Diện chẩn là gì?

Thầy Bùi Quốc Châu và Nguyễn Văn San tại Hội thảo Quốc tế về Diện Chẩn tại Paris năm 2009. Ngày 26/3/1980, ngày thầy Châu tìm ra huyệt số 1 trên mũi, được lấy làm ngày ra đời của Diện Chẩn.

GS. TSKH. Bùi Quốc Châu và Thạc sĩ Nguyễn Văn San tại Hội thảo Quốc tế về Diện Chẩn tại Paris năm 2009.

Diện Chẩn là gì?

Diện Chẩn là một phương pháp hỗ trợ sức khỏe không dùng thuốc của Việt Nam, ra đời ngày 26/3/1980 – ngày thầy Châu tìm ra huyệt số 1.

Tên đầy đủ của phương pháp là “Diện Chẩn – Điều khiển Liệu pháp”, được dịch từng chữ ra tiếng Anh là “Face Diagnosis and Cybernetic Therapy”. Tuy nhiên, cách gọi này không được dùng phổ biến bằng: Multi-reflexology (Phản xạ học đa hệ), Facial Reflexology (Phản xạ học vùng mặt), Vietnamese Reflexology (Phản xạ học Việt Nam), hoặc dùng luôn tiếng Việt không dấu là “Dien Chan”.

Trong tiếng Việt, ta cần phân biệt Diện Chẩn với Vọng chẩn. “Chẩn” là chẩn đoán, xem xét các triệu chứng lâm sàng. Vọng chẩn là xem bệnh thông qua quan sát hình thể, là một trong Tứ chẩn của Đông y, gồm: Vọng (nhìn) – Văn (nghe và ngửi) – Vấn (hỏi) – Thiết (xem mạch và sờ nắn). Về mặt ngôn từ, Diện Chẩn có thế được hiểu nôm na là xem mặt đoán bệnh và rất dễ nhầm nó thành một phần của Vọng chẩn. Trên thực tế thì Diện Chẩn đã trở thành một danh xưng riêng để chỉ đến một phương pháp hỗ trợ sức khỏe mới của Việt Nam – phương pháp Phản xạ học đa hệ.

Trong lĩnh vực phản xạ thần kinh, trước kia thế giới có Xoa bóp bàn chân (Food Massage) và Nhĩ châm (Auricular Acupuncture), thì nay có thêm Su Jok (Châm cứu trên tay và chân) của người Hàn Quốc và Diện Chẩn (với cái tên ban đầu là Diện châm – châm cứu trên mặt) của người Việt Nam. Diện Chẩn được biết đến với cái tên Phản xạ học đa hệ vì nó có các đồ hình phản chiếu thần kinh đa hệ của nội tạng và ngoại vi: trên mặt, trên lòng bàn tay, lòng bàn chân, lưng, bụng, và cả trên tai nữa.

Về mặt hình thức, ta có thể so sánh Diện Chẩn với Châm cứu như sau: Châm cứu là dùng kim để châm vào các huyệt đạo của hệ kinh lạc và dùng ngải cứu để hơ nóng, còn Diện Chẩn dùng que dò để day ấn vào các sinh huyệt là các điểm nhạy cảm trên da nằm trong các vùng phản xạ thần kinh rồi cũng dùng ngải cứu để hơ nóng.

Ngoài day và cứu các sinh huyệt, Diện Chẩn còn dùng các dụng cụ có hình dạng và kích thước khác nhau để lăn, hơ, gõ, cào vào các vùng theo đồ hình phản chiếu hoặc đồ hình đồng ứng. Các tác động của Diện Chẩn theo đồ hình và sinh huyệt này sẽ tạo ra các cảm giác đau, tức, buốt, tê, rát, nóng khác nhau, giúp kích hoạt các cơ chế tự chữa bệnh của cơ thể.

Cơ thể của chúng ta là một bộ máy rất kỳ diệu, nó có các cơ chế tự động giúp chúng ta thích nghi với môi trường và hóa giải các tác nhân gây bệnh. Diện Chẩn là một phương pháp có khả năng giúp nâng cao sức đề kháng và khả năng miễn dịch, giúp khai thông các tắc nghẽn và thúc đẩy các tiến trình cân bằng, giúp ta có được một trạng thái nhẹ nhõm và dễ chịu. Chính vì thế, Diện Chẩn có thể hỗ trợ cho việc điều trị các loại bệnh tật, từ giảm đau nhức bên ngoài đến phục hồi chức năng bên trong.

Đặc biệt, Diện Chẩn mang trong nó dấu ấn của chữa mẹo, một số nét văn hóa dân gian của Việt Nam, và đặc biệt là ngôn ngữ Việt, vì ta có thể tác động vào bộ phận mà khi đọc lên có âm (bằng tiếng Việt) giống với cơ quan bị bệnh để hỗ trợ điều trị, chẳng hạn: lăn hơ dái tai giúp hỗ trợ điều trị các bệnh ở bộ phận sinh dục nam; lăn hơ sống mũi, sống tai, sống tay, sống chân giúp làm giảm đau ở sống lưng; ấn vào đầu ngón tay, đầu ngón chân, xoa đầu gối giúp làm giảm đau nhức ở đầu,

Diện Chẩn là một phương pháp ít tốn kém và gần như không có tác dụng phụ, nên mọi người có thể dùng nó để tự phòng và chữa bệnh trong gia đình, giảm thiểu sự lệ thuộc vào thuốc men, bác sĩ và bệnh viện. Phương pháp này vừa dễ học, dễ làm, vừa có hiệu quả cao, nên nó được mọi người tin dùng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới.

Hà Nội, ngày 16/9/2012

Thạc sĩ Nguyễn Văn San

Bài tập kéo đầu gối thở ra làm mềm bụng

Đỗ Đức Ngọc

- Thở ra thì bụng phải xẹp xuống, không gồng. Bụng cần phải được xẹp xuống sâu và mềm.

- Thở ra bằng miệng (Áp huyết cao – thở ra bằng miệng / Áp huyết thấp – thở ra bằng mũi)
Cứ thay phiên đổi chân (bên chân phải 1 lần xong chân bên trái 1 lần)

Để chữa đau lưng, chân gối, áp huyết, … mỗi ngày ít nhất làm 200 lần. Nếu bị bệnh nan y thì phải luyện bài kéo ép gối này ngày 2000 lần để chữa bệnh. Continue reading “Bài tập kéo đầu gối thở ra làm mềm bụng” »

Dược khoa cho linh hồn – 08 – tạo kết nối thân tâm

Luyện tập về mạnh khoẻ và cái toàn thể

Chẩn đoán

Mulla Nasruddin ra làm chứng trước toà. Anh ta để ý rằng mọi thứ anh ta đã nói đều được phóng viên toà án ghi lại. Khi anh ta tiếp tục anh ta bắt đầu nói nhanh hơn rồi nhanh hơn nữa. Cuối cùng anh phóng viên điên cuồng giữ nhịp với anh ta. Đột nhiên Mulla nói, “Trời ơi, thưa ngài. Đừng viết nhanh thế. Tôi không thể bắt kịp ông.”

Tôi không theo đồng hồ chút nào. Nhưng tôi đã đi tới hiểu thân thể mình. Tôi đã đi tới cảm thấy nhu cầu của nó. Tôi đã biết nhiều bằng việc nghe nó. Và nếu bạn cũng lắng nghe và bạn trở nên chăm chú vào thân thể mình, bạn sẽ bắt đầu có một kỉ luật mà không thể gọi là kỉ luật được.

Tôi đã không bó buộc nó lên bản thân mình. Tôi đã cố gắng đủ mọi thứ trong cuộc sống của mình. Tôi đã liên tục thực nghiệm chỉ để cảm thấy thân thể tôi khớp hoàn hảo ở đâu. Có thời tôi hay dậy sớm, và ba giờ sáng. Rồi vào bốn giờ, rồi vào năm giờ. Bây giờ tôi hay dậy lúc sáu giờ trong nhiều năm. Dần dần tôi quan sát cái gì khớp với thân thể mình. Người ta phải rất nhạy cảm.

Bây giờ các nhà sinh lí nói rằng thân thể mọi người, khi ngủ, mất nhiệt độ thường của nó trong hai giờ; nhiệt độ tụt xuống hai độ (Fahrenheit). Điều đó có thể xảy ra cho bạn giữa ba và năm, hay hai và bốn, hay bốn và sáu, nhưng thân thể mọi người đều tụt nhiệt độ đi hai độ vào mọi đêm. Và hai giờ đó là giấc ngủ sâu nhất. Nếu bạn dậy giữa hai giờ đó, cả ngày bạn sẽ cảm thấy bị mất phương hướng. Bạn có thể đã ngủ sáu, bẩy giờ; điều đó chẳng tạo ra khác biệt. Nếu bạn dậy giữa hai giờ này khi nhiệt độ đang thấp, thế thì bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi cả ngày, buồn ngủ, ngáp ngắn ngáp dài. Và bạn sẽ cảm thấy rằng cái gì đó bị thiếu. Bạn sẽ bị rối loạn hơn, thân thể sẽ cảm thấy không mạnh khoẻ. Continue reading “Dược khoa cho linh hồn – 08 – tạo kết nối thân tâm” »

Tây Tạng huyền bí – 08 – yết kiến Đạt-lai Lạt-ma

Nguyên tác “The Third Eye” của Lạt-ma Lobsang Rampa – Nguyễn Hữu Kiệt dịch, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính.

Chương 8: Yết kiến Đạt-lai Lạt-ma

Một buổi sáng thứ Hai, Đại đức Minh Gia cho tôi biết rằng cuộc viếng thăm điện Potala của chúng tôi đã được định vào cuối tuần. Người nói:

- Chúng ta phải tập dượt cho quen với các nghi lễ. Buổi trình diện của con phải diễn ra một cách thật hoàn mỹ.

Gần lớp học của chúng tôi có một ngôi đền nhỏ bỏ hoang, trong đó có một pho tượng của đức Đạt-lai Lạt- ma, kích thước lớn bằng người thật. Sư phụ tôi nói:

- Lâm Bá, con hãy nhìn ta đây. Ta sẽ chỉ dẫn cho con những gì cần phải làm. Con bước vào, hai mắt nhìn xuống đất, như thế này. Con đi tới chỗ này và quì xuống trước mặt đức Đạt-lai Lạt-ma khi còn cách xa Ngài độ chừng một thước rưỡi. Con hãy thè lưỡi ra để chào Ngài và cúi đầu xuống, một lần, hai lần và ba lần. Vẫn quì gối và cúi đầu, con đặt chiếc khăn quàng lên hai bàn chân Ngài, như thế này. Kế đó con đứng lên, nhưng vẫn cúi đầu để cho Ngài có thể đặt một khăn quàng của Ngài lên cổ của con. Con đếm từ một cho đến mười, để khỏi phạm lỗi vội vàng hấp tấp, rồi con ngẩng mặt lên và đi lùi lại cho đến chiếc nệm đầu tiên còn bỏ trống chưa ai ngồi.

Tôi theo dõi sự chỉ dẫn của sư phụ. Người tỏ ra rất thông thạo vì đã quen thuộc nghi lễ ấy từ lâu. Người lại nói:

- Bây giờ, ta cho con một lời khuyên. Trước khi đi lùi lại phía sau, với một cái liếc nhìn mau lẹ và kín đáo, con hãy tìm ra vị trí của chiếc nệm gần nhất. Không nên để vướng chân vào đó rồi phải nhảy nhổm lên để khỏi té! Người ta dễ bị vấp ngã trong lúc hồi hộp kích động như thế. Bây giờ đến phiên con dượt lại… Con hãy làm lại cho đúng.

Continue reading “Tây Tạng huyền bí – 08 – yết kiến Đạt-lai Lạt-ma” »

Cân bằng thân tâm – 27 – năng lực chữa lành của thiền

27. Năng lực chữa lành của Thiền

Từ “thiền – meditation” và từ “thuốc – medicine” có cùng gốc. Thuốc nghĩa là cái chữa lành về thể chất, còn thiền nghĩa là cái chữa lành về tâm linh. Cả hai đều là những năng lực chữa lành.

Một điều khác cần phải nhớ: từ “chữa lành – healing” và từ “toàn thể – whole” cũng có cùng gốc. Được chữa lành đơn giản có nghĩa là toàn thể, không bỏ lỡ bất kì điều gì. Một nghĩa khác của từ này – từ “linh thiêng – holy” cũng bắt nguồn từ cùng gốc. Chữa lành, toàn thể, linh thiêng là không khác biệt về nguồn gốc.

Thiền chữa lành, làm bạn thành toàn thể, và là toàn thể là linh thiêng. Tính linh thiêng chẳng liên quan gì tới việc thuộc vào bất kì tôn giáo nào, thuộc vào bất kì nhà thờ nào. Nó đơn giản có nghĩa là bên trong mình, bạn là toàn thể, đầy đủ; không cái gì thiếu, bạn được hoàn thành. Bạn là điều mà sự tồn tại muốn bạn là vậy. Bạn đã nhận ra tiềm năng của mình. Continue reading “Cân bằng thân tâm – 27 – năng lực chữa lành của thiền” »

tháng 5 27

Chìa khóa vạn năng

tháng 8 28

Hành trình về phương đông – 04 – Trên đường thiên lý

Chương 4: Trên đường thiên lý

Cuộc tiếp xúc với Sudeih Babu đã khiến mọi người bắt đầu cởi bỏ các thành kiến dị biệt, các quan niệm bảo thủ và lòng tự hào của người Âu để bắt đầu quan sát, học hỏi thêm về nền minh triết bí truyền của Á châu.

Phái đoàn bắt đầu cuộc hành trình nhắm hướng Rishkesh trực chỉ. Lúc đầu, đường xá còn tốt nên việc di chuyển còn nhanh chóng, nhưng về sau có những đoạn đường bị ngắt quãng, phái đoàn phải dùng lừa, ngựa hoặc đôi khi phải đi bộ qua các eo núi. Sự kiện một nhóm người Âu di chuyển trên những con đường độc đáo, hẻo lánh là một điều chưa hề xảy ra. Các sĩ quan quân lực Hoàng gia đã hết sức ngăn cản vì lý do an ninh. Mặc dù Ấn Độ là thuộc địa của Anh, nhưng nhiều địa phương vẫn không hợp tác với chính quyền. Việc di chuyển đòi hỏi sự hộ tống của lực lượng quân đội vũ trang đầy đủ. Có nhiều vùng, ngay cả dân địa phương cũng ít dám qua lại, vì có những đảng cướp hoạt động mạnh mẽ. Để đề phòng, phái đoàn đã vũ trang cẩn thận, nhưng trong suốt thời gian di chuyển không hề có một sự kiện đáng tiếc nào xảy ra. Toàn thể mọi người có cảm tưởng như được che chở bởi một quyền năng mạnh mẽ vô hình.

Trên đường, phái đoàn đi qua một đền thờ của đạo Jain. Căn bản của tôn giáo này xây dựng trên chủ trương mở rộng lòng từ bi (Ahimsa). Tín đồ đạo Jain thực hành lý tưởng Ahimsa triệt để, đôi khi có vẻ quá khích. Đạo Jain được thành lập hơn 2.000 năm, do đức Mahavira, một vị hoàng tử đã từ bỏ cung vàng điện ngọc vào rừng tu hành và đắc đạo. Ngay khi bước chân vào đền, người ta đã thấy ngay pho tượng đức Mahavira ngồi thiền, trên trán có gắn một viên kim cương lớn. Trước khi vào đây, du khách phải cởi thắt lưng, giày dép, những vật gì làm bằng da thú, sừng, ngà voi, v.v. – tất cả các vật do sự giết chóc mà ra. Sở dĩ phải làm thế, vì giáo lý Ahimsa dạy các tín đồ phái này không được sát sinh, ăn thịt cá, mà ngay trong nhà cũng không được chứa một thứ gì của sự giết chóc. Các giáo sĩ đạo Jain mặc toàn đồ trắng, trên mặt bịt một miếng vải thưa chỉ chừa đôi mắt. Họ làm thế để tránh loài ruồi, muỗi khỏi bay lọt vào mũi, miệng. Vì lòng từ bi (Ahimsa) bao trùm tất cả, lỡ có sâu bọ nào vô phúc bay lọt vào rồi nằm lì trong đó thì phạm tội sát sinh. Không những thế, các giáo sĩ đạo Jain mỗi năm phải nhập thất một lần trong suốt ba tháng hè, vì thời gian đó côn trùng sinh sản nhiều, nếu di chuyển sợ dẫm lên chúng.

Continue reading “Hành trình về phương đông – 04 – Trên đường thiên lý” »

tháng 8 27

Hành trình về phương đông – 03b – Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh bí truyền

Chương 3: Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh bí truyền
(phần 2)

Khi sinh ra đời, mỗi cá nhân đều mang sẵn một tài sản khác nhau, đó là Nghiệp Báo. Tài sản này có thể tốt đẹp do các nguyên nhân hợp với thiên ý hoặc xấu xa bởi các lỗi lầm trong tiền kiếp. Tất cả nguyên nhân này đều ẩn chứa trong Tàng thức hoặc A-lại-da-thức (alayavijnana), và trở thành động lực chi phối đời ta. Động lực này bị ảnh hưởng bởi các mãnh lực trong vũ trụ một cách vô cùng phức tạp và biến thành một thứ gọi là Tia vũ trụ (cosmic rays). Những Tia vũ trụ này không ồ ạt ảnh hưởng đến ta ngay, mà tùy theo sự thay đổi của tinh tú để phản chiếu xuống trần gian. Điều này rất hợp lý vì trải qua vô lượng kiếp sống, con người đã làm biết bao điều xấu xa, đâu thể nào trong vài ba kiếp mà trả hết được. Đó cũng là lý do con người cứ trầm luân trong luân hồi sinh tử. Chiêm tinh học nghiên cứu sự xê dịch, vận hành của tinh tú mà đoán biết được các ảnh hưởng đối với con người trong kiếp sống này. Nhờ nghiên cứu chiêm tinh mà người ta hiểu rõ rằng không hề có một đấng thần linh nào thưởng phạt hay kiểm soát các hành động của ta. Tất cả chỉ là hậu quả của những gì do ta tạo nên và ta phải gánh chịu.

- Nhưng chính ông đã đề cập đến Thượng đế và sự hiện hữu của ngài kia mà? Babu bật cười: – Các ông vẫn còn quan niệm rằng Thượng đế là một ông già ngồi trên cao nắm quyền sinh sát, định đoạt số phận con người – đó là một quan niệm rất ấu trĩ. Thượng đế cao cả hơn nhiều, ngài sáng tạo và đặt tất cả vào một trật tự trong vũ trụ. Làm gì có việc ngài định đoạt số phận từng người như các ông nghĩ. Tất cả diễn tiến theo luật vũ trụ, nhân nào quả nấy, bất cứ lực nào cũng có một phản lực đi kèm; đó là khoa vật lý chứ đâu phải gì xa lạ? Làm gì có việc số mệnh đã định sẵn, nếu thế ta cứ tiêu cực, bất động mặc cho số phận run rủi hay sao? Này các bạn, chiêm tinh học là một khoa học thực tiễn và tiến bộ, không thể có vấn đề mê tín. Lá số tử vi không có nghĩa rằng con người là nô lệ của quá khứ, mà nó cho ta thấy rõ sự tuần hoàn của vũ trụ, trong đó con người có thể thay đổi số mạng của mình.

Continue reading “Hành trình về phương đông – 03b – Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh bí truyền” »

tháng 8 26

Hành trình về phương đông – 03a – Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh bí truyền

Chương 3: Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh bí truyền
(phần 1)

Lawrence Keymakers là một người Anh giàu có, sống tại Benares nhiều năm. Ông làm chủ nhiều xí nghiệp lớn và có kiến thức rất rộng về xứ sở Ấn Độ. Thương gia Lawrence khoản đãi phái đoàn trong tòa biệt thự rộng, xây cất bên bờ sông Hằng.

Sau câu chuyện xã giao, giáo sư Allen lên tiếng: – Ông nghĩ sao về những điều người Ấn gọi là Minh Triết thiêng liêng và những sự kiện mê tín dị đoan xảy ra ngoài chợ? Lawrence lắc đầu: – Xứ này vẫn có những trò biểu diễn như thế, nhưng ngoài những cái mà ta cho là ảo thuật hoặc mê tín dị đoan còn ẩn náu những ý nghĩa tâm linh rất ít ai biết được. Muốn tìm hiểu phải nghiên cứu cặn kẽ chứ không thể kết luận vội vã…

Giáo sư Oliver bật cười: – Ông cho rằng những trò ngồi bàn đinh, thổi kèn gọi rắn còn ẩn giấu những ý nghĩa tâm linh hay sao? – Tùy tâm trạng của mình mà xét đoán sự kiện, nếu ta nhìn nó dưới cặp mắt của người Âu thì ta sẽ chỉ thấy nó là một trò múa rối không hơn không kém, nhưng nếu ta gạt bỏ các thành kiến, biết đâu ta chẳng học hỏi thêm được nhiều điều. Giáo sư Allen châm biếm: – Ông ởẤn đã lâu, chắc đã học hỏi được nhiều điều mới lạ…

Lawrence mỉm cười: – Đúng thế, tôi đã học hỏi rất nhiều và điều đầu tiên tôi học được là sự khiêm tốn. Chỉ có sự khiêm tốn mới giúp ta học hỏi thêm những điều mới lạ. Các bạn hãy nhìn ly nước đầy trên tay tôi đây, nếu tôi tiếp tục rót thêm thì nước sẽ tràn ra ngoài. Trừ khi tôi đổ bớt nước trong ly đi thì tôi mới rót thêm nước vào được. Kiến thức cũng thế, chỉ khi ta khiêm tốn gạt bỏ những thành kiến sẵn có, ta mới tiếp nhận thêm được những điều mới lạ. Các bạn muốn nghiên cứu học hỏi những minh triết của xứ Ấn, nhưng vẫn giữ thành kiến của người Âu, khinh bỉ mọi sự thì có khác chi ly nước đầy, làm sao rót thêm nước vào được nữa?

Continue reading “Hành trình về phương đông – 03a – Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh bí truyền” »

tháng 8 26

Hành trình về phương đông – 02 – Người đạo sĩ thành Benares

Chương 2: Người đạo sĩ thành Benares

Benares là một thành phố có nhiều di tích lịch sử và có rất nhiều tu sĩ. Bất cứ một người Âu Mỹ nào đến đây cũng ngạc nhiên về thành phố dân cư đông đúc, nhà cửa san sát và khắp nơi nhan nhản những đền thờ, lăng tẩm đồ sộ. Chúng ta cùng giáo sư Spalding du hành đến thành phố này, khám phá những điều lạ lùng trong đó.

Thành phố Benares là một nơi có nhiều di tích lịch sử và có rất nhiều tu sĩ. Bất cứ một người Âu Mỹ nào đến đây cũng ngạc nhiên về thành phố dân cư đông đúc, nhà cửa san sát và khắp nơi nhan nhản những đền thờ, lăng tẩm đồ sộ. Có những ngôi đền trông thì thật cổ kính, trang nghiêm nhưng khi bước vào trong bạn sẽ thấy gì? Một số tín đồ hành lễ ngây ngô vừa cầu nguyện, vừa rung một cái chuông nhỏ để lời cầu xin của họ thấu đến tai các vị thần. Một số khá đông đạo sĩ ngồi trong các tư thế yoga cực kỳ lạ lùng, khó tập luyện để tín đồ đến bỏ tiền vào trong cái bát nhỏ bày trước mặt họ. Chúng tôi có cảm tưởng như họ đang làm xiếc biễu diễn kiếm ăn hơn là thực hành một pháp môn tu hành chân chính.

Trong khi mọi người trong phái đoàn đang quay phim những đạo sĩ ngồi trên bàn đinh, các đền thờ to lớn, thì giáo sư Spalding thong thả đi dạo ngoài bờ sông. Ông nhìn thấy một đạo sĩ vóc người lực lưỡng đang đi gần đó. Như có một mãnh lực vô hình nào đó thúc đẩy, Spalding muốn vượt lên để nhìn cho rõ, ông bèn rẽ qua một lùm cây rậm rạp để bắt cho kịp vị đạo sĩ nọ. Vừa đi được vài bước, ông đã giật mình vì gặp một con rắn hổ mang to lớn chặn lối. Rắn hổ là một loại rắn cực độc, hàng năm có hàng ngàn người bị rắn cắn chết, vì ở xứ Ấn giống rắn này có nhiều vô kể, xuất hiện khắp nơi. Tiến thoái lưỡng nan, Spalding chưa biết phải làm gì thì con rắn đã trườn tới ngẩng cao cổ phun phì phì. Bất ngờ vị đạo sĩ ở đâu đi đến, im lặng bước thẳng vào giữa con rắn và giáo sư Spalding. Vị đạo sĩ giơ tay vuốt nhẹ, con rắn từ từ bò vào trong bụi rậm, mất hút trước sự ngạc nhiên của giáo sư Spalding.

Continue reading “Hành trình về phương đông – 02 – Người đạo sĩ thành Benares” »

tháng 8 25

Hành trình về phương Đông – 01 – Một người Ấn kỳ lạ

Chương 1: Một người Ấn lạ kỳ

Ấn Độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền với đời sống và trở thành một động lực rất mạnh làm chủ mọi sinh hoạt của người dân xứ này. Người Ấn thường tự hào rằng văn hóa của họ là một thứ văn minh tôn giáo và dân xứ này được thừa hưởng một kho tàng minh triết thiêng liêng không đâu có. Vì thế Hội Khoa học Hoàng gia đã bảo trợ cho phái đoàn chúng tôi đến Ấn Độ để nghiên cứu những hiện tượng huyền bí này.

Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn Độ từ Bombay đến Calcutta, thăm viếng hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng, phái đoàn vẫn không thỏa mãn hay học hỏi được điều gì mới lạ. Phần lớn các giáo sĩ chỉ lặp đi lặp lại những điều đã ghi chép trong kinh điển, thêm thắt vào đó những mê tín dị đoan, thần thánh hóa huyền thoại để đề cao văn hóa xứ họ. Đa số tu sĩ đều khoe khoang các địa vị, chức tước họ đã đạt. Vì không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai cũng xưng là chân sư (Rishi), sư tổ (Guru), hay đại đức (Swami), thậm chí có người xưng là thánh nhân giáng thế (Bhagwan). Ấn Độ giáo không có một chương trình đào tạo tu sĩ như Thiên Chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể vỗ ngực xưng danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu, mặc áo tu hành, xưng danh tước, địa vị để lôi cuốn tín đồ.

Continue reading “Hành trình về phương Đông – 01 – Một người Ấn kỳ lạ” »

Trang 1/8812345...102030...88