Con đường Myanmar – Phần 4 – Thời điểm của những nhà chiến lược

Christoph Hein / Udo Schmidt
Nhà xuất bản Picus
Phan Ba dịch

Khi cơn bão giật tung mái nhà, khi nó ấn bẹp những bức tường tre giống như chúng được làm bằng bìa cứng và nâng những chiếc tàu thủy lên giống như chúng được làm bằng giấy, lúc đấy người Miến Điện biết rằng sẽ còn có nhiều thay đổi nữa: đối với họ, sự ầm ào này là một điềm báo của trời đất.

Cơn bão Nargis, năm 2008 đã cướp đi sinh mạng của hơn một trăm ngàn người trong Myanmar, đối với họ là một lời sấm, một sự khải thị, một dấu hiệu của thần thánh, rằng chính quyền quân đội bị căm ghét đó chẳng bao lâu nữa sẽ bị quét phăng đi, rằng cơn bão sẽ giật bỏ những bộ quân phục ra khỏi thân thể của các viên tướng lĩnh, chính quyền quân đội sẽ bị tẩy trừ ra khỏi đất nước, lần bắt đầu mới đang sắp đến. Họ đã đúng.

Xưa nay người Miến Điện đều nhìn vào những dấu hiệu từ tít trên cao. Không chỉ trước những quyết định lớn lao Than Shwe, người sếp tàn bạo của chính quyền quân đội, mới cho xem sao bói toán. Trong tháng 11 năm 2012, thủ đô Naypyidaw bị động đất lay chuyển. Lần này thì các thần thánh muốn nói gì với người Miến Điện? Trật tự nặng như chì trong phần đất này của châu Á bây giờ sẽ bị tan rã ra? Có nhiều điều cho thấy như thế. Nhưng đó là ý trời thì ít mà là chính trị của trần thế thì nhiều hơn, cái đang lay động cho đến tận các nền tảng của trung tâm này trong châu Á.

Continue reading “Con đường Myanmar – Phần 4 – Thời điểm của những nhà chiến lược” »

Cân bằng thân tâm – 24 – quá nhiều thức ăn, quá ít dục

24. Quá nhiều thức ăn, quá ít dục

Câu hỏi: “Từ khi mối quan hệ của tôi bị tan vỡ tôi đã ăn quá nhiều và béo ra. Làm sao tôi có thể thu lại cân bằng và ăn ít đi?”

Bất kì khi nào bạn không cho phép năng lượng dục di chuyển đúng thì nó bắt đầu gây ám ảnh với thức ăn. Thức ăn và dục là các cực; chúng cân bằng lẫn nhau. Nếu bạn có quá nhiều dục, mối quan tâm của bạn vào thức ăn sẽ biến mất. Nếu kìm nén tính dục, mối quan tâm của bạn tới thức ăn sẽ trở thành gần như sự ám ảnh. Cho nên bạn không thể làm được gì trực tiếp với thức ăn của mình, và nếu bạn cố, bạn sẽ thường xuyên trong rắc rối. Trong vài ngày bạn có thể xoay xở ép buộc bản thân mình, nhưng thế rồi bạn sẽ gặp vấn đề quay lại và nó sẽ quay lại với sự trả thù. Bạn sẽ phải làm việc trên năng lượng dục của mình.

Vấn đề nảy sinh bởi vì những kinh nghiệm đầu tiên về thức ăn và tình yêu đối với đứa trẻ có liên hệ rất sâu sắc. Nó lấy thức ăn từ vú mẹ và cả tình yêu nữa. Khi đứa trẻ có được tình yêu nó không lo về sữa; người mẹ phải thuyết phục nó. Nếu đứa trẻ không có được tình yêu, nó không rời bầu vú, bởi vì nó sợ cho tương lai. Nó phải uống thật nhiều hết sức vì nó không thể chắc chắn khi nào mẹ sẽ có sẵn. Nếu đứa trẻ có được tình yêu nó được an toàn; nó không bận tâm. Bất kì khi nào có nhu cầu người mẹ đều sẵn đấy; nó có thể tin cậy vào tình yêu của mẹ. Nhưng nếu người mẹ không yêu thế thì đứa trẻ không thể tin cậy được; thế thì nó phải uống thật hết sức nó. Nó cứ ăn quá nhiều.

Cho nên nếu đứa trẻ không nhận được tình yêu thì nó trở nên quan tâm tới thức ăn. Nếu nó nhận được tình yêu nó không quan tâm tới thức ăn, hay chỉ là mối quan tâm tự nhiên – đủ mức thân thể cần. Continue reading “Cân bằng thân tâm – 24 – quá nhiều thức ăn, quá ít dục” »

Dược khoa cho linh hồn – 09 – mắt bão

Vẫn bình thản, bình tĩnh và được nối

Chẩn đoán

Có những phẩm chất phát triển khi thiền sâu sắc lên. Chẳng hạn, bạn bắt đầu cảm thấy yêu mến chẳng bởi lí do nào hết cả. Không phải là tình yêu bạn biết, trong đó bạn phải rơi vào – không rơi vào yêu đâu. Nhưng chính là phẩm chất của yêu mến, không chỉ cho con người. Khi việc thiền của bạn sâu sắc, yêu mến của bạn sẽ bắt đầu lan toả ra ngoài nhân loại sang con vật, sang cây cối, thậm chí cả tảng đá, cả núi non.

Nếu bạn cảm thấy rằng cái gì đó bị bỏ lại từ tình yêu của bạn – điều đó có nghĩa là bạn bị mắc kẹt. Việc yêu của bạn nên lan toả tới toàn thể sự tồn tại. Khi việc thiền của bạn đi cao hơn, những nét thấp hơn của bạn sẽ bắt đầu rơi rụng đi. Bạn không thể xoay xở được cả hai. Bạn không thể giận dữ dễ dàng như bạn đã từng thế. Dần dần, dần dần bạn trở thành không thể giận dữ được. Bạn không thể dối trá, lừa gạt, bóc lột, theo bất kì cách nào. Bạn không thể gây tổn thương. Hình mẫu hành vi của bạn sẽ thay đổi với sự thay đổi tâm thức bên trong của bạn.

Bạn sẽ không rơi vào những khoảnh khắc buồn bã đó mà bạn vẫn thường rơi vào – thất vọng, thất bại, buồn rầu, cảm giác vô nghĩa, lo âu, khổ não; tất cả những điều này dần dần, dần dần trở thành kẻ ngoại lai.

Một khoảnh khắc tới khi mà dù bạn có muốn giận, bạn sẽ thấy điều đó là không thể được; bạn đã quên mất ngôn ngữ của giận dữ. Tiếng cười sẽ trở thành dễ dàng hơn. Khuôn mặt bạn, con mắt bạn, sẽ long lanh với ánh sáng bên trong nào đó. Bạn sẽ tự cảm thấy rằng bạn đã trở thành nhẹ nhàng, dường như sức hút trái đất không vận hành như nó vẫn thường vận hành trước đây. Bạn đã mất sức nặng, bởi vì tất cả những đặc tính này đều rất nặng nề – giận dữ, buồn bã, thất vọng, tinh ranh. Tất cả những cảm giác này đều rất nặng nề. Bạn không biết, nhưng chúng làm cho bạn lòng nặng trĩu và chúng cũng làm cho bạn thành nặng nề. Continue reading “Dược khoa cho linh hồn – 09 – mắt bão” »

Hành trình về phương Đông – 00 – Đôi nét về cuốn sách

Cuốn sách này là một phần trong bộ hồi ký nổi tiếng của giáo sư Blair T. Spalding (1857 – 1953). Nguyên tác “Life and Teaching of the Masters of the Far East” (xuất bản năm 1935) có tất cả sáu quyển, ghi nhận đầy đủ về cuộc hành trình gay go nhưng lý thú và tràn đầy sự huyền bí ở Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa và Ba Tư.

Ba quyển đầu ghi lại những cuộc thám hiểm của phái đoàn gồm các nhà khoa học hàng đầu của Hoàng gia Anh đi từ Anh quốc sang Ấn Độ, các cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn và những vị thầy tâm linh sống ở châu Á và ở dãy Hy Mã Lạp Sơn. Ba quyển sau là những ghi nhận riêng của giáo sư Spalding về các cuộc hành trình, sự trao đổi kiến thức giữa phái đoàn và các vị thầy tâm linh, cùng bản tường trình của phái đoàn đã đưa đến những cuộc tranh luận sôi nổi. Cuối cùng thì ba người trong phái đoàn đã trở lại Ấn Độ sống đời ẩn sĩ.

Hồi ký của giáo sư Spalding là một công trình nghiên cứu nghiêm túc với nhiều dữ kiện được đoàn ghi nhận đầy đủ một cách khoa học, và cho đến nay vẫn còn nhiều độc giả hâm mộ, nhiệt liệt tán thưởng các quyển hồi ký này.

Continue reading “Hành trình về phương Đông – 00 – Đôi nét về cuốn sách” »

Osho nói về Trang Tử

Osho

(Trích từ “Thuyền rỗng”, Bài nói ngẫu hứng của Osho cho đệ tử và bạn bè tại thính phòng Trang Tử, Poona, Ấn Độ)

Người đó, người cai trị mọi người, sống trong lẫn lộn,
người đó, người bị người khác cai trị, sống trong buồn khổ.
Đạo do đó không ham muốn ảnh hưởng đến người khác,
cũng không bị ảnh hưởng bởi họ.
Con đường để có được rõ ràng trong cái lẫn lộn
và thoát khỏi buồn khổ,
là sống với Đạo
trên mảnh đất của hư không.

Nếu một người đi thuyền qua sông
và chiếc đò trống vô tình trôi đụng phải,
dù người có hẹp lòng đến đâu
cũng không giận dữ bao giờ.
Nhưng nếu thấy người trên thuyền đó
thì đã thấy chủ đò giận dữ,
la lối một lần bên thuyền chẳng nghe
tất la lối đến hai lần,
hai lần cũng chẳng ai nghe
tất la lối đến ba lần rồi buông lời chửi mắng.
Trước không giận mà nay giận là vì sao
vì trước không có người nay lại có người,
nếu như thuyền trống rỗng
người đó ắt chẳng la lối, cũng chẳng giận dữ.

Nếu biết làm trống rỗng con thuyền của mình
đi qua dòng sông thế giới này,
chẳng ai đối lập lại mình.
chẳng ai tìm cách hại mình.
Cây mọc thẳng là cây đầu tiên bị chặt xuống
dòng nước trong là dòng nước đầu tiên bị tát cạn khô.
Nếu muốn làm tăng khôn ngoan
và xấu hổ với người dốt nát,
để đạt được cá tính mình và chiếu sáng người khác
bằng ánh sáng chiếu quanh mình
như mình nuốt được cả mặt trời mặt trăng
thì sẽ không tránh khỏi tai ương.

Người trí huệ đã nói:
“người tự bằng lòng với mình
thì đã làm một việc vô giá trị,
thành đạt là bắt đầu của thất bại,
nổi tiếng là bắt đầu của ghét bỏ.”
Người có thể giải phóng mình khỏi thành đạt và danh vọng
hạ xuống và mất đi trong số đông mọi người,
người đó sẽ tuôn chảy như Đạo, vô hình
người đó sẽ đi giống như bản thân cuộc sống
không tên tuổi và không nhà cửa.

Người đó đơn giản, không phân biệt
với mọi dáng vẻ người đó đều ngây ngô,
người đó bước đi không để lại dấu vết gì.

Người đó không có quyền năng
người đó chẳng đạt được cái gì.
Người đó không có danh tiếng
vì người đó không phán xét ai
không ai phán xét người đó.
Người hoàn hảo như vậy -
con thuyền của người đó trống rỗng.

Continue reading “Osho nói về Trang Tử” »

tháng 10 05

Giới thiệu căn bản Phật giáo trong năm phút

Dhammika sinh năm 1951 ở Úc.

Lược dịch từ bài “Basic Buddhism: A Five-Minute Introduction” (Căn bản Phật giáo: Giới thiệu trong năm phút), trong quyển “Good Question, Good Answer” (Khéo Vấn, Khéo Đáp) của Bhikkhu Dhammika, ấn bản Internet (http://www.buddhanet.net/).

Hỏi: Phật Giáo là gì?

Đáp: Phật Giáo là một tôn giáo có khoảng 300 triệu tín đồ trên khắp thế giới. Danh từ Phật Giáo (Buddhism) phát nguồn từ chữ “buddhi”, có nghĩa “giác ngộ”, “thức tỉnh”. Phật Giáo phát nguồn từ hơn 2,500 năm trước, khi Ngài Siddhattha Gotama (Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm), hay Đức Phật, tự mình giác ngộ vào lúc 35 tuổi.

Hỏi: Có phải Phật Giáo chỉ thuần là một tôn giáo?

Đáp: Đối với nhiều người, Phật Giáo không phải chỉ là một tôn giáo mà còn có thể xem như là một triết học, hay đúng hơn, đó là “một lối sống”. Gọi Phật Giáo là một triết học, vì danh từ “triết học – philosophy” có nghĩa là “sự yêu chuộng trí tuệ”, và con đường của đạo Phật có thể tóm tắt như sau:

(1) sống có đạo đức,

(2) nhận thức rõ ràng về mọi ý nghĩ và hành động, và

(3) phát triển sự hiểu biết và trí tuệ.

Hỏi: Phật Giáo giúp tôi bằng cách nào?

Đáp: Phật Giáo giải thích mục đích của đời sống, giải thích hiện tượng bất công và bất bình đẳng trên thế gian, và cung ứng một phương cách thực hành hay một lối sống để đưa đến hạnh phúc thật sự.

Hỏi: Tại sao Phật Giáo trở nên phổ biến?

Đáp: Phật Giáo ngày càng phổ biến ở các nước Tây phương vì nhiều lý do. Thứ nhất là vì Phật Giáo có những giải đáp cho nhiều vấn đề trong các xã hội vật chất hiện đại. Tiếp đến, cho những ai có chú tâm, Phật Giáo cung ứng một sự thông hiểu sâu sắc về tâm trí con người và các cách trị liệu tự nhiên, mà các nhà tâm lý nổi tiếng trên thế giới đều công nhận là rất cao cấp và rất hiệu quả.

Hỏi: Đức Phật là ai?

Đáp: Ngài Siddhattha Gotama sinh ra vào năm 563 trước Tây Lịch, trong một hoàng tộc tại Lumbini, nay thuộc xứ Nepal. Vào năm 29 tuổi, Ngài nhận thức rằng tiện nghi vật chất và an ninh trong thế gian không bảo đảm hạnh phúc; vì thế, Ngài đi tìm học các lời dạy, tôn giáo và triết học thời đó, để tìm kiếm chìa khóa đưa đến hạnh phúc. Sau sáu năm học tập và hành thiền, Ngài tìm ra con đường “Trung Đạo” và giác ngộ. Sau khi chứng đắc, Ngài dùng quảng đời còn lại tại thế gian để truyền giảng các nguyên lý trong đạo Phật — gọi là Pháp, hay Chân lý, cho đến khi Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi.

Continue reading “Giới thiệu căn bản Phật giáo trong năm phút” »

tháng 9 20

Sách thuốc Thiên Ân

Lương y Nguyễn Văn Quỳnh

69 Yên Đỗ, Tân Thành, Tân Phú, tp. HCM

Những bài thuốc dưới đây là của trời ban tặng cho mọi người chúng ta qua tay tôi. Chúng ta phải cám ơn trời. Tôi có bổn phận phải phổ biến cho mọi người để đem lại vui tươi và hạnh phúc cho mọi người, nhất là người nghèo và những người cần đến.

Năm 1979, tôi bị đau bao tử rất nặng, ăn gì cũng đau, uống gì cũng đau, đi xe đạp là đau nhiều, tiền không có, thuốc thì hiếm, phải đến đường Nguyễn Thông, Tp. HCM mới có thuốc. Nhưng tiền không có phải chịu bó tay. Tôi tự nghĩ vỏ chanh là tiêu độc diện trùng bài lao. Thế là tôi tự thử nghiệm cho chính tôi xem kết quả thế nào?  Tôi ra chợ lượm vở chanh người ta ăn hàng bỏ vỏ về rửa sạch, lột màng chua rồi rửa lại cho thật sạch.  Nấu sôi 10 phút, đậy vung tắt bếp để cho nguội uống. Kết quả đúng như tôi nghĩ là bớt đau ngay ngày đầu rồi tôi tiếp tục uống mỗi  ngày một đỡ đau trông thấy. Uống khoảng một tuần lễ là hết đau. Nhưng phải kiêng đồ chua như Cà chua, thơm (dứa), chuối, các thứ chua…

Từ ngày đó tôi thử nghiệm qua tôi và qua người khác đều có kết quả. Cứ như vậy tôi nghĩ gì là tôi thử nghiệm đều có kết quả. Tôi nghĩ là đúng trời ban tặng cho mọi người chúng ta những bài thuốc quý giá mà tôi thử nghiệm dưới đây.

Continue reading “Sách thuốc Thiên Ân” »

tháng 9 18

Từ Huệ – 02 – chấp bút Bí Pháp Luyện Đạo

Hiền tài Nguyễn văn Mới, đạo hiệu Từ Huệ, tốc ký viên của Đức Hộ Pháp.

NHỮNG BÀI THUYẾT ĐẠO

Lúc còn trẻ, Từ Huệ đã muốn đem sức mình làm một điều gì đó giúp đạo. Khi đi tham dự những buổi lễ trong đạo, Từ Huệ nhận thấy những bài diễn văn của các chức sắc cao cấp, nhất là những bài ứng khẩu thì không được ghi lại. Đặc biệt những bài thuyết đạo của Đức Hộ  Pháp là vô cùng quí báu bởi vì, chúng ta cũng đã biết, theo Tân Luật Pháp Chánh Truyền trong Tam Kỳ Phổ Độ, các chức vụ bên Cửu Trùng Đài có thể được công cử lên. Nghĩa là các phẩm từ Lễ Sanh cho đến Giáo Tông có thể được thay thế. Trái lại, bên Hiệp Thiên Đài không có luật công cử, Hộ Pháp chỉ giáng linh một lần duy nhất, không có chuyện “bầu cử” Hộ Pháp khác. Do vậy lời thuyết đạo của Hộ Pháp dành cho chúng sanh trong suốt thất ức niên chỉ có lần này là lần duy nhất. Với ý nghĩ đó Từ Huệ lập chí lưu lời nói của Ngài. Từ Huệ rủ một số bạn cùng chí hướng đi học tốc ký. Cũng nên biết, lúc bấy giờ chưa có những loại máy ghi âm hiện đại, cho nên tốc ký là cách duy nhất có thể ghi lại một bài nói chuyện. Sau đó Từ Huệ lập ra một ban tốc ký chuyên ghi lại lời thuyết đạo của Hộ Pháp cũng như các chức sắc cao cấp khác.

Ghi tốc ký cũng có khuyết điểm nhất định. Nếu diễn giả nói nhanh quá, hoặc diễn đạt một ý tưởng quá phức tạp khó hiểu, thì tốc ký viên có thể ghi không đầy đủ. Để khắc phục yếu điểm này, Từ Huệ cặm cụi nghiên cứu và sáng tạo một phương pháp ghi tốc ký nhanh hơn. Ngoài ra, mỗi khi ghi tốc ký đều phân công ít nhất là hai tốc ký viên để bổ sung cho nhau. Mỗi bài ghi xong đều được trình lên cho Đức Hộ Pháp xem lại trước khi đánh máy sao ra làm nhiều bản để lưu trữ. Từ Huệ và các bạn cùng nguyện lòng nếu sau này có cơ hội, sẽ cho in các bài thuyết đạo này ra cho các thế hệ đời sau học hỏi.

Continue reading “Từ Huệ – 02 – chấp bút Bí Pháp Luyện Đạo” »

tháng 9 18

Từ Huệ – 01 – Đạo Cao Đài

Từ Huệ (Nguyễn văn Mới) lúc còn trẻ.

TUỔI THƠ TỪ HUỆ

Có lẽ nên bắt đầu từ một cột mốc rất quan trọng trong cuộc đời của Từ Huệ: ấy là khi Đức Chí Tôn Thượng Đế giáng trong một đàn cơ phổ độ vào khoảng năm 1926. Trong giai đoạn lập đạo, Đức Chí Tôn dạy các đệ tử lập ra các cặp phò loan, đi về các tỉnh để tiếp nhận thêm đệ tử mới. Lúc ấy ông Nguyễn văn Lai, một Hương Cả ở làng Hiệp Phước, Nhà Bè, Gia Định có đến dự một đàn cơ tại chùa Gò Kén vì tò mò là chính. Trong lúc mọi người đang quì hầu đàn thì cơ giáng gọi Nguyễn văn Lai vào dạy việc. Ông Lai rất ngạc nhiên vì cả những vị phò loan lẫn những người trong đàn đều không biết ông. Khi ông Lai vào hầu, thì cơ giáng cho bài thơ sau:

Lai châu tiếng hạc gáy reo vang
Sao chẳng tỉnh mê giấc ngỡ ngàng
Năm lụn ngày qua thêm chất tuổi
Những là lỡ lính với lừa quan

(Ngày 14-Bính Dần – chùa Gò Kén – Tây Ninh,
Trích Đạo Sử quyển I – trang 67)

Kể từ ấy con người của ông Lai đổi khác. Ông bắt đầu sắp xếp chuyện làm ăn để dành nhiều thì giờ hơn cho việc học đạo. Ông đọc các sách vở có sẵn về tôn giáo, lo làm phước, giúp người nghèo. Nói chung, ông làm tất cả những gì mà người đời gọi là “tu”. Cuối cùng ông làm một việc quan trọng nhất cuộc đời mình: quyết định từ bỏ nhà cửa ruộng đất đang có để dời về thánh địa Tây Ninh. Ông nghĩ rằng về thánh địa sẽ có nhiều cơ hội hơn để học đạo và hành đạo.

Lúc bấy giờ, ông nuôi dưỡng hai người cháu nội mồ côi là Nguyễn văn Thới và Nguyễn văn Mới. Hai anh em Thới và Mới ăn cơm chay trong đền thánh, đi học Đạo Đức Học Đường. Nói tóm lại, Thới và Mới là những con người hoàn toàn do đạo nuôi dưỡng và dạy dỗ trong khi ông Lai dành trọn cuộc đời mình cho đạo.

Trong số hai đứa cháu nội của ông, cháu Mới đặc biệt học hành có nhiều triển vọng. Nhưng rồi bỗng đâu đất bằng nổi sóng! Một hôm, đến trước cổng trường, Mới ngỡ ngàng khi thấy trường đã bị người Pháp chiếm đóng. Lúc đó, người Pháp đã bắt Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và một số chức sắc cao cấp đày sang đảo Réunion. Toàn bộ cơ sở của đạo, kể cả Đền Thánh – lúc này đang xây dựng dở dang – đều bị chiếm giữ. Người Pháp quyết tâm dẹp bỏ những lực lượng yêu nước lúc bấy giờ đang nổi lên khắp nơi trong nước. Và dưới con mắt của họ, Đạo Cao Đài chỉ là một lực lượng nổi loạn chống lại Chính Quyền Bảo Hộ Pháp. Thậm chí họ còn gán cho đạo là theo Đức Quốc Xã bởi vì trên nóc Đền Thánh có chữ Vạn giống huy hiệu của Phát Xít Đức!

Continue reading “Từ Huệ – 01 – Đạo Cao Đài” »

tháng 9 18

Trần Đăng Khoa: thuốc quý đã có sẵn quanh ta

Lá đu đủ và sả.

VOV.VN – Bệnh nào trời sinh ra, trời cũng cho thuốc trị. Những vị thuốc đơn giản ở ngay xung quanh ta lại có thể trị được cả bệnh ung thư.

Câu nói chắc như đinh đóng cột này không phải kết luận của một nhà khoa học hay một thầy thuốc lừng danh nào đó, mà lại là sự khẳng định của một bà nhà quê chân lấm tay bùn, đã ở tuổi 90, hầu như cả đời chẳng bao giờ bước chân ra khỏi làng. Bà cũng dị ứng luôn với cả giới khoa học. Cứ như lời bà thì dân có học chỉ là lũ mách qué, ăn no rửng mỡ rồi nói linh tinh. Không phải chỉ nói trong những buổi tuyên truyền vệ sinh dịch tễ ở xóm, ở phường, mà họ còn viết đầy cả lên mặt báo.

Thì đấy! Họ bảo hôn nhau là truyền sang nhau hàng triệu triệu con vi trùng. Khiếp! Thế chả nhẽ trước khi hôn nhau, người ta phải nhúng miệng vào nước sôi, đeo khẩu trang hoặc sát cồn và bôi I ốt ư? Ngày xưa, nuôi con, bà toàn nhai cơm rồi mớm cho chúng. Miếng cơm đỏ quạch quết trầu, thế mà, có thấy con vi trùng, virus nào đâu. Sáu đứa con bà lớn lên, ai cũng ùng ục như đô vật cả.

Cũng theo lời bà thì “giời sinh voi, giời ắt sẽ sinh cỏ”, rồi đâu cũng vào đấy tất. Bệnh tật nào giời sinh ra, giời cũng lại cho thuốc chữa trị. Thuốc đầy vườn kia kìa. Thuốc ở trong cây lá đấy. Thuốc đầy xung quanh ta, ở đâu cũng có. Chỉ con người mới ngu đần. Không ngu đần sao lại chết ngay bên đống thuốc?

Tưởng đó chỉ là chuyện tầm phào. Ai ngờ thật, giời ạ!

Cách đây cũng đã lâu, không biết ai đó đã gửi cho tôi một bài thuốc chữa ung thư. Một căn bệnh hiểm nghèo, cả thế giới còn đang bó tay mà cách chữa lại quá đơn giản, chỉ lấy lá đu đủ nấu uống như uống nước chè, thế mà lại khỏi bệnh. Người gửi cho tôi bài thuốc rất quý ấy lại không ghi tên. Bài thuốc như một cái đơn nặc danh, người nói không chịu trách nhiệm về những gì mình nói. Thế thì, làm sao mà có thể tin được?

Tôi không tin nhưng rồi cứ để đấy tham khảo. Như người ta nói, “có bệnh thì vái tứ phương”, đã vái khắp thiên hạ rồi thì vái thêm một cái nữa vào cõi mịt mù thì cũng đã sao? Tôi nghĩ thế và chuyển bài thuốc vu vơ ấy cho một số bạn bè, như một tư liệu tham khảo. Thế mà rồi bất ngờ, tôi nhận được mấy lời cảm ơn, không phải lời cảm ơn theo kiểu xã giao, mà “Cảm ơn anh. Bài thuốc đúng là thần dược. Nhà em chuyển bệnh rồi”. Có người lại còn hỏi tôi địa chỉ nhà để đến hậu tạ.

Gần đây nhất là nhà thơ Trương Hữu Lợi. Anh nhiều năm là Trưởng phòng Văn nghệ thiếu nhi (Đài TNVN), là tác giả của chuyên mục: “Kể chuyện và hát ru cho bé”. Trương Hữu Lợi bị ung thư phổi. Anh đã xạ trị, tóc cũng đã rụng hết. Bệnh ung thư phổi thường đi rất nhanh, nhiều người không trụ nổi ba tháng. Vậy mà nhà thơ đã qua 5 năm, tóc xanh mướt, da hồng hào.

Thật là một điều kỳ diệu!

Continue reading “Trần Đăng Khoa: thuốc quý đã có sẵn quanh ta” »

Trang 1/9412345...102030...94