Phá bỏ thói quen dùng thuốc

(Trích cuốn “Chữa bệnh bằng các liệu pháp thay thế” của Lynne Paige Walker và Ellen Hodfson Brown. Biên dịch: BS. Bích Thủy và BS. Hải Yến. Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, 2001)

Tủ thuốc được trang bị đầy đủ ở mỗi gia đình là một thành công lớn của các nhà quảng cáo Madison Avenue – những người luôn thuyết phục chúng ta rằng: mọi thứ gây đau đớn, phiền não, bệnh tật cho con người đều có thể chữa trị được bằng một thứ gì đó trong số những chai lọ đựng thuốc của chúng ta! Song những điều mà họ không đề cập, nhấn mạnh tới là các phản ứng đối nghịch, các tác dụng phụ gây ra bởi các loại dược phẩm của họ, cũng như việc những thuốc này tác động tới các quá trình tự nhiên diễn ra trong cơ thể như thế nào. Hãy xem thử một quảng cáo thương mại trên tivi gần đây về một loại thuốc chẹn H2. Đó là dạng thuốc gồm Tagamet và Zantac được chỉ định để điều trị loét dạ dày. Một người cha, trong đám cưới của con trai mình, đã kéo riêng chú rể khỏe mạnh ra một chỗ và khuyên rằng: hãy uống thứ thuốc này để đảm bảo chắc chắn rằng đêm tân hôn của con không bị rắc rối, phiền phức bởi cái dạ dày bất ổn! Điều mà các nhà quảng cáo cố gắng để không đề cập đến trong quảng cáo là: dùng thuốc này ngăn chặn acid dạ dày sẽ có nhiều tác dụng “hữu ích”, kể cả việc tiêu diệt các vi khuẩn có lợi trong dạ dày. Mà như chúng ta đã biết – không có acid ở dạ dày, bạn sẽ có nguy cơ nhiễm trùng bởi các loại vi sinh vật như: thương  hàn, tả, lỵ, trùng roi … Mỉa mai thay! một tác dụng khác của các thuốc chẹn H2 là có thể gây ra liệt dương. Với người bệnh đang phải chịu cơn đau do loét dạ dày hành hạ, thì việc chấp nhận những nguy cơ này cũng là đáng giá, kể cả khi cơn đau không thuyên giảm. Nhưng với một chú rể khỏe mạnh, trong tuần trăng mật của mình thì việc dùng các thuốc chẹn H2 dường như là yêu cầu rắc rối không cần thiết.

Để điều trị chứng khó tiêu, luôn sẵn có các phương thức chữa trị tự nhiên, không độc, không có tác dụng phụ và hơn nữa, thay vì ức chế, nó còn trợ giúp một số chức năng của cơ thể. Song dường như chẳng bao giờ bạn được nghe về các tác dụng điều trị của những phương thức tự nhiên này trên các chương trình quảng cáo thương mại ở tivi.

Chỉ có những thuốc đã được FDA – Cục quản lí thực dược phẩm Hoa Kỳ chứng nhận mới có thể quảng cáo được là thuốc điệu trị bệnh tật “Hiệu quả và An toàn”. Chẳng phải các phương thức chữa trị tự nhiên không đủ độ an toàn và hiệu quả để có thể vượt qua được sự điều tra của FDA, mà do chúng không tạo ra đủ lợi nhuận để chi phí cho hàng loạt các nghiên cứu cần thiết do FDA yêu cầu khi chứng thực. Những chi phí này hiện nay đòi hỏi một giá đầu tư trung bình hơn 100 triệu đô la cho mỗi loại thuốc hay phương thức, dụng cụ. Các sản phẩm được tìm thấy trong tự nhiên từ thực – động vật thì không được cấp bằng độc quyền sáng chế và vì thế chúng không sinh ra dạng lợi nhuận này. Các nghiên cứu được thảo luận về sau cho thấy những sản phẩm không độc này thực sự an toàn và hiệu quả hơn so với dạng tương ứng được FDA chứng nhận và cấp bằng sáng chế là vì chúng được tìm thấy dưới dạng tự nhiên trong các thực thể sống. Cơ thể nhận biết các chất phi tự nhiên như là những chất lạ, ngoại lai và các chất phi tự nhiên này có thể khơi dậy các phản ứng dị ứng, sốc phản vệ, thậm chí gây tử vong. Các dạng thuốc tổng hợp muốn được cơ thể dung nạp phải có khả năng ngăn chặn hoặc phá vỡ khả năng trên của cơ thể, vì thế chúng không “hòa hợp” giống các chất tự nhiên, chẳng hạn như hormon tự nhiên, enzym tự nhiên, vitamin và kháng chất tự nhiên, … Nhưng người ta cũng biết rằng các nhà sản xuất đã làm biến đổi hormon tự nhiên một cách hoàn hảo chỉ để làm cho chúng có dáng vẻ như những chất phi tự nhiên và điều đó đồng nghĩa với việc sản phẩm của họ được cấp bằng độc quyền sáng chế, có thị trường được bảo vệ, cuối cùng là có được các khoản chi trả để được FDA chứng nhận.

Theo tạp chí U.S News of World Report số ra tháng 9/1997, hàng năm có khoảng 140.000 người chết bởi các tác dụng đối nghịch khi sử dụng các thuốc điều trị đã được FDA chứng nhận là “An toàn và Hiệu quả”.

Một nghiên cứu của Trường đại học tổng hợp Torondo báo cáo rằng đã tìm thấy các phản ứng gây độc với một số thuốc sử dụng không đúng và đây là một trong số các nguyên nhân dẫn đầu gây tử vong ở Mỹ sau bệnh tim, ung thư và đột quị. Văn phòng lý giải các vấn đề tổng hợp (General Accounting Office) ước tính rằng có 51% các thuốc được FDA chứng nhận đã gây ra những tác dụng phụ không mong muốn và chúng không được thẩm định cho tới khi những thuốc này tràn ngập thị trường trong thời gian dài, đủ để chúng bộc lộ các tác dụng phụ đó.

Hiện nay có nhiều người chết do sử dụng các loại thuốc hợp pháp được chính phủ cho phép hơn là số chết do các tai nạn xe hơi và số chết do các bệnh nhiễm trùng tại bệnh viện thì tương đương với số chết do tai nạn xe cộ.

Các tác dụng phụ âm thầm tiềm ẩn

Trong những trường hợp đã được báo cáo, bên cạnh tác hại gtaay tử vong của thuốc, thì thuốc còn có thể góp phần là nguyên nhân gây ra các bệnh tiềm ẩn. Các tác dụng phụ kéo dài gây ra những bệnh tiềm ẩn đó thì rất khó thẩm định và có thể sẽ chẳng được báo cáo. Hãy xem xét một trường hợp bệnh nhân tên là Mảy do tác giả Arabella Melville và Colin Johnson – người Anh báo cáo. Mary – một phụ nữ gần 30 tuổi, khỏe mạnh – là nạn nhân phải chịu rất nhiều stress. Khởi đầu chị bị chứng tim đập nhanh và thầy thuốc của chị đã kê cho chị một loại thuốc chặn β giao cảm là practolol. Chứng tim đập nhanh mất đi, nhưng những kỳ kinh của Mary trở nên hết sức nặng nề và chị thường bị hoa mắt chóng mặt. Có lần chị đã bị mù hoàn toàn trong vài giờ. Thầy thuốc của chị lại cho chị đeo kính màu. Dần dần Mary bị đau mỏi toàn thân, liên tục. Thầy thuốc kê cho chị các thuốc giảm đau. Khi Mảy đau dữ dội ở cổ và phải nằm liệt giường ba ngày, thầy thuốc cho chị cố định cổ bằng “cổ ngoại khoa” (surgical collar) kèm theo nhiều thuốc giảm đau hơn. Thế rồi mắt Mary vẫn tiếp tục đau, tai cũng đau và ù, da rất ngứa, chị khóc suốt ngày. Chị lại chẳng thể ngủ được cho dù thầy thuốc đã cho chị dùng các loại thuốc ngủ. Chưa hết, dạ dày của chị bắt đầu nôn nao, mũi và họng khô rát. Khi các cơn đau dạ dày trở nên trầm trọng thì sau cùng thầy thuốc đã cho chị ngừng practolol. Các vết ban ở da của Mary đã hết nhưng các phiền phức khác vẫn tiếp tục. Bụng chị to dần lên. Chị phải chịu đựng một cuộc phẫu thuật cắt tử cung và người ta đã lấy ra một khối mô liên kết có kích cỡ bằng quả bưởi chùm. Sau đó chị đã cố thử đi làm việc nhưng không thể làm được vì chị hay bị ngã. Mary lại được cho dùng thuốc giảm đau và các thuốc an thần. Chị tiếp tục chịu đựng cuộc mổ thứ hai và được giữ lại điều trị ở bệnh viện trong sáu tuần. Người ta tiến hành làm cho chị các xét nghiệm mở rộng và đi đến chẩn đoán Mary bị bệnh xơ cứng lan tỏa. Mary tin chắc rằng chị không bị bệnh đó, và rồi nghi ngờ của chị cũng được xác nhận với một chẩn đoán xác định là lupus ban đỏ hệ thống – một hội chứng biến chứng do dùng thuốc practolol. Thuốc này đã làm cho cơ thể Mary loại thải các tổ chức mô của chính chị như là loại thải các yếu tố ngoại lai.

Lupus là bệnh của tổ chức liên kết, nguyên nhân đặc hiệu của bệnh chưa rõ ràng, nhưng người ta ước tính 10% trong số 500.000 bệnh nhân bị bệnh này ở Mỹ là có liên quan tới thuốc. Những thủ phạm đã được biết gồm: procainamid – một loại chống loạn nhịp được dùng để điều chỉnh nhịp tim nhanh; quinidin – thuốc chống loạn nhịp; hydrazin và methyldopa – thuốc giảm huyết áp; isoniazid – thuốc chống lao; chlopromazin – thuốc an thần. Một số nguyên nhân phối hợp cũng đã được biết đến là: thuốc chống loạn thần lithium, nhiều thuốc chống co giật, các thuốc kháng giáp trạng, penicillamin (dùng điều trị thấp tim0, sulfasalazin (dùng điều trị hạ huyết áp). Người ta cũng chỉ ra nguyên nhân có thể gây bệnh với các thuốc estrogen, các kháng sinh penicillin và tetracyclin, acid para-aminosalicylic (dùng điều trị lao), muối vàng (điều trị thấp khớp), griseofulvin (trị nấm) và reserpin (thuốc hạ huyết áp).

Ở Mỹ practolol chưa bao giờ được giới thiệu, ở Anh thuốc này đã từng được sử dụng nhưng nay đã biến mất khỏi thị trường. Những nguy hiểm của việc dùng thuốc này đã không được làm sáng tỏ cho tới khi số người sử dụng nó lên tới một triệu trong một vài năm và tổng số nạn nhân của practolol lên tới 7.000 người.

Mary đã không thể đi được nếu k hông có sự hỗ trợ và p hải đeo một cái “cổ ngoại khoa” (surgical collar) trong nhiều năm sau khi cô đã ngừng thuốc practolol. Lẽ ra cô đã có thể làm gì để tránh được kết cục như vậy? Nếu biết trước thứ thuốc này sẽ gây ảnh hưởng tới mình thế nào thì hiển nhiên là Mary sẽ chẳng bao giờ dùng nó. Tuy nhiên nếu người ta chỉ đưa cô một mô tả chuyên môn về các tác dụng phụ tiềm tàng của practolol thì hậu quả của nó là lẽ đương nhiên!

Nghe không đến nỗi quá tổi khi các tác dụng phụ này được diễn đạt mơ hồ bằng các thuật ngữ tổng quát và được ghi nhận là “hiếm gặp” như: ban ở da, các ảnh hưởng ở khớp và cổ, các vấn đề ở tai, ở mắt…

Trang bị thông tin cho người tiêu dùng

Liệu rằng hầu hết các bệnh nhân sẽ lựa chọn sử dụng thuốc đã được kê hay không nếu như họ biết mọi thứ có thể diễn biến xấu đi khi dùng thuốc ấy là một vấn đề gây tranh cãi, bởi vậy thậm chí ngay cả các lời cảnh báo trên nhãn các chai lọ đụng thuốc cũng bị cắt xén đi. Không giống như những thuốc bày bán không cần đơn của bác sĩ là những loại được đóng bao và có dán các thông tin ghi chi tiết các tác dụng phụ của thuốc, các thuốc kê đơn thông thường được các dược sĩ lấy ra khỏi bao và để chúng vào những chai lọ không nhãn mác rồi chỉ dán vào đó tên bệnh nhân kèm theo thuốc và hướng dẫn sử dụng. Ở chừng mực nào đó, sự thiếu những lời cảnh báo này chỉ đơn thuần mang tính thiết thực. Người bán thuốc dùng những hộp chứa đựng có kích thước phù hợp, tiết kiệm, chúng chỉ gồm một bức thông tri cảnh báo về tác dụng phụ và chẳng thể phân phát cho tất cả mọi người tiêu dùng. Song ở góc độ khác, sự thiếu những cảnh báo này lại nằm trong dự định. Các bác sĩ biết rằng nếu bệnh nhân của họ biết được các nguy cơ của thuốc đó họ sẽ chẳng bao giờ dùng chúng. Các bác sĩ cũng cảm thấy hoàn toàn đúng đắn rằng họ có khả năng hơn bệnh nhân của mình trong việc cân nhắc, đắn đo các nguy cơ và đánh giá xem các  nguy cơ đó tác động tới từng trường hợp riêng biệt như thế nào.

Ủy ban quốc gia về giáo dục và thông tin cho người bệnh ở thủ đo Washington D.C khuyên bạn nên hỏi bác sĩ những câu hỏi sau đây về bất cứ thứ thuốc nào mà bác sĩ kê cho bạn:

Tên của thuốc là gì? Nó tác dụng như thế nào? Khi nào bạn dùng nó và dùng như thế nào? Dùng bao lâu? Loại thức ăn, nước uống nào, thuốc gì khác hay hoạt động gì bạn cần tránh trong thời gian dùng thuốc? Liệu có tác dụng phụ gì không? Nếu có bạn nên làm gì? Có thông tin nào về thuốc đó được viết ra không?

Dược sĩ của bạn là nguồn cung cấp thông tin tiềm tàng khác. Mặc dù đơn thuốc bác sĩ kê cho bạn không có các nhãn hiệu cảnh báo, bạn có thể yêu cầu dược sĩ cung cấp các thông tin đó.

Bạn cũng có thể tự tiến hành nghiên cứu độc lập. Thư viện ở địa phương bạn là một trong những nguồn cung cấp thông tin. Tạp chí Physical’s Desk Reference có chứa đựng các thông tin do những nhà sản xuất thuốc cung cấp, trong đó có cả thông tin về các tác dụng phụ mà sản phẩm của họ có thể gây ra. Muốn biết sâu hơn về các vấn đề tác dụng phụ của thuốc, hãy xem tạp chí Facts and Comparisons – tạp chí này được viết bởi các tác giả nghiên cứu độc lập nhau. Nếu bạn tìm hiểu rõ về các độc tính của thuốc mình dùng, bạn sẽ ý thức được việc bắt đầu tìm kiếm các dạng thay thế không độc trong thiên nhiên. Song điều đó đồng nghĩa với việc phải tiến hành các tìm hiểu sâu hơn.

Cuốn sách này được biên soạn nhằm làm đơn giản hóa nhu cầu tìm hiểu của bạn. Tin tưởng vào sự kê đơn của bác sĩ có một thuận lợi là nó làm cho bạn yên tâm, giảm được gánh nặng phải tự chọn một phương thức điều trị cho chính mình. Người tiêu dùng sử dụng các phương thức tự nhiên để điều trị là bỗng chốc họ trở thành bác sĩ của chính mình! Họ phải đối diện với rất nhiều các nguồn cung cấp và tất cả đều tương tự giống nhau. Những thông tin về thuốc, về các loại sản phẩm thay thế có thể là tràn ngập. Cuốn sách này đề cập tới một số bệnh, một số cách điều trị các bệnh đó cũng như những vấn đề hấp dẫn xung quanh chúng. Cuối cùng tập trung vào câu hỏi: Làm gì và không nên làm gì? Cái gì an toàn và cái gì không an toàn? Mọi thông tin đều do những người sử dụng thuốc ghi nhận và báo cáo.

Lynne Paige Walker và Ellen Hodfson Brown,
Biên dịch: BS. Bích Thủy và BS. Hải Yến.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *