt xương sống 4, tính ra hai bên 3 tấc). Quay 2 vai 7 lần, sẽ tiêu ma bệnh toàn thân.

6. Thác Thiên 托 天。 Nắm 2 tay lại. Mũi hít hơi vận lên Nê Hoàn, đồng thời đưa 2 tay lên cao như đỡ Trời (thác Thiên). Rồi buông 2 tay xuống. Làm như vậy 3 lần. Khử được tà khí nơi ngực và bụng.

7. Tả hữu khai cung 左 右 開 弓. Nín hơi. Tay trái dơ thẳng ra. Tay phải như dương cung. Hai mắt tuỳ nghi, nhìn theo tay trái, hay tay phải (tay nào dơ thẳng thì nhìn). Mỗi tay ba lần, tả được Tam Tiêu hỏa.

8. Phàn Đơn Điền 攀 丹 田 . Tay trái đỡ ngoại thận (thận nang). Lấy tay phải xát đơn điền 36 lần. Rồi lấy tay phải đở thận nang, lấy tay trái xát đơn điền 36 lần.

9. Sát nội thận huyệt 擦 內 腎 穴 . Cần nín hơi. hai tay xoa nóng lên, trà xát nơi Mệnh Môn (vùng xương sống sau lưng, ngang rốn) 36 lần.

10. Sát Dũng Tuyền huyệt 擦 涌 泉 穴 . Lấy tay trái giữ chân trái. Lấy tay phải xoa lòng bàn chân trái 36 lần.

11. Ma Vĩ Lư huyệt 摩 尾 閭 穴 Huyệt này ở cuối xương sống, trên giang môn. Thống huyết mạch châu thân. Thoa nó rất có ích.

12. Sái thoái 洒 腿 . Chân trái đứng thẳng, chân phải dơ cao lên, đá ra phía trước 7 lần. Đổi chân, làm như trên, giúp lưu thông huyết mạch.

Bị chú: Thập nhị đoạn cẩm dĩ nhiên là hay hơn Bát đoạn Cẩm.

Đạo Học từ điển bỏ đoạn Sái Thoái, lấy 11 đoạn trên hợp lại thành Bát Đoạn Cẩm: 1. Khấu xỉ 2. Dục diện, minh cỗ 3. Tuyền yêu 4. Tả hữu khai cung 5. Ma sát đan điền 6. Sát nội thận huyệt . 7. Ma Vĩ lư huyệt 8. Sát Dũng Tuyền huyệt.

-Nhiều người cho rằng: Bát đoạn cẩm là do Chính Dương Chân Nhân, Chung Ly Quyền, sáng tạo ra.

(Nguồn: ykhoa.net và nhantu.net)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *