Tây Tạng huyền bí – 01 – thời thơ ấu

Nguyên tác “The Third Eye” của Lạt-ma Lobsang Rampa – Nguyễn Hữu Kiệt dịch, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính.

Chương 1: Thời thơ ấu

Thẳng tay quất vào đít con ngựa một ngọn roi da, không màng đến việc đầu ngọn roi cũng quất cả vào mông người kỵ sĩ tí hon bất đắc dĩ, ông Tzu nhổ luôn một bãi nước bọt xuống đất với vẻ khinh bỉ và nói giọng bực tức:

- Hừm! Hừm! Đã bốn tuổi rồi mà chưa ngồi vững trên lưng ngựa! Mày làm sao có thể trở nên một người dũng mãnh? Rồi đây cha mày còn dám nhìn mặt ai?

Những nóc nhọn và mái bầu bịt vàng của điện Potala chói sáng dưới ánh mặt trời nóng gắt. Gần bên chúng tôi, hồ sen trong vắt của ngôi đền Rắn dợn sóng lăn tăn. Đằng xa, trên con đường mòn gồ ghề đá sỏi, những khách lữ hành vừa rời khỏi thủ đô Lhasa1 cố gắng thúc giục những con bò Yak2 đi mau hơn, với những tiếng kêu inh ỏi.

Từ những đồng cỏ xanh kế cận vọng đến tai tôi những tiếng kèn khổng lồ do những nhà sư nhạc công thực tập thổi lên ở một nơi vắng vẻ. Nhưng tôi không có thời gian để ngắm nhìn những cảnh vật vẫn từng diễn ra hằng ngày mà tôi đã quen mắt nhàm tai. Công việc của tôi trong hiện tại – ôi, một công việc khó nhọc thay – là ngồi vững trên lưng ngựa, nói chính xác hơn là con lừa nhỏ bất kham của tôi.

Nhưng con lừa Nakkim lại có những ý nghĩ khác. Nó luôn muốn tách rời khỏi người kỵ sĩ tí hon là tôi để có thể tự do ăn cỏ, nằm lăn trên đất và chơi đùa một mình.

Ông Tzu là một ông thầy rất khó chịu. Suốt đời, ông luôn nghiêm khắc và khó tánh. Hiện tại, trong vai trò một võ sư quyền thuật và huấn luyện viên cưỡi ngựa cho một đứa trẻ lên bốn, ông thường tỏ ra bất mãn và nổi nóng hơn là kiên nhẫn.

Quê ông ở tỉnh Kham, thuộc miền đông Tây Tạng. Ông được chọn lựa cùng với vài người khác nhờ vóc dáng cao lớn và lực lưỡng. Những người có vóc cao hơn hai mét thường được tuyển làm người bảo vệ trong các tu viện. Họ mặc những chiếc áo dài có độn vai rất cao để trông có vẻ to lớn, lấy lọ bôi mặt để cho có vẻ hung tợn, và sử dụng những cây gậy to, dài để trừng phạt những kẻ xấu.

Continue reading “Tây Tạng huyền bí – 01 – thời thơ ấu” »

Hành trình về phương Đông – 01 – Một người Ấn kỳ lạ

Chương 1: Một người Ấn lạ kỳ

Ấn Độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền với đời sống và trở thành một động lực rất mạnh làm chủ mọi sinh hoạt của người dân xứ này. Người Ấn thường tự hào rằng văn hóa của họ là một thứ văn minh tôn giáo và dân xứ này được thừa hưởng một kho tàng minh triết thiêng liêng không đâu có. Vì thế Hội Khoa học Hoàng gia đã bảo trợ cho phái đoàn chúng tôi đến Ấn Độ để nghiên cứu những hiện tượng huyền bí này.

Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn Độ từ Bombay đến Calcutta, thăm viếng hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng, phái đoàn vẫn không thỏa mãn hay học hỏi được điều gì mới lạ. Phần lớn các giáo sĩ chỉ lặp đi lặp lại những điều đã ghi chép trong kinh điển, thêm thắt vào đó những mê tín dị đoan, thần thánh hóa huyền thoại để đề cao văn hóa xứ họ. Đa số tu sĩ đều khoe khoang các địa vị, chức tước họ đã đạt. Vì không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai cũng xưng là chân sư (Rishi), sư tổ (Guru), hay đại đức (Swami), thậm chí có người xưng là thánh nhân giáng thế (Bhagwan). Ấn Độ giáo không có một chương trình đào tạo tu sĩ như Thiên Chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể vỗ ngực xưng danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu, mặc áo tu hành, xưng danh tước, địa vị để lôi cuốn tín đồ.

Continue reading “Hành trình về phương Đông – 01 – Một người Ấn kỳ lạ” »

Y lý cơ bản

Ngũ tạng

Ngũ tạng là 5 cơ quan tàng trữ:

* tâm tàng thần
* phế tàng phách
* can tàng hồn
* tỳ tàng ý và trí
* thận tàng tinh và chí

TÂM :

a/ chủ thần minh
b/ chủ huyết mạch, ứng ở mặt
c/ quan hệ với lưỡi Continue reading “Y lý cơ bản” »

Thư của Isabelle Lechartier

Isabelle ở lâu đài Versailles (nguồn: Facebook)

Năm 2009, hồi còn ở Paris, San có tham gia khóa học 1 năm của GS. Denis Lafeuille về thực tiễn quản lý của nước Pháp dành cho các nghiên cứu sinh vùng Paris.

Trong khóa học, San đã viết và trình bày về “Dự án giáo dục dành cho sức khỏe: Giới thiệu Diện Chẩn của Việt Nam – Phương pháp y học cổ truyền mới của người Việt (Projet d’éducation pour la santé : introduction du Dien Chan au Vietnam – nouvelle médecine traditionnelle vietnamienne).

Trong một buổi trình bày, để mọi người thấy được giá trị giảm đau tức thời của Diện Chẩn, San đã hỏi một cách ngẫu nhiên xem trong lớp học có ai đang bị đau gì không. Chị Isabelle Lechartier, giờ cũng không còn nhớ là bị đau gì, đã rụt rè và lưỡng lự, chịu lên làm người mẫu cho mình “thí nghiệm”.

Không ngờ, đã 4 năm rồi mà chị ấy vẫn còn tìm lại được mình trên Facebook và viết thư hỏi về Diện Chẩn. Bức thư bằng tiếng Pháp được dịch ra như sau: Continue reading “Thư của Isabelle Lechartier” »

Nước gạo lức rang uống hàng ngày để thanh lọc gan

Phân tích của bác sĩ Renée Welhouse

Căn cứ vào xét nghiệm máu của một số bệnh nhân, bác sĩ Renée Welhouse thấy những bệnh nhân được thanh lọc gan bằng nước gạo lức có kết quả: máu rất sạch, hồng huyết cầu rất tròn và huyết thanh rất trong. Trong khi những bệnh nhân khác có kết quả: hồng huyết cầu méo mó, đầy những độc tố và ký sinh trùng (Parasites).

Bác sĩ Renée Welhouse kể lại: có một bệnh nhân nam có nhiều sạn mật nên phải mổ để cắt túi mật. Nhưng rồi lại phát hiện thấy gan của bệnh nhân này cũng có nhiều sạn, nên đã phải mổ gắp lấy sạn. Nhưng dẫu thế, da mặt và mắt của bệnh nhân cứ ngày càng vàng ra, sức khỏe ngày một giảm sút, người luôn thấy mệt mỏi và uể oải. Cuốì cùng, bệnh viện kết luận bệnh nhân ở trong tình trạng chai gan nặng, uống thuốc chỉ có thể cầm chừng. Nếu bệnh nhân chịu giải phẫu để cắt gan thì có hy vọng kéo dài thời gian sống hơn, nhưng cũng không bảo đảm sẽ khỏi hẳn. Thế là bệnh nhận đã quyết định từ chối giải phẫu.

Continue reading “Nước gạo lức rang uống hàng ngày để thanh lọc gan” »

tháng 5 27

Chìa khóa vạn năng

tháng 9 18

Từ Huệ – 02 – chấp bút Bí Pháp Luyện Đạo

Hiền tài Nguyễn văn Mới, đạo hiệu Từ Huệ, tốc ký viên của Đức Hộ Pháp.

NHỮNG BÀI THUYẾT ĐẠO

Lúc còn trẻ, Từ Huệ đã muốn đem sức mình làm một điều gì đó giúp đạo. Khi đi tham dự những buổi lễ trong đạo, Từ Huệ nhận thấy những bài diễn văn của các chức sắc cao cấp, nhất là những bài ứng khẩu thì không được ghi lại. Đặc biệt những bài thuyết đạo của Đức Hộ  Pháp là vô cùng quí báu bởi vì, chúng ta cũng đã biết, theo Tân Luật Pháp Chánh Truyền trong Tam Kỳ Phổ Độ, các chức vụ bên Cửu Trùng Đài có thể được công cử lên. Nghĩa là các phẩm từ Lễ Sanh cho đến Giáo Tông có thể được thay thế. Trái lại, bên Hiệp Thiên Đài không có luật công cử, Hộ Pháp chỉ giáng linh một lần duy nhất, không có chuyện “bầu cử” Hộ Pháp khác. Do vậy lời thuyết đạo của Hộ Pháp dành cho chúng sanh trong suốt thất ức niên chỉ có lần này là lần duy nhất. Với ý nghĩ đó Từ Huệ lập chí lưu lời nói của Ngài. Từ Huệ rủ một số bạn cùng chí hướng đi học tốc ký. Cũng nên biết, lúc bấy giờ chưa có những loại máy ghi âm hiện đại, cho nên tốc ký là cách duy nhất có thể ghi lại một bài nói chuyện. Sau đó Từ Huệ lập ra một ban tốc ký chuyên ghi lại lời thuyết đạo của Hộ Pháp cũng như các chức sắc cao cấp khác.

Ghi tốc ký cũng có khuyết điểm nhất định. Nếu diễn giả nói nhanh quá, hoặc diễn đạt một ý tưởng quá phức tạp khó hiểu, thì tốc ký viên có thể ghi không đầy đủ. Để khắc phục yếu điểm này, Từ Huệ cặm cụi nghiên cứu và sáng tạo một phương pháp ghi tốc ký nhanh hơn. Ngoài ra, mỗi khi ghi tốc ký đều phân công ít nhất là hai tốc ký viên để bổ sung cho nhau. Mỗi bài ghi xong đều được trình lên cho Đức Hộ Pháp xem lại trước khi đánh máy sao ra làm nhiều bản để lưu trữ. Từ Huệ và các bạn cùng nguyện lòng nếu sau này có cơ hội, sẽ cho in các bài thuyết đạo này ra cho các thế hệ đời sau học hỏi.

Continue reading “Từ Huệ – 02 – chấp bút Bí Pháp Luyện Đạo” »

tháng 9 18

Từ Huệ – 01 – Đạo Cao Đài

Từ Huệ (Nguyễn văn Mới) lúc còn trẻ.

TUỔI THƠ TỪ HUỆ

Có lẽ nên bắt đầu từ một cột mốc rất quan trọng trong cuộc đời của Từ Huệ: ấy là khi Đức Chí Tôn Thượng Đế giáng trong một đàn cơ phổ độ vào khoảng năm 1926. Trong giai đoạn lập đạo, Đức Chí Tôn dạy các đệ tử lập ra các cặp phò loan, đi về các tỉnh để tiếp nhận thêm đệ tử mới. Lúc ấy ông Nguyễn văn Lai, một Hương Cả ở làng Hiệp Phước, Nhà Bè, Gia Định có đến dự một đàn cơ tại chùa Gò Kén vì tò mò là chính. Trong lúc mọi người đang quì hầu đàn thì cơ giáng gọi Nguyễn văn Lai vào dạy việc. Ông Lai rất ngạc nhiên vì cả những vị phò loan lẫn những người trong đàn đều không biết ông. Khi ông Lai vào hầu, thì cơ giáng cho bài thơ sau:

Lai châu tiếng hạc gáy reo vang
Sao chẳng tỉnh mê giấc ngỡ ngàng
Năm lụn ngày qua thêm chất tuổi
Những là lỡ lính với lừa quan

(Ngày 14-Bính Dần – chùa Gò Kén – Tây Ninh,
Trích Đạo Sử quyển I – trang 67)

Kể từ ấy con người của ông Lai đổi khác. Ông bắt đầu sắp xếp chuyện làm ăn để dành nhiều thì giờ hơn cho việc học đạo. Ông đọc các sách vở có sẵn về tôn giáo, lo làm phước, giúp người nghèo. Nói chung, ông làm tất cả những gì mà người đời gọi là “tu”. Cuối cùng ông làm một việc quan trọng nhất cuộc đời mình: quyết định từ bỏ nhà cửa ruộng đất đang có để dời về thánh địa Tây Ninh. Ông nghĩ rằng về thánh địa sẽ có nhiều cơ hội hơn để học đạo và hành đạo.

Lúc bấy giờ, ông nuôi dưỡng hai người cháu nội mồ côi là Nguyễn văn Thới và Nguyễn văn Mới. Hai anh em Thới và Mới ăn cơm chay trong đền thánh, đi học Đạo Đức Học Đường. Nói tóm lại, Thới và Mới là những con người hoàn toàn do đạo nuôi dưỡng và dạy dỗ trong khi ông Lai dành trọn cuộc đời mình cho đạo.

Trong số hai đứa cháu nội của ông, cháu Mới đặc biệt học hành có nhiều triển vọng. Nhưng rồi bỗng đâu đất bằng nổi sóng! Một hôm, đến trước cổng trường, Mới ngỡ ngàng khi thấy trường đã bị người Pháp chiếm đóng. Lúc đó, người Pháp đã bắt Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và một số chức sắc cao cấp đày sang đảo Réunion. Toàn bộ cơ sở của đạo, kể cả Đền Thánh – lúc này đang xây dựng dở dang – đều bị chiếm giữ. Người Pháp quyết tâm dẹp bỏ những lực lượng yêu nước lúc bấy giờ đang nổi lên khắp nơi trong nước. Và dưới con mắt của họ, Đạo Cao Đài chỉ là một lực lượng nổi loạn chống lại Chính Quyền Bảo Hộ Pháp. Thậm chí họ còn gán cho đạo là theo Đức Quốc Xã bởi vì trên nóc Đền Thánh có chữ Vạn giống huy hiệu của Phát Xít Đức!

Continue reading “Từ Huệ – 01 – Đạo Cao Đài” »

tháng 9 18

Trần Đăng Khoa: thuốc quý đã có sẵn quanh ta

VOV.VN – Bệnh nào trời sinh ra, trời cũng cho thuốc trị. Những vị thuốc đơn giản ở ngay xung quanh ta lại có thể trị được cả bệnh ung thư.

Câu nói chắc như đinh đóng cột này không phải kết luận của một nhà khoa học hay một thầy thuốc lừng danh nào đó, mà lại là sự khẳng định của một bà nhà quê chân lấm tay bùn, đã ở tuổi 90, hầu như cả đời chẳng bao giờ bước chân ra khỏi làng. Bà cũng dị ứng luôn với cả giới khoa học. Cứ như lời bà thì dân có học chỉ là lũ mách qué, ăn no rửng mỡ rồi nói linh tinh. Không phải chỉ nói trong những buổi tuyên truyền vệ sinh dịch tễ ở xóm, ở phường, mà họ còn viết đầy cả lên mặt báo.

Thì đấy! Họ bảo hôn nhau là truyền sang nhau hàng triệu triệu con vi trùng. Khiếp! Thế chả nhẽ trước khi hôn nhau, người ta phải nhúng miệng vào nước sôi, đeo khẩu trang hoặc sát cồn và bôi I ốt ư? Ngày xưa, nuôi con, bà toàn nhai cơm rồi mớm cho chúng. Miếng cơm đỏ quạch quết trầu, thế mà, có thấy con vi trùng, virus nào đâu. Sáu đứa con bà lớn lên, ai cũng ùng ục như đô vật cả.

Cũng theo lời bà thì “giời sinh voi, giời ắt sẽ sinh cỏ”, rồi đâu cũng vào đấy tất. Bệnh tật nào giời sinh ra, giời cũng lại cho thuốc chữa trị. Thuốc đầy vườn kia kìa. Thuốc ở trong cây lá đấy. Thuốc đầy xung quanh ta, ở đâu cũng có. Chỉ con người mới ngu đần. Không ngu đần sao lại chết ngay bên đống thuốc?

Tưởng đó chỉ là chuyện tầm phào. Ai ngờ thật, giời ạ!

Cách đây cũng đã lâu, không biết ai đó đã gửi cho tôi một bài thuốc chữa ung thư. Một căn bệnh hiểm nghèo, cả thế giới còn đang bó tay mà cách chữa lại quá đơn giản, chỉ lấy lá đu đủ nấu uống như uống nước chè, thế mà lại khỏi bệnh. Người gửi cho tôi bài thuốc rất quý ấy lại không ghi tên. Bài thuốc như một cái đơn nặc danh, người nói không chịu trách nhiệm về những gì mình nói. Thế thì, làm sao mà có thể tin được?

Tôi không tin nhưng rồi cứ để đấy tham khảo. Như người ta nói, “có bệnh thì vái tứ phương”, đã vái khắp thiên hạ rồi thì vái thêm một cái nữa vào cõi mịt mù thì cũng đã sao? Tôi nghĩ thế và chuyển bài thuốc vu vơ ấy cho một số bạn bè, như một tư liệu tham khảo. Thế mà rồi bất ngờ, tôi nhận được mấy lời cảm ơn, không phải lời cảm ơn theo kiểu xã giao, mà “Cảm ơn anh. Bài thuốc đúng là thần dược. Nhà em chuyển bệnh rồi”. Có người lại còn hỏi tôi địa chỉ nhà để đến hậu tạ.

Gần đây nhất là nhà thơ Trương Hữu Lợi. Anh nhiều năm là Trưởng phòng Văn nghệ thiếu nhi (Đài TNVN), là tác giả của chuyên mục: “Kể chuyện và hát ru cho bé”. Trương Hữu Lợi bị ung thư phổi. Anh đã xạ trị, tóc cũng đã rụng hết. Bệnh ung thư phổi thường đi rất nhanh, nhiều người không trụ nổi ba tháng. Vậy mà nhà thơ đã qua 5 năm, tóc xanh mướt, da hồng hào.

Thật là một điều kỳ diệu!

Continue reading “Trần Đăng Khoa: thuốc quý đã có sẵn quanh ta” »

tháng 9 17

Bí pháp luyện đạo – 09 – thực hành luyện thần hườn hư

 

Bát Nương Diêu Trì Cung giáng bút
Từ Huệ chấp bút

Luyện thần hườn hư: phần thực hành

Luyện thần hườn hư là luyện đem chơn thần ra khỏi thể xác và đem chơn thần vào cõi vô vi, tức là đem điểm linh quang về với Đức Chí Tôn.

Đức Chí Tôn có nói: ”Cái xác thiêng liêng này khi còn ở xác phàm thì khó xuất ra lắm, vì nó bị xác phàm kéo níu. Cái chơn thần ấy của Thánh-Tiên-Phật thì huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nếu đắc đạo thì có thể xuất ngoại trước buổi chết mà vân du thiên ngoại. Duy chơn thần ấy mới đặng đến trước mặt Thầy.”

Trong 40 ngày luyện khí hóa thần, quan trọng là đưa khí âm dương từ óc qua Huyền quan khiếu (tức Huệ quang khiếu – con mắt thứ ba). Trong khoảng 10 ngày, không biết ngày nào Huyền quan khiếu mở ra. Nếu Huệ quang khiếu mở ra sớm thì tiếp phần luyện thần hườn hư ngay, không chờ đủ 10 ngày như đã ấn định. Tuy nhiên, nếu Huệ quang khiếu mở chậm, nghĩa là hết 10 ngày đưa âm dương khí từ óc qua Huệ quang khiếu mà Huệ quang khiếu chưa mở ra thì vẫn tiếp tục luyện thêm 10 ngày nữa. Sau khi hết 10 ngày nữa mà Huệ quang khiếu vẫn chưa mở ra, nghĩa là đủ 100 ngày nhập tịnh thì bắt buộc phải xuất tịnh, chờ cơ hội khác, chớ không được ở lại thêm một ngày nữa, dù một ngày cũng không được. Nhưng nếu 10 ngày sau cùng, Huệ quang khiếu mở ra, tức là chơn thần xuất ra được thì tiếp tục luyện qua 10 ngày luyện thần hườn hư. Như vậy là 110 ngày. Đây là trường hợp ngoại lệ.

Luyện thần hườn hư 10 ngày, mỗi ngày 30 phút: 15 phút luyện, 15 phút tịnh.

Trong 15 phút luyện, mở đầu cũng ngồi bán kiết già, làm dấu mật niệm Đức Chí Tôn, cầu xin Đức Chí Tôn thêm sức hiệp thần, cầu xin Đức Hộ Pháp trấn giữ Nê hườn cung. Rồi thì bắt đầu thở bụng, hít thở như phần luyện khí hóa thần. Hít vô cũng tâm niệm: mũi – đơn điền (bụng phình lên) – hỏa hầu – ót – óc – Huyền quan khiếu. Tới Huyền quang khiếu thì hết một hơi hít vô. Hết hít vô thì thở ra, thở ra thì bụng xẹp xuống. Một hơi đầu thì tâm niệm như vậy, nhưng mấy lần sau, chỉ niệm vắn tắt: mũi – Huyền quan khiếu. Mỗi hơi thở ra là một tâm niệm.

Nhiều khi chơn thần xuất ra trong 15 phút luyện, cũng có nhiều khi đến phần tịnh, chơn thần mới xuất ra. Cái khó là khi chơn thần xuất ra là bị xác phàm kéo níu. Bây giờ muốn cho xác phàm không kéo níu nữa, ta phải làm cho xác phàm ngủ quên đi. Luyện và tịnh làm cho xác phàm ngủ quên vậy.

Tịnh là bế hết ngũ giác quan, thở mà không nghe thở. Tâm ý tập trung lại, yên lặng cho tới mức không không. Không không cho thể xác ngủ quên. Khi thể xác ngủ quên trong cái yên lặng không không đó thì tự nhiên bốc lên một ánh sáng. Ánh sáng đó là chơn thần xuất ra. Khi chơn thần xuất ra thì thể xác cũng thức theo. Khi thể xác thức dậy thì có hai sự hiểu biết giống nhau: sự hiểu biết của thể xác và sự hiểu biết của chơn thần. Hiểu biết lẫn nhau để điều khiển lẫn nhau. Chơn thần muốn đi thì điều khiển thể xác. Thể xác muốn về thì điều khiển chơn thần. Điều khiển hổ tương như vậy để cho chơn thần đi ra mà không đi luôn, mà cũng để cho thể xác muốn xuất chơn thần lúc nào cũng được. Câu kinh:”tánh hiệp vô vi thống tam tài chi bí chỉ” là như vậy.

Luyện thần hườn hư là luyện cách làm cho chơn thần xuất ra bất cứ lúc nào ta muốn, và làm cho chơn thần đi thật xa mà trở lại dễ dàng. Được như vậy là luyện thần hườn hư đã thành công.

Continue reading “Bí pháp luyện đạo – 09 – thực hành luyện thần hườn hư” »

tháng 9 17

Bí pháp luyện đạo – 08 – thực hành luyện khí hóa thần

Bát Nương Diêu Trì Cung giáng bút
Từ Huệ chấp bút

Luyện khí hóa thần: phần thực hành

Khi thấy trong mình thơ thới nhẹ nhàng, thần trí mở mang, thể xác khỏe mạnh thì tiếp qua phần luyện khí hóa thần.

Thời gian 40 ngày, mỗi ngày 30 phút, 15 phút luyện, 15 phút tịnh.

20 ngày đầu đưa hơi thở từ hỏa hầu lên ót, 10 ngày kế tiếp đưa hơi thở từ ót vô óc, 10 ngày sau từ óc qua huyền qua khiếu.

Khi luyện cũng ngồi bán kiết già, làm dấu mật niệm Đức Chí Tôn, cầu xin Đức Chí Tôn thêm sức hiệp thần, cầu xin Đức Hộ Pháp trấn giữ Nê hườn cung. Xong, nhắm mắt lại, bắt đầu hít thở 180 cái. Các con phải nhớ: luyện thở bụng, tịnh thở phổi; luyện thì tâm niệm, tịnh thì không tâm niệm gì hết.

Bây giờ bắt đầu hít thở 180 cái. Hít vô thì tâm niệm: mũi – phổi – đơn điền – hỏa hầu – ót. Hơi thở đầu thì tâm niệm như vậy, còn mấy lần sau thì tâm niệm ngắn thôi (tâm niệm: mũi – ót), đồng thời bụng phình lên. Tới ót thì thôi, cũng vừa đủ một hơi hít vô. Hết hít thì thở ra, bụng xẹp xuống.

Chú ý: đưa hơi thở từ hỏa hầu lên ót, phải đưa trong hành tủy của xương sống, bởi vì trong hành tuỷ mới là nơi tập trung các đường kinh mạch, các dây thần kinh, các hệ thống liên lạc của ngũ giác quan từ các nơi lên óc.

Đưa hơi thở từ hỏa hầu lên ót là đưa âm dương khí lên ót, dự trữ lại ót đủ 20 ngày cho âm dương khí hoàn toàn đầy đủ mới đưa vô óc, và 10 ngày sau mới đưa qua huyền quan khiếu (con mắt thứ ba).

Tóm lại: 20 ngày từ hỏa hầu lên ót, 10 ngày từ ót vô óc, 10 ngày từ óc qua huyền quan khiếu, tất cả là 40 ngày của phần luyện khí hóa thần.

Continue reading “Bí pháp luyện đạo – 08 – thực hành luyện khí hóa thần” »

Trang 1/9312345...102030...93